Tạp chí âm nhạc

Góc vườn âm nhạc của RFI

  1. 4D AGO

    Hélène Rollès : Khi ca sĩ Pháp trở thành ngôi sao tại Trung Quốc

    Nhắc đến Hélène Rollès, giới yêu nhạc Pháp nghĩ tới ngay gương mặt nổi tiếng vào những năm 1990 nhờ hai loạt phim truyền hình nhiều tập « Premiers baisers » (Những nụ hôn đầu) và «Hélène et les Garçons » (Hélène và những anh bạn học). Thời gian gần đây, cô it còn xuất hiện trên truyền hình Pháp mà chủ yếu đi biểu diễn tại Trung Quốc, nơi giọng ca này vẫn được nhiều người mến mộ. Công chúng không khỏi ngạc nhiên khi khám phá rằng hơn ba thập niên sau khi thành danh tại Pháp, Hélène Rollès tiếp tục gặt hái nhiều thành công ở Hoa Lục, nhờ một lượng fan đông đảo, trung thành với cô ca sĩ người Pháp từ những năm 1990, thời Hélène đóng phim truyền hình và chuyên ghi âm những ca khúc nói về lứa tuổi học trò.  Tên tuổi của Hélène Rollès gần đây lại có cơ hội toả sáng nhân dịp Tết Nguyên đán, khi cô được mời biểu diễn cùng với nhiều ngôi sao quốc tế hồi trung tuần tháng Hai tại Bắc Kinh. Trong chương trình nhạc hội Gala mừng Xuân hôm 16/02/2026 của Đài Truyền hình Trung ương Trung Quốc (CMG), ban nhạc Westlife của Ai Len đã trình diễn nhạc phẩm nổi tiếng của nhóm là "My Love". Về phần mình, Hélène Rollès cùng với nam danh ca người Mỹ John Legend trình diễn ca khúc kinh điển "Beauty and the Beast" (Giai nhân và Quái thú), bài hát chủ đề của bộ phim hoạt hình cùng tên. Bản song ca gốc là của Céline Dion với Peabo Bryson. Phiên bản ghi âm thứ nhì là của Ariana Grande với John Legend. Còn phiên bản gần đây nhất  được Hélène Rollès song ca trực tiếp với John Legend trên sân khấu trước hàng trăm triệu khán giả truyền hình và sau đó theo trang thông tin PureMedias đoan video này đã thu hút hơn 24 tỷ lượt xem trên các mạng xã hội.  Sinh trưởng tại thành phố Le Mans, Hélène Rollès (1966) vào nghề đóng phim truyền hình khá sớm và cô thành công trong thời gian đầu nhờ ghi âm những ca khúc chủ đề cho các bộ phim nhiều tập. Lần đầu tiên, Hélène Rollès đến Trung Quốc biểu diễn là vào mùa xuân năm 1990, cùng với Dorothée rất nổi tiếng ở Pháp với chương trình giải trí dành cho thiếu nhi Câu lạc bộ Dorothée (Club Dorothée). Trong giai đoạn này, Hélène chủ yếu  thu âm những bài hát cho các bộ phim hoạt hình, ban đầu được chiếu thứ tư hàng tuần trên kênh hai, rồi sau do hầu như vào môi buổi chiều trên kênh một.  Vào cuối năm 1991, khi được chọn vào vai diễn Hélène Girard, trong loạt phim (Premiers Baisers) Những nu hôn dâu/ rồi sau đó là "Hélène và những anh bạn học (Hélène et les Garçons) cô đã nhanh chóng gặt hái được nhiều thành công. Trong giai đoạn cưc thinh từ năm 1992 đến năm 1996,  loạt phim này thu hút 6,5 triệu người xem mỗi buổi tối.  Trên đà thành công của bộ phim truyền hình, Hélène ghi âm nhiều bài hát ăn khách, trong đó có các bản nhạc phim nhiều tập.  Sự nghiệp của cô càng lên đỉnh cao vào mùa thu năm 1993 khi Hélène Rollès cho ra mắt album phòng thu thứ ba của mình với tựa đề "Je m'appelle Hélène", bán được gần một triệu bản trên thị trường Pháp, riêng ca khúc chủ đạo cùng tên lọt vào Top Ten trong vòng nhiều tháng liên tục và cho đến nay vẫn là ca khúc thành công nhất của Hélène.  Sau một thập niên thành công vang dội, sự nghiệp của Hélène Rollès bắt đầu có dấu hiệu lu mờ vào đầu  những năm 2000. Cô dần dần xa lánh làng giải trí tai Pháp, lập gia đình và nhận hai đứa con nuôi. Cô giữ cho mình một đời sống riêng tư kín đáo, nhưng vẫn duy trì quan hệ với công đồng người hâm mộ qua việc tham gia các show truyền hình hay các đợt lưu diễn ở nước ngoài. Chính cũng vì cô có một lượng người hâm mô đông đảo ở Trung Quốc, cho nên Hélène từng ghi âm lại một số ca khúc tiếng Quan thoại , chủ yếu cho thị trường Hoa Lục, trong đó có nhạc phẩm "The Moon represents My Heart", tựa tiếng Việt là "Ánh trăng lẻ loi".  Cũng như nam ca sĩ Christophe Rippert thành danh nhờ phim truyền hình, Hélène Garçons tính đến nay đa cho ra mắt 10 album phòng thu, trong đó, những ca khúc ăn khách nhất là những bản ghi âm vào thập niên 1990 từng được phóng tác sang nhiều ngôn ngữ. Chẳng hạn như giai diệu "Je m'appelle Hélène" được ca sĩ Kỳ Duyên chuyển sang lời Việt thành nhạc phẩm "Người tôi yêu", còn bài hát "Amour Secret" hiểu theo nghĩa Tình yêu thầm kín lại được tác giả Khúc Lan đặt thêm lời thành nhạc phẩm "Thoáng dấu yêu".  Gió về cho buốt giá, nhạt nhoà mùa thu xa, cho nắng quên chan hoà, tình đến rồi vội qua.  Về đâu dấu yêu xưa, cho hồn buồn một thoáng, đời mãi sầu nhẹ đưa, kiếp người hoài gió mưa .....

    9 min
  2. FEB 28

    Nhạc ngoại lời Việt : Giai điệu "Tình vẫn thiết tha" do ai sáng tác?

    Lần đầu tiên thoáng nghe nhạc phẩm "Porque Yo te amo" có nghĩa là Vì ta yêu em (tựa đề tiếng Anh là How I love You), giới yêu nhạc Pháp nghĩ đến ngay một bài hát ăn khách của Aznavour. Cả hai giai điệu có nhiều nét gần giống nhau và bài hát tiếng Tây Ban Nha từng được chuyển sang lời Việt thành nhạc phẩm "Tình vẫn thiết tha". Trong nguyên tác, bản nhạc  này do Oscar Anderle sáng tác vào năm 1968 cho nam danh ca Sandro (1945-2010). Sinh thời, Sandro là một ca sĩ kiêm diễn viên nổi tiếng ở Achentina. Ông được xem là một trong những nghệ sĩ đầu tiên hát nhạc pop-rock bằng tiếng Tây Ban Nha ở châu Mỹ La Tinh. Tên thật là Roberto Ocampo, Sandro xuất thân từ một gia đình nhập cư gốc Tây Ban Nha. Sinh trưởng ở vùng ngoại ô nghèo phía nam thủ đô Buenos Aires, Sandro từ thời còn nhỏ mê nghe nhạc rock đến từ Hoa Kỳ. Cũng như bao thiếu niên mới lớn vào thời bấy giờ, Sandro rất ngưỡng mộ ông hoàng nhạc rock (người Mỹ) Elvis Presley. Thời còn ở trung học, Sandro hay bắt chước thần tượng của mình khi hát lại các bản nhạc của ông hoàng Elvis. Nhờ vào phong cách biểu diễn bốc lửa ấy, Sandro thành danh vào những năm 1960 với ban nhạc Los de Fuego, nhưng nhóm này thay vì phóng tác các bản nhạc tiếng Anh giống như phong trào nhạc trẻ ở Pháp, lại chủ yếu trình bày các bản nhạc gốc bằng tiếng Tây Ban Nha. Cũng từ đó Sandro được mệnh danh là Elvis của Achentina hay là Sandro de América (Sandro của châu Mỹ). Nhiều năm sau đó, sau khi đã thành danh tại Nam Mỹ, Sandro mới có dịp đi xem ông hoàng Elvis biểu diễn từ hàng ghế đầu trên sân khấu Boston Garden. Sau khi chia tay với ban nhạc rock Los de Fuego, Sandro ký hợp đồng ghi âm solo với hãng đĩa CBS. Qua việc hợp tác với nhà sản xuất kiêm giám đốc nghệ thuật Héctor Techeiro,  Sandro đã thực hiện những album phòng thu hay nhất của mình trong đó có bao gồm La Magia de Sandro, Sandro de América, Una Muchacha y Una Guitarra. Quan hệ nghề nghiệp này giúp Sandro thành công trong việc chuyển đổi hình ảnh và chọn đúng con đường nghệ thuật. Điều này được thể hiện trên album thứ tư "Alma y fuego" (linh hồn và ngọn lửa) mà Sandro đã thu âm vào cuối năm 1966, album này đánh dấu một sự chuyển hướng rõ ràng, từ nhạc rock chuyển sang các nhịp điệu La Tinh hơn. Một lần nữa, Sandro đạt được thành công trên thị trường quốc tế, chinh phục các cộng đồng nói tiếng Tây Ban Nha, khi album được phát hành tại Hoa Kỳ. Đó cũng là giai đoạn Sandro đồng hành với nhà soạn nhạc Oscar Anderle. Cặp bài trùng này chuyên sáng tác các bản slow rock và noi gương ông hoàng Elvis, tuy đến từ nhạc rock, nhưng Sandro cũng có tài nâng các giai điệu lãng mạn trữ tình lên một tầm cao mới. Trong số những tình khúc ăn khách của Sandro, có các bản nhạc phim "Quiero llenarme de ti, Puerto sin Amor" và nhất là "Porque yo te amo". Bài này từng thành công trên thị trường quốc tế với phiên bản tiếng Anh "How I love You" qua giọng ca người Anh Engelbert. Trong tiếng Việt, bài này từng được tác giả Khúc Lan chuyển thành nhạc phẩm "Tình vẫn thiết tha" do nam danh ca Tuấn Ngọc trình bày. Trả lời câu hỏi ai đã sáng tác nhạc phẩm "Porque Yo te Amo" có thể nói Aznavour mới chính là người đã soạn giai điệu. Giới yêu nhạc khi nghe lại giai điệu này sẽ cảm nhận có khá nhiều nét gần giống với nhạc của Aznavour. Khi đối chiếu các bài hát, ta sẽ thấy những câu mở đầu phiên khúc giống như bài "Bon anniversaire" (Sinh nhật ngày cưới) năm 1963, trong khi phần điệp khúc lại gần giống với bản "Hier Encore" (Mới hôm qua) năm 1964.  Do cả hai bài này đều từng ăn khách trước đó qua giọng ca Aznavour, có thể nói rằng cặp bài trùng Sandro và Oscar Anderle đã gợi hứng khá nhiều từ bậc đàn anh người Pháp gốc Armenia, ghép hai giai điệu của Aznavour thành một bài ca, tiết tấu nồng thắm chan hòa, nhạc tình sâu đậm thiết tha.

    9 min
  3. FEB 21

    Nhạc Pháp lời Việt : François Feldman, nguyên bản và phóng tác « Lời tình cho anh »

    Nhắc đến François Feldman, giới yêu nhạc Pháp nghĩ tới ngay những ca khúc của anh được dịch sang tiếng Việt, trong đó có nhạc phẩm « J'aurais voulu te dire » (Lời ta muốn nói), nguyên là ca khúc chủ đề album phòng thu thứ sáu của ca sĩ kiêm tác giả người Pháp. Được phát hành dưới dạng song ca, bản nhạc này ăn khách trên thị trường Pháp vào năm 1997 và từng được đặt thêm lời Việt thành giai điệu « Lời tình cho anh ». Tuy là đồng tác giả bản nhạc gốc, nhưng François Feldman không phải là người đầu tiên ghi âm bài hát này. Giai điệu « Lời tình cho anh » thật ra đã thành công gần một thập niên trước đó, vào năm 1988, qua phần trình bày của cô ca sĩ trẻ tuổi người Pháp Caroline Legrand. Sinh trưởng tại vùng ngoại ô Paris, Caroline Legrand từ thời còn nhỏ, đã nuôi mộng trở thành nghệ sĩ. Cô học múa học đàn từ năm lên 6, rồi vào nghề biểu diễn sân khấu từ năm lên 10. Thời gian đầu, cô tham gia các chương trình thiếu nhi, xuất hiện trong nhiều video clip ca nhạc. Vào nghề ca hát khá sớm, Caroline Legrand có cơ hội ghi âm đĩa đơn đầu tay vào năm 13 tuổi (ca khúc thiếu nhi Cool Raoul, Relax Max) nhưng mãi đến năm 18 tuổi, cô mới gặt hái được thành công đầu tiên trên thị trường đĩa hát vào năm 1988 sau khi gặp nam danh ca François Feldman. Theo lời kể của chính tác giả, hai người gặp nhau nhân một cuộc thi hát tổ chức trong hộp đêm L'Orange Bleue, gần khu phố Champs Élysées, ở Paris.  Lúc bấy giờ, François Feldman chỉ là khán giả chứ không phải là giám khảo cuộc thi, nhưng giọng hát của Caroline đã làm cho anh cảm thấy thích thú say mê. Trong đêm hôm ấy, Caroline đi cùng với song thân và chính mẹ cô, khi được giới thiệu với François Feldman, mới nhờ tác giả này soạn nhạc cho cô con gái. Vào thời ấy, François Feldman đang thành công lớn tại Pháp, hai album phòng thu đầu tiên của anh đạt mức đĩa kim cuong, bán được hơn một triệu bản. Do khá bân rộn với việc thực hiện album mới cho nên mãi đến sáu tháng sau, François Feldman mới gọi lại cho Caroline, đề nghị cô ghi âm bản nhạc « J'aurais voulu te dire » (Lời ta muốn nói). Khi được phát hành vào mùa thu năm 1988, bài hát này ăn khách nhanh chóng trên thị trường Pháp, và sau đó thành công tại Canada, khi được ca sĩ vùng Québec (Johanne Blouin) ghi âm một phiên bản thứ nhì. Vào mùa xuân năm 1989, giọng ca của Caroline Legrand lọt vào Top Ten, thành công trong nhiều tuần liên tục trên bảng xếp hạng thi trường Pháp. Nhân kỳ liên hoan ca nhạc Bordeaux, cô đã nhận được giải thưởng dành cho đĩa đơn đầu tay hay nhất. Nhờ vào bước khởi đầu đầy hứa hẹn này, Caroline Legrand sau đó có thêm cơ hội hợp tác với hai tác giả quan trọng là Vincent Marie Bouvot vào năm 1992 (chuyên soạn nhạc cho Elsa hay Julie Pietri) và nhất là vào năm 1996 với Didier Barbelivien, tác giả của hơn hai ngàn bài hát tiếng Pháp, cho dù không có đĩa đơn nào trong những năm 1990, thành công bằng sáng tác của François Feldman. Nhạc phẩm « J'aurais voulu te dire » (Lời ta muốn nói) gần một thập niên sau đó đã được chính tác giả François Feldman ghi âm lại làm ca khúc chủ đạo, cho album phòng thu thứ sáu mang tựa đề « Couleurs d'origine » (Màu sắc nguyên bản). Trong tiếng Việt, giai điệu này từng được tác giả Khúc Lan chuyển thành nhạc phẩm « Lời tình cho anh » qua phần trình bày của Ngọc Huệ. Cũng trên album phòng thu thứ sáu của François Feldman, bài hát thứ nhì phát hành trên đĩa đơn là nhạc phẩm « Évadée du volcan » (Thoát khỏi núi lửa). Bản nhạc này sau đó cũng có thêm lời Việt là « Tình buồn chinh chiến » lời Việt của tác giả Ngọc Thảo qua phần ghi âm của nam ca sĩ Don Hồ. Riêng đối với nam ca sĩ kiêm tác giả François Feldman, hai bản nhạc này khép lại một thập niên sự nghiệp huy hoàng. Lắng nghe cánh đom đóm tàn đêm, trú mưa giữa bóng tối êm đềm, thầm mong bao giấc mơ sắp đến, ước gì kể câu chuyện dịu êm. Người đi cho lòng hết ham muốn, nhạt phai rồi mật ngọt mùi hương, phía đông vườn địa đàng héo muộn, cho đau thương ngập lối tâm hồn …..

    9 min
  4. FEB 16

    Nhạc Xuân lời Việt : Từ giai điệu "Phiên chợ Ba Tư" thành bài Xuân ca

    Dòng nhạc cổ điển phương Tây đã khai sinh nhiều trào lưu sáng tác quan trọng đầu thế kỷ XIX. Trong số đó có trường phái « Light Classical Music », tuy gọi là nhạc nhẹ, không nghiêm túc bằng dòng nhạc cổ điển, nhưng cấu trúc vẫn gợi hứng từ các bản giao hưởng hàn lâm. Một trong những giai điệu nổi tiếng của dòng nhạc Light Music là tác phẩm « In a Persian market» (Phiên chợ Ba Tư), từng được chuyển sang lời Việt thành « Dưới ánh nắng mùa xuân ». Trong nguyên tác, giai điệu « In a Persian market» (Phiên chợ Ba Tư) là của nhạc sĩ người Anh Albert William Ketèlbey (1875-1959), trở nên thịnh hành trên thế giới ngay sau khi được sáng tác vào đầu những năm 1920. Nhạc phẩm này được nhà xuất bản Bosworth phát hành lần đầu tiên tại Vương quốc Anh vào năm 1921. Tại Việt Nam trước năm 1975, giai điệu này từng được nhạc sĩ Phạm Duy phóng tác thành nhạc phẩm « Phiên chợ Ba Tư», dựa trên bản tiếng Pháp « Sur un marché persan ». Ngoài ra còn có một bản phóng tác khác, do nhạc sĩ Duy Thoáng soạn lời Việt cho vở nhạc kịch  «Ngày xửa ngày xưa : Aladdin và đủ thứ thần» qua phần thể hiện của các nghệ sĩ Thành Lộc (thần nhẫn), Bạch Long (thần đèn) và Đại Nghĩa (thần ve chai) ….. Về mặt nội dung, tác phẩm « Phiên chợ Ba Tư » (In a Persian Market) là một tổ khúc tương đối ngắn so với các bản giao hưởng cổ điển, chỉ vỏn vẹn có 7 phút nhưng lại thể hiện một cách khéo léo khung cảnh đặc sắc của một phiên chợ ở vùng Trung Đông. Có thể nói giai điệu này là một bức tranh minh họa đầy màu sắc, mọi chi tiết được diễn tả bằng âm thanh : từ đoạn nhạc mở đầu mô tả đoàn người lái buôn dẫn bầy lạc đà, bước đi từ xa nhè nhẹ, khi cả đoàn vào trong thành phố, âm thanh bỗng dưng lớn dần ngay giữa phiên chợ ồn ào, huyên náo. Qua việc xen kẽ các nhạc cụ phương Tây với âm thanh phương Đông, khúc nhạc mô tả tài tình tiếng chào hàng mua bán, khúc hát của nhóm người khất thực, kẻ thổi sáo dụ rắn, điệu nhảy của những người tung hứng ….. Âm thanh ở đây có sức mạnh tượng hình, gieo vào tâm trí người nghe nhiều hình ảnh như đang xem phim mà không cần đến nhiều sức tưởng tượng. Độc đáo nhất vẫn là những tiết nhạc đối lập : khúc mở đầu dồn dập sống động trong phiên chợ náo nhiệt, rồi khúc nhạc dần lắng dịu để mô tả một cách nhẹ nhàng cảnh tượng nàng công chúa ngồi trên kiệu vào chợ, vẻ đẹp mặn mà kiêu sa, theo tiếng hạc cầm bay bổng thướt tha ….. Do « Phiên chợ Ba Tư » hòa quyện nhiều tiết nhạc đối lập, cho nên sau đó đã được các tác giả nhạc phổ thông phóng tác thành nhiều bản nhạc pop khác nhau. Đoạn nhạc tả cảnh nàng công chúa ngồi trên kiệu vào chợ từng được tác giả người Pháp Serge Gainsbourg chuyển thể vào năm 1977 thành nhạc phẩm « My Lady Heroin ». Vài năm trước đó, ca sĩ người Mỹ Jacky James từng phóng tác giai điệu này thành nhạc phẩm « Take my heart » (Hãy lấy trọn tim ta). Bài này từng ăn khách trên thị trường quốc tế vào năm 1973. Còn khúc nhạc mô tả phiên chợ huyên náo từng được nhóm nhạc của Jeff Christie chuyển thành ca khúc « Yellow River », cách hòa âm khiến cho nhiều người tưởng lầm đây là một khúc nhạc đồng quê của Mỹ. Nam danh ca Joe Dassin gốc Mỹ hát tiếng Pháp khi được nghe bài này mới có ý dinh chuyển sang tiếng Pháp thành nhạc phẩm « L'Amérique », nói về khát vọng đổi đời. Bản nhạc trong tiếng Anh sau đó còn có thêm nhiều bản phóng tác khác trong 12 ngôn ngữ. Còn trong tiếng Việt, bài này từng được tác giả Quang Nhật đặt thêm lời thành nhạc phẩm « Dưới ánh nắng mùa xuân » (còn có nơi ghi chép là Dưới ánh nắng hồng) qua phần thể hiện của ca sĩ Ngọc Huệ, lời tiếng Việt không có liên quan gì với nội dung của khúc nhạc nguyên tác. Giai điệu « Phiên chợ Ba Tư » tràn đầy những hình ảnh sinh động, âm thanh lung linh sắc màu, nên dễ thu hút giới yêu nhạc ngay từ những giây phút đầu. Nét quyến rũ kỳ lạ ấy, như thể có ma lực, không phải bản giao hưởng cổ điển nào cũng có, « Phiên chợ Ba Tư » cho dù không cần lời nhưng vẫn có sức cuốn hút tuyệt vời, nên tiếp tục làm say đắm, con tim của nhiều người yêu nhạc ở mọi thời.

    9 min
  5. FEB 14

    Nghe lại những bản nhạc tình nhân mùa Valentine

    Valentine's Day Golden Hits là tựa đề danh sách các tình khúc chọn lọc phát hành trên nền tảng Deezer nhân mùa lễ tình yêu. Những bản nhạc một thời vang bóng nay được phổ biến lại trên mạng như L.o.v.e (Tình viết từng chữ) của Nat King Cole, You're my everything (Em là tất cả) của Santa Esmeralda, The end of the world (Ngày thế giới không còn) dưới dạng liên khúc hay là Crazy (Tình si) của Willie Nelson. Về giai thoại "Crazy", bản nhạc này ăn khách lần đầu tiên vào năm 1961 qua giọng ca của Patsy Cline, rồi sau đó ra đời hàng trăm bản ghi âm khác, nhưng tác giả bài hát này chính là Willie Nelson. Vào thời bấy giờ, ông là một ca sĩ nhạc đồng quê (country) chưa nổi tiếng. Thời buổi khó khăn, ông làm đủ mọi nghề để kiếm sống.  Trả lời phỏng vấn trong chương trình Storytellers trên kênh VH1, ca sĩ kiêm tác giả Willie Nelson tiết lộ rằng ban đầu ông đã tìm cách bán bản nhạc này cùng với một số sáng tác khác của mình cho nam ca sĩ Larry Butler, với giá 10 đô la cho mỗi bài hát. Nhưng rốt cuộc, Larry Butler đã từ chối. Do vậy, bản nhạc này mới được gửi cho Patsy Cline. Mặc dù ban đầu Patsy không thích bản nhạc "Crazy", nhưng may mắn thay, chồng của cô là Charlie Dick và nhà sản xuất Owen Bradley đều cảm nhận được tiềm năng thương mại của bài hát này, cho nên họ đã thuyết phục cô thu âm bản nhạc. Nhờ chất giọng mượt trầm nồng ấm contralto của Patsy Cline, giai điệu này trở thành một bản hit lớn vào năm 1961. Đang trên đỉnh thành công, Patsy Cline lại đột ngột qua đời do tai nạn máy bay hai năm sau đó (1963) ở tuổi 30, khép lại một sự nghiệp huy hoàng dù ngắn ngủi, tính từ năm 1957 với thành công của bản nhạc "Walking after midnight". Giai điệu "Crazy" là bài hát nổi tiếng nhất của Patsy Cline, đồng thời tạo bước đột phá quan trọng trong sự nghiệp sáng tác của Willie Nelson. Ông thành danh trong làng nhạc country Hoa Kỳ từ giữa thập niên 1960 trở đi. Tuy sự nghiệp không được dài, Patsy Cline đã mở đường cho nhiều giọng ca nữ trong lãnh vực nhạc đồng quê. Do vậy, mười năm sau  ngày qua đời, cô là nữ nghệ sĩ đầu tiên được tôn vinh vào năm 1973 tại Đại sảnh Danh Vọng nhạc Đồng quê (Country Music Hall of Fame). Vào năm 2002, Patsy Cline cũng về đầu danh sách 40 giọng ca nữ xuất sắc nhất trong làng nhạc đồng quê (The 40 Greatest Women of Country Music). Trên thị trường quốc tế, đã có khá nhiều nghệ sĩ nổi tiếng từng ghi âm lại ca khúc này, theo phong cách jazz có Norah Jones và Diana Krall (2003), theo lối hoà âm nhạc pop có BJ Thomas hay Julio Iglesias (1994), còn thuần chất country thì có phiên bản của LeAnn Rimes từng ăn khách trên thị trường Anh-Mỹ. Về phần Willie Nelson, ông đã từng song ca bài này với nhiều nghệ sĩ trứ danh như Johnny Cash vào năm 1998,  Paul Anka năm 2013 và gần đây hơn là với Michael Buble vào năm 2022. Trong vòng hơn nửa thế kỷ qua, nhạc phẩm "Crazy" đã có hơn 500 phiên bản khác nhau, ghi âm trong 9 ngôn ngữ. Riêng trong tiếng Việt, bài này có ba lời khác nhau. Lời thứ nhất là nhạc phẩm "Si tình" của tác giả Khúc Lan qua giọng ca Sĩ Phú. Lời thứ nhì là nhạc phẩm "Lệ tình" để tên tác giả Lan Anh qua phần ghi âm của nghệ sĩ Thiên Phú. Lời thứ ba là nhạc phẩm "Tình Si" của tác giả Nguyễn Hoàng Đô qua phần trình bày của hai ca sĩ Vĩnh Yên và Phát Đạt. Theo chính lời kể của Willie Nelson, tựa đề ban đầu của bài hát là "Stupid", nhưng sau đó ông lại đổi tựa thành "Crazy", nhẹ nhàng hơn trong cách phát âm nhả chữ, nhưng lời hát vẫn có cùng một ý tứ : Cho dù đã hết tuổi ngây thơ, khi yêu, ai lại chẳng mù quáng đến ngốc nghếch, dại khờ.

    10 min
  6. FEB 7

    Nhạc ngoại lời Việt : Giai thoại tình khúc « Trọn đời bên anh »

    Hiếm khi nào, một bài hát tiếng Ý đoạt cùng lúc hai giải thưởng lớn tại châu Âu, để rồi trở thành một trong những ca khúc ăn khách nhất thị trường quốc tế. Đó là trường hợp của nhạc phẩm « Non ho l'età » (per amarti) hiểu theo nghĩa chưa đến tuổi yêu người, từng được phóng tác sang tiếng Việt thành nhạc phẩm « Trọn đời bên anh ». Do hai nhạc sĩ Nicola Salerno và Mario Panzeri đồng sáng tác, nhạc phẩm « Non ho l'età (per amarti) » từng được đưa đi tranh giải tại liên hoan ca khúc tiếng Ý, tổ chức tại thành phố Sanremo vào năm 1964. Vào thời bấy giờ, bài hát được cô ca sĩ Gigliola Cinquetti, khi đó mới 16 tuổi, trình diễn trực tiếp trên sân khấu đài truyền hình Ý (RAI). Còn phiên bản tiếng Pháp "Je suis à toi" (Em thuộc về anh) do ca sĩ người Ý gốc Bỉ Patricia Carli viết lời và ghi âm. Theo thông lệ, người đoạt giải nhất liên hoan ca khúc tiếng Ý San Remo (còn được gọi là Festival della Canzone Italiana ra đời vào năm 1951) thường được quyền ưu tiên đại diện chonước Ý nhân cuộc thi hát truyền hình châu Âu Eurovision Song Contest diễn ra vài tháng sau đó. Bất ngờ thay, bài hát tiếngÝ « Non ho l'età » giành lấy thêm giải đầu cuộc thi hát châu Âu cùng năm (1964) ở Copenhagen, thủ đô Đan Mạch. Ca sĩ người Ý Gigliola Cinquetti trở thành người thắng giải trẻ tuổi nhất trong lịch sử cuộc thi, mở đường cho nhiều giọng ca trẻ khác như France Gall đoạt giải Eurovision một năm sau (1965) với nhạc phẩm « Poupée de cire, poupée de son » (Búp bê không tình yêu). Mãi đến năm 1986, kỷ lục này mới được cô ca sĩ người Bỉ Sandra Kim phá vỡ do cô đoạt giải Eurovision với nhạc phẩm "J'aime la vie" ở tuổi13.  Gần đây hơn, chi có nhóm nhạc rock người Ý Maneskin mới lặp lại thành tích này vào năm 2021, khi giành lấy cùng lúc giải nhất tại liên hoan San Remo và tại cuộc thi hát Eurovision. Nhờ hai giải thưởng này, nhạc phẩm « Non ho l'età » (per amarti) sau đó đã đứng đầu bảng xếp hạng ở nhiều nước châu Âu. Bài hát được chuyển lời sang 10 ngôn ngữ khác nhau. Phiên bản tiếng Anh là « This is my prayer ». Bài này sau đó được ông hoàng Elvis ghi âm với một tựa đề khác là « Please don't stop loving me ». Riêng trong tiếng Pháp, Patricia Carli (đồng tác giả sau này của bài Mưa trên biển vắng) ghi âm bản nhạc này trong tiếng Pháp với tựa đề « Je suis à toi » (Em thuộc về Anh). Có lẽ cũng vì Patricia là người gốc Ý cho nên trong sự nghiệp ca hát, cô thường hay chọn phóng tác những lời ca gần gũi nhất với mình.  Còn trong tiếng Việt, bản nhạc từng được nữ ca sĩ Julie đặt thêm lời thành giai điệu « Trọn đời bên anh » chủ yếu dựa vào phiên bản tiếng Pháp hơn là nguyên tác tiếngÝ. Dù gì đi nữa, hiếm khi nào một giai điệu tiếng Ý lại thành công rực rỡ như vậy, trong nửa thế kỷ gần đây, số bài hát đoạt cả hai giải thưởng này, có thể được đếm trên đầu ngón tay.

    9 min
  7. JAN 31

    Nhạc ngoại lời Việt : 40 năm giai thoại The Lady in Red

    Tên tuổi của Chris de Burgh gắn liền với bản nhạc nổi tiếng « The Lady in Red », phát hành lần đầu tiên cách đây bốn thập niên (1986). Ngay cả những nhà phê bình không thích các bản nhạc slow rock cũng phải công nhận rằng Chris de Burgh đã sáng tác một giai điệu sau bao năm vẫn chưa lỗi thời, cho dù các trào lưu âm nhạc không ngừng thay đổi. Vào thời điểm Chris de Burgh cho ra mắt nhạc phẩm « The Lady in Red »(Giai nhân áo đỏ), tác giả này đã có hơn 10 năm tay nghề. Sinh ra ở Achentina nhưng lớn lên ở Ai Len, Chris de Burgh không nối nghiệp thân phụ là một viên chức ngoại giao, mà lại chọn nghề thu âm sáng tác. Ông đã phát hành album đầu tiên của mình vào năm 1974, đạt vị trí quán quân bảng xếp hạng thị trường Ai Len với  đĩa đơn  « A Spaceman came travelling » vào năm 1975.   Tưởng chừng như thành công sự nghiệp sẽ đến sớm hơn, nhưng rốt cuộc những album phòng thu tiếp theo lại không tạo ra được nhiều dấu ấn. Tuy nhiên, Chris vẫn giữ được hợp đồng thu âm và bắt đầu gây được tiếng vang vào năm 1982, lọt vào bản xếp hạng Top 40, trên thị trường Hoa Kỳ với đĩa đơn « Don't pay the ferryman ». Mãi đến năm 1986, khi Chris de Burgh phát hành album phòng thu thứ tám « The Lady in Red », ông mới bất ngờ lập kỷ lục số bán, một sự thành công mà dường như không gì có thể ngăn cản nổi, bài hát giành lấy hạng đầu tại 25 quốc gia, kể cả thị trường Anh và Ai Len, đồng thời vươn lên hạng ba tại Hoa Kỳ.  Bản thân Chris de Burgh cũng không ngờ rằng bài hát  lại thành công vang dội đến như vậy. Trong nhiều cuộc phỏng vấn sau này, Chris de Burgh cho biết « Giai nhân áo đỏ » không phải là bài hát hay nhất trên album « Into the Light » cho nên  suýt nữa không  được chọn làm đĩa đơn để quảng bá cho album này. Theo lời kể của chính tác giả, bài hát này đã được ấp ủ trong một thời gian dài. Ông bắt đầu sáng tác giai  điệu như một cách  để làm lành với vợ mình sau vài lần cãi vã. Do vậy, trong bài hát mới có câu « I'll never forget the way you look tonight »  Anh sẽ không bao giờ quên, dáng em bừng sáng trong đêm. Ban đầu, bản nhạc này đáng lẽ ra được đặt tựa là « The way you look tonight »,  nhưng trước đó đã có một bài hát nổi tiếng cùng tên, từng đoạt giải Oscar dành cho nhạc phim do FredAstaire thu âm vào năm1936, rồi đến phiên  Frank Sinatra ghi âm một phiên bản khác năm 1964 với dàn nhạc của Nelson Riddle. Trong bộ phim truyền hình Anh « This is your life », Chris de Burgh nói rằng bài hát gợi hứng từ lần đầu tiên anh thấy vợ anh là Diane trong một bộ áo đầy nét quyến rũ màu đỏ, nhưng theo Chris bài hát không chỉ nói về môt kỷ niệm cá nhân thuở ban đầu, mà còn là gìn giữ và trân qúy tình cảm của  người bạn đời. Giai nhân áo đỏ « The Lady In Red » là một bản hit đình đám trên toàn cầu, được khai thác nhiều qua phim ảnh, nên trở thành một phần không thể thiếu trong  dòng văn hóa phổ  thông. Tuy nhiên, bài hát cũng đã gây ra nhiều ý kiến trái chiều. Theo khảo sát của tờ báo The Observer, « The Lady in Red » từng lọt vào danh sách 10 bài hát phản cảm, nếu không nói là dễ ghét nhất những năm 1980, chủ yếu cũng vì trong mắt các nhà phê bình nhạc rock : « The Lady in Red » có những lời lẽ hơi sến, thậm chí ủy mị.  Ngoài đời thực, hôn nhân giữa Chris và Diane đã gặp nhiều sóng gió vào giữa những năm 1990 khi tác giả tiết lộ rằng ông đã từng có quan hệ ngoại tình. Nhưng có lẽ vì không muốn làm khổ gia đình, cho nên Chris và Diane vẫn quyết định ở lại bên nhau. Cho dù nhiều nhà phê bình nghĩ rằng bài hát này thật ủy mị, nhưng thực ra nội dung bản nhạc nói về tâm trạng của một người đàn ông khi nhận ra rằng mình nên quan tâm nhiều hơn đến người bạn đời. Có lẽ cũng vì thế « Giai nhân áo đỏ » được phát thường xuyên trong các lễ cưới và nhiều cặp tình nhân xem « The Lady in Red » trước sau gì vẫn là : khúc nhân duyên muôn đời, giai điệu của lứa đôi

    9 min
  8. JAN 24

    Nhạc Nhật lời Việt : Bản tình ca Anata "Ước gì người còn đây"

    Trong nhiều thập niên liền, bài hát "Anata" của Akiko Kosaka đã được phổ biến rộng rãi trong các chương trình truyền hình, cũng như tại các quán karaoke ở Nhật Bản. Những người thích hát bài này thường có giọng ca ngọt ngào, trong sáng.  Sinh trưởng tại thành phố Nishinomiya, tỉnh Hyogo, Akiko Kosaka xuất thân từ một gia đình nghệ sĩ. Thân phụ cô là nhạc trưởng Tsutomu Kosaka, chuyên sáng tác và điều khiển dàn nhạc hòa tấu ở vùng Kansai. Từ thuở thiếu thời, Akiko học đàn piano với bố, rồi sau đó tốt nghiệp Nhạc viện thành phố Osaka.  Vào năm 1973, khi mới 16 tuổi, Akiko đã tham gia Liên hoan âm nhạc Yamaha với một bài hát do chính cô soạn nhạc và viết lời. Mang tựa đề "Anata", bài hát kể lại câu chuyện buồn của một cô gái trẻ sắp thành hôn, nhưng không may người yêu đột ngột qua đời. Một mình, cô gái hình dung trong tâm trí về hạnh phúc cuộc sống lứa đôi, giấc mộng xây tổ ấm tan vỡ khi mọi chuyện đã hết rồi, không còn ngày hôn phối.    Trong bản nhạc, Akiko hát câu cuối cùng một cách xúc động, bồi hồi : "Anata ga ite hoshii" (ước gì người còn ở bên ta). Lối diễn đạt trầm buồn, sâu lắng ấy đã chinh phục hàng triệu con tim người hâm mộ khi bản ghi âm ra đời. Tuy chưa đến tuổi trưởng thành, nhưng Akiko đã giành được Giải thưởng Lớn của liên hoan âm nhạc Yamaha. Khi được phát hành cuối năm 1973 dưới dạng đĩa đơn, bài hát này đã đứng đầu bảng xếp hạng trong 7 tuần liên tục và bán được hơn hai triệu bản, chỉ trong vài tháng. Nhờ giải thưởng này, lần đầu tiên, hai cha con Akiko cùng nhau biểu diễn trong show truyền hình của đài NHK (Kohaku Uta Gassen). Trong sự kiện này, Akiko hát live trên sân khấu, còn thân phụ Tsutomu Kosaka là nhạc trưởng điều khiển dàn nhạc giao hưởng. Thành danh kể từ năm 1974, Akiko trong vòng một thập niên sau đó đã phát hành 6 album và 12 đĩa đơn, trong đó có  nhiều bản nhạc ăn khách như June Bride, Happy Now hay là Again với nhóm Full Moon. Sau khi lập gia đình và sinh con, cô ít còn xuất hiện dưới ánh đèn sân khấu, mở lớp đào tạo thanh nhạc, chuyển sang sáng tác nhạc cho ngành giải trí kể cả nhạc cho trò chơi điện tử, các show truyền hình hay các bộ phim hoạt hoạ. Trong vòng hai thập niên sau đó, tính từ năm 1993 trở đi, Akiko là nhà soạn nhạc nền cho nhiều bộ phim hoạt hình nhiều tập nổi tiếng như "Sally, phù thủy tí hon" cũng như ca khúc chủ đề cho "Sailor Moon, thủy thủ mặt trăng", thành công của loạt phim này cho ra đời một phiên bản nhạc kịch trên sân khấu. Riêng nhạc phẩm Anata, hơn ba thập niên sau ngày thành công tại liên hoan Yamaha, giai điệu này ăn khách một lần nữa khi được tái bản năm 2006 trên album phòng thu "Pianish". Ca khúc "Anata, I wish You were here" giành lấy hạng nhất trong hạng mục New Age trên thị trường Hà Lan và hạng 5 trên bản xếp hạng thị trường nhạc trực tuyến châu Âu. Giai điệu Anata từng được nhiều nghệ sĩ Nhật Bản ghi âm lại. Trong số các bản cover nổi tiếng có Saori Minami, Ayumi Ishida, Seiko Matsuda hay Hiromi Iwasaki và được khai thác nhiều lần trong phim quảng cáo ... Tại châu Á, bài hát này cũng thành công qua bản ghi âm của diva Đài Loan Đặng Lệ Quân. Bài hát cũng từng được tác giả Phạm Duy đặt thêm lời Việt thành nhạc phẩm "Căn nhà xinh", qua phần ghi âm của các danh ca Thanh Lan, Ngọc Lan hay Khánh Hà. Xây một căn gác nhỏ, không cần gì trong đó, khi lửa chưa tàn tro, bên cửa sổ ấm nồng, chùm hoa hồng tươi thắm, trong góc vườn hoa đỏ .... Chú chó con nho nhỏ, chơi đùa ở ngoài sân, bỏ mình ta trong mộng, thơ thân duới gốc cây, ước gì người còn đấy, trăng khuyết mong tròn đầy.

    9 min

Ratings & Reviews

4
out of 5
3 Ratings

About

Góc vườn âm nhạc của RFI

More From RFI Tiếng Việt

You Might Also Like