Tạp chí âm nhạc

Góc vườn âm nhạc của RFI

  1. 2d ago

    Nhạc Nhật lời Việt : Masatoshi Nakamura, mưa bão trong lòng

    Trong vòng một thời gian dài, nhiều bản nhạc gốc tiếng Nhật của Masatoshi Nakamura thường bị ghi chép sai là sáng tác tiếng Hoa, có lẽ cũng vì những bài hát này từng ăn khách trong tiếng Quan thoại hay Quảng Đông qua các giọng ca như Quan Thục Di (Shirley Kwan) hay Hoàng Khải Cần (Christopher Wong). Bài hát đầu tiên làm nên tên tuổi của Masatoshi Nakamura chính là giai điệu "Fureai", từng được chuyển sang lời Việt thành nhạc phẩm "Mưa bão trong lòng". Thành danh vào giữa thập niên 1970, Masatoshi Nakamura là một nghệ sĩ đa tài, nổi tiếng nhờ những đóng góp của ông cho ngành giải trí kể cả truyền hình, điện ảnh và âm nhạc phổ thông từ những năm 1970. Sinh trưởng (1951) tại thành phố Onagawa, tỉnh Miyagi, Masatoshi Nakamura sau khi đậu tú tài, theo học ngành kinh tế tại Đại học Keio. Khi vẫn còn ngồi trên ghế nhà trường, ông ghi tên theo học lớp đào tạo diễn xuất của đoàn kịch Bungakuza, đánh dấu bước khởi đầu của ông vào lãnh vực sân khấu.  Ông Masatoshi Nakamura bắt đầu sự nghiệp diễn xuất của mình vào năm 1974, ngay sau khi rời trường đại học và tốt nghiệp khoá đào tạo kịch nghệ. Ông đóng vai chính Shun Okita trong bộ phim truyền hình nhiều tập "Warera Seishun" trên kênh truyền hình Nippon TV và nhanh chóng trở nên nổi tiếng. Trên đà thành công này, ông ghi âm ca khúc "Fureai", để quảng bá cho bộ phim truyền hình. Khi được phát hành trên đĩa đơn vào mùa hè năm 1974, bản nhạc phim đạt vị trí quán quân trên bảng xếp hạng thị trường Nhật trong nhiều tuần liên tục và bán được hơn một triệu bản.  Sự nghiệp của Masatoshi Nakamura nhanh chóng cất cánh, ông thành danh cùng lúc trong cả hai lãnh vực đóng phim và ca hát, đánh dấu sự khởi đầu ngoạn mục trong làng giải trí. Trong nghề diễn xuất, sự nghiệp của Matasoshi Nakamura trải dài trong nhiều thập niên, do ông có khả năng đóng nhiều vai, chính kịch cũng như hài, hợp với nhiều thể loại cổ trang sử thi, phim hồi hộp trinh thám, phim tâm lý tình cảm. Ông cũng khéo chọn kịch bản, phim truyền hình hay phim quay cho màn ảnh rộng được coi trọng như nhau, không phân biệt vai chính hay vai phụ, miễn là phim có kịch bản hay và nhân vật có chiều sâu. Còn trong lãnh vực âm nhạc, sau khi thành công vào mùa hè năm 1974 với đĩa đơn đầu tay, Masatoshi Nakamura hợp tác với các nhà soạn nhạc có uy tín thời bấy giờ, để ghi âm những bản nhạc ăn khách, trụ vững trên bảng xếp hạng trong nhiều tuần liên tục. Nhìn lại, ông Matasoshi Nakamura đã hiện diện trong làng giải trí ở Nhật Ban trong nửa thế kỷ, ông đã đóng khoảng 50 bộ phim đủ loại. Trong làng nhạc, ông thường xuyên tham gia các show truyền hình cũng như tổ chức các chuyến lưu diễn hàng năm, để  gặp gỡ giới hâm mộ. Tính tới nay, ông đã ghi âm hơn 30 album phòng thu. Trong số các album phát hành gần đây của ông, có tuyển tập kỷ niệm 50 năm sự nghiệp ca hát và bộ sưu tập đĩa đơn bao gồm nhiều bản nhạc phim. Trong số những ca khúc nổi tiếng của Matasoshi Nakamura, dĩ nhiên phải nhắc đến "Fureai". Bài này từng được tác giả Khúc Lan chuyển sang lời Việt thành nhạc phẩm "Mưa bão trong lòng" và do nhiều nghệ sĩ ghi âm, trong đó có phiên bản gần đây của nam ca sĩ Quốc Thiên. Ngoài ra, còn có giai điệu "Koibito MoNureru Machikado". Bài này có nhiều lời Việt khác nhau. Lời đầu tiên "Cuộc tình trong cơn mưa" là của tác giả Huỳnh Nhật Tân. Lời Việt thứ nhì với tựa đề "Hoài Mộng" là của tác giả Khúc Lan. Tại Nhật Bản, nhiều thế hệ từng lớn lên với những bô phim cũng như những bài hát của Matasoshi Nakamura. Gương mặt này đã trở nên gần gũi với công chúng từ lúc nào không hay và có lẽ cũng vì thế, trong các cuộc thăm dò dư luận, ông thường xuyên được bình chọn là một trong những nhân vật nổi tiếng luôn được khán giả Nhật qúy trọng yêu mến, những bài hát của ông càng được nhiều người biết dến, trong giới sinh viên cũng như bậc cao niên.

    9 min
  2. May 23

    Nhạc Nhật lời Việt : "Dạ khúc nửa vầng trăng" - Halfmoon Serenade

    Được mệnh danh là "cánh chim hoàng yến" Nhật Bản, Naoko Kawai trở nên nổi tiếng vào những năm 1980, giai đoạn còn được gọi là kỷ nguyên của các thần tượng nhạc pop. Hầu hết các gương mặt thành danh trong thập niên này như Seiko Matsuda, Yoshimi Iwasaki, Junko Mihara hay Yoshie Kashiwabara đều là những diva của dòng nhạc phổ thông Nhật Bản (J-Pop). Sinh trưởng ở quận Sumiyoshi tại Osaka, Naoko Kawai từ thời còn nhỏ đã có nhiều năng khiếu nghệ thuật. Thời còn ở trường trung học, cô bắt đầu chơi nhiều nhạc cụ và tham gia các lớp đàn hát dân ca, như một phần hoạt động ngoại khóa. Vào năm 16 tuổi (1979), Naoko Kawai đoạt giải nhất trong một cuộc thi hát cấp vùng do công ty quản lý tài năng Geiei tổ chức và nhờ vậy, cô ký hợp đồng ghi âm chuyên nghiệp với chi nhánh Nhật Bản của hãng đĩa Columbia. Vào mùa hè năm 1980, Naoko thành công với đĩa đơn thứ hai là "Young Boy", trích từ album phòng thu đầu tay. Bài hát này đem về cho Naoko nhiều giải thưởng, trong đó có giải Tài năng mới tại Lễ trao giải Thu âm Nhật Bản lần thứ 22 cũng như giải Nghệ sĩ đầy triển vọng tại Liên hoan âm nhạc Yokohama. Một năm sau, Naoko Kawai cho ra mắt album phòng thu thứ hai "Twilight Dream" hoàn toàn được nhạc sĩ Motoki Funayama sáng tác. Bài hát chủ đạo "Smile For Me", được phát hành vào mùa hè năm 1981 trở thành một trong những giai điệu ăn khách nhất trong sự nghiệp của cô. Album này giành hạng đầu bảng xếp hạng. Naoko Kawai nhận được giải nhất nhân kỳ Liên hoan Âm nhạc Truyền hình Nhật Bản lần thứ 7 và quan trọng hơn nữa, cô nhận danh hiệu Thần tượng Vàng tại Lễ trao giải Thu âm Nhật Bản lần thứ 23 (vào năm 1981)-  tương đương với giải Grammy của Hoa Kỳ. Một trong những nhạc phẩm tiêu biểu gắn liền với tên tuổi của Naoko Kawai là giai điệu "Halfmoon Serenade" trích từ album phòng thu thứ 13 phát hành vào mùa thu năm 1986. "Halfmoon Serenad" là một bản tình ca theo kiểu "power balad" với phần nhạc dạo đầu sâu lắng nhẹ nhàng, rồi ở phần cuối chuyển qua lối phối khí dũng mãnh hoành tráng. Bài hát là một cột mốc quan trọng, đánh dấu sự thay đổi về hình ảnh của Naoko, hát nhạc pop giao hưởng với nhiều nội lực, đồng thời đây cũng là bài hát đầu tiên do chính Naoko sáng tác. "Halfmoon Serenade" thành công rực rỡ trên thi trường Nhật Bản vào cuối năm 1986. Toàn bộ các bản ghi âm cho album phòng thu thứ 13 mang tựa đề "Scarlet", đều do Naoko Kawai đồng sáng tác với nhạc sĩ Yumi Yoshimoto. Thành công này có lẽ sẽ trọn vẹn hơn nữa, nếu như hai tác giả này không bị chỉ trích. Một số nhà phê bình Nhật Bản đã cho rằng bài hát "Halfmoon Serenade" có nhiều đoạn giống như một bản tình ca khác nổi tiếng khoảng một thập niên trước đó : nhạc phẩm "Shishuuki" (Hoài niệm ngày thu) của Hiromi Iwasaki. Cho dù hai giai điệu này có nhiều nét giống nhau nhưng cũng may là mọi chuyện sau đó đều yên ổn và công chúng chưa từng nghe thấy bất kỳ lời phàn nàn nào về vấn đề đạo nhạc từ phía tác giả Hiromi Iwasaki. Giai điệu "Halfmoon Serenade" từng được tác giả Thái Thịnh chuyển thành nhạc phẩm "Dạ khúc nửa vầng trăng". Trong tiếng Việt, bài này còn có khá nhiều lời khác nhau : chẳng hạn như "Tình Nồng" của tác giả Khúc Lan qua phần ghi âm của Tô Chấn Phong, "Tình trong đêm mưa" qua lối phóng tác và ghi âm của Julie, "Nhạc tình nửa đêm" qua phần đặt lời và trình bày của Ý Nhi. Nhặt lá vàng rơi rụng  Trên mặt hồ mênh mông Biến thành nốt nhạc trầm Ngân nga trong gió lộng    Mây tuổi trẻ phiêu bồng  Phai dần nửa vầng trăng  Mãi quý trọng trong lòng Bao mùa đông tóc trắng

    9 min
  3. May 16

    Nhạc ngoại lời Việt : 70 năm Eurovision, những bản nhạc thành công nhất

    Trong nhiều thập niên qua, cuộc thi hát truyền hình châu Âu Eurovision thường là bệ phóng đưa nhiều tên tuổi vào quỹ đạo thành công. Trong số những gương mặt đoạt giải nhất, nhờ cuộc thi mà tiếng tăm thêm vang dội lẫy lừng, có ban nhạc Thụy Điển Abba, nữ danh ca Hy Lạp Vicky Leandros, diva người Canada Céline Dion hay thần tượng nhạc Pháp France Gall.  Tối hôm 16/05/2026, vòng chung kết cuộc thi Eurovision nhân sinh nhật lần thứ 70, được tổ chức tại Vienna, thủ đô nước Áo. Danh sách của những nước tham gia cuộc thi ngắn hơn so với những năm trước, chỉ còn 35 quốc gia thay vì 40 : Tây Ban Nha, Ai Len, Hà Lan, Slovenia và Iceland đã tuyên bố rút lui để phản đối việc ban tổ chức đã cho phép Israel tham gia cuộc thi, trong khi nước Nga lại bị gạt ra bên lề từ năm 2022.  Dù gì đi nữa, ca sĩ gốc Mỹ Monroe 17 tuổi, đại diện cho nước Pháp với nhạc phẩm "Regarde" (Hãy nhìn ta) nhân cuộc thi Eurovision năm 2026. Nếu lập thành tích về đầu, tài năng của cô ca sĩ Monroe sẽ có cơ hội toả sáng, nối bước thế hệ đàn anh, khoác lên vai muôn ánh hào quang. Cuộc thi hát truyền hình châu Âu Eurovision đầu tiên đã diễn ra vào tháng 5 năm 1956, tại nhà hát Teatro Kuursal ở Lugano, Thụy Sĩ. Vào thời bấy giờ, 7 quốc gia đã cử thi sinh đi tranh giải. Ngoài nước chủ nhà, còn có sự tham gia của Đức, Bỉ, Pháp, Ý, Hà Lan và Luxembourg.  Ngay từ đầu, cuộc thi đã thu hút sự quan tâm của khán giả và tính đến nay, mỗi năm có khoảng 250 triệu người xem tại châu Âu theo dõi truc tiếp vòng chung kết. Trong số những giong ca thành danh nhờ cuộc thi hát này, có nữ ca sĩ người gốc Hy Lap Vicky Leandros. Vào năm 1972, Vicky đã đoạt giải nhất cuộc thi hát truyền hình châu Âu Eurovision với nhạc phẩm "Après toi"  từng được tác giả Phạm Duy chuyển sang lời Việt thành giai điệu "Vắng bóng người yêu".  Một trong những đặc điểm của cuộc thi Eurovision là thí sinh đại diện cho một quốc gia không nhất thiết phải mang quốc tịch của nước đó. Điều lệ này từng cho phép Francoise Hardy đại diện cho Monaco đi tranh giải vào năm 1963. France Gall với "Búp bê không tình yêu" (Poupée de cire, poupée de son 1965), Vicky Leandros với "Vắng bóng người yêu" (Après toi 1972) hay Anne Marie David với "Xin tự hiểu mình" (Tu te reconnaîtras 1973) đều từng giúp cho Luxembourg về đầu cuộc thi cho dù ho không phải là công dân nước này. Một cách tương tự Céline Dion giúp Thụy Sĩ đoạt giải nhất vào năm 1988 voi nhac phẩm "Ne partez sans moi" hiểu theo nghĩa Hãy cho ta đi cùng. Theo thông lệ, nước nào đoạt giải nhất, thường được quyền tổ chức cuộc thi năm kế tiếp. Nhân sinh nhật tròn 70 tuổi, vòng chung kết cuộc thi Eurovision diễn ra tối nay tại thủ đô Vienna, sau khi ca sĩ người Áo J.J đx giành lấy hạng đầu năm 2025 với nhạc phẩm "Wasted Love". Từ khi thành lập Eurovision cho tới nay, Áo đã ba lần đoạt giải này. Ca sĩ đầu tiên đem vinh dự này về cho nước Áo vào năm 1966, chính là Udo Jürgens với nhạc phẩm "Merci Chérie" (bản tiếng Việt "Cảm ơn người yêu dấu là của tác giả Nguyễn Duy Biên).  Cũng như nhóm Abba vào năm 1974 với nhạc phẩm "Waterloo", Udo Jürgens là trường hơp khá tiêu biểu của những nghệ sĩ biết gầy dựng một sự nghiệp dài lâu. Sau khi đoạt giải nhất cuộc thi hát truyền hình châu Âu, ông trở thành một trong những nghệ sĩ nổi tiếng nhất trong khối các nước nói tiếng Đức, bán được hơn 100 triệu đĩa hát trong nửa thế kỷ sự nghiệp. Hơn ai hết, nhóm Abba và Udo Jurgens đi vào quỹ đạo thành công nhờ biết tận dụng ít ra trong giai đoạn đầu, tầm ảnh hưởng lớn rộng của bệ phóng Eurovision.

    9 min
  4. May 15

    Marilyn Monroe : 100 năm ngày sinh của huyền thoại điện ảnh

    Hơn ai hết, Marilyn Monroe là biểu tượng của vẻ đẹp khiêu gợi nóng bỏng vào thời kỳ hoàng kim của Hollywood những năm 1950. Sinh trưởng tại Los Angeles (1926-1962), Marilyn đã đi vào huyền thoại của làng nghệ thuật thứ bảy, đồng thời trở thành một biểu tượng toàn cầu trong dòng văn hóa phổ thông. Trong lãnh vực điện ảnh, có một sự cạnh tranh gay gắt giữa các hãng phim lớn vào đầu những năm 1950. Hàng ngàn nữ diễn viên trẻ trung và quyến rũ không kém gì Norma Jean Baker. Nhưng chỉ có một người duy nhất mới trở thành Marilyn Monroe. Trên vòm trời với muôn vàn sao sáng của Hollywood, vầng hào quang của Marilyn lại nổi bật hơn hẳn. Vào cùng một thời điểm, có những tên tuổi hàng đầu như Lana Turner, Gene Tierney, Rita Hayworth hay Joan Crawford. Nhưng chỉ có hai khuôn mặt của Marilyn Monroe và Elizabeth Taylor mới trở nên "bất tử " qua những bức tranh in thạch bản của danh họa Andy Warhol. Nhưng không phải chỉ có tác phẩm của Andy Warhol, nhiều bức chân dung khác của Marilyn từng được thu vào ống kính của các nhà nhiếp ảnh nổi tiếng như Eve Arnold, Richard Avedon, Milton H. Greene hay Cecil Beaton … Các tác phẩm này được trưng bày tại Cinémathèque Française (Viện lưu trữ phim ảnh Pháp) nhân 100 năm ngày sinh của thần tượng điện ảnh Mỹ. Được tổ chức từ ngày 08/04 đến 02/07/2026, cuộc triển lãm về Marilyn Monroe kết hợp các đoạn phim, các video ca nhạc, hình ảnh quảng cáo, trang sức xa hoa và y phục đắt tiền … Tất cả được dàn dựng như cảnh quay ở phim trường, để tôn vinh vẻ đẹp của Marilyn trong suốt những năm 1950, kể lại hành trình của một thần tượng trong kỷ nguyên phim màu hào nhoáng lộng lẫy Technicolor, trên màn ảnh chiếu phim rộng lớn Cinemascope. Khi qua đời vào năm 1962 ở tuổi 36, Marilyn đã để lại một số tác phẩm quan trọng, mà cho tới này vẫn tiếp tục thu hút sự quan tâm của công chúng. Trả lời phỏng vấn ban tiếng Pháp RFI trong chương trình Cinémas du Monde, giám tuyển Florence Tissot, trưởng ban tổ chức triển lãm "100 năm Marilyn Monroe" tại Viện Phim ảnh Pháp cho biết mặc dù đã có nhiều quyển sách viết về Marilyn, nhưng cho tới nay vẫn khó thực hiện được một cuộc nghiên cứu chuyên sâu và nghiêm túc, dựa trên văn bản và tài liệu xác thực : "Điều khó khăn nhất là việc tham khảo các tài liệu lưu trữ. Marilyn Monroe qua đời rất sớm ở tuổi 36, sự nghiệp của cô ấy (với tư cách diễn viên chính) khá ngắn ngủi, chỉ khoảng một thập niên. Sau ngày ra đi quá đột ngột, nhiều vật dụng cá nhân của Marilyn đã bị phân tán khắp nơi. Sinh thời, Marilyn đã là một huyền thoại, điều đó đã tạo ra một sự hâm mộ cuồng nhiệt đôi khi thái quá cũng như thói quen soi mói đời tư của cô. Hiện giờ, có khá nhiều "tài sản" của Marilyn đều nằm trong tay giới sưu tầm tư nhân. Các nhà nghiên cứu lịch sử điện ảnh khó thể nào tham khảo các bộ sưu tập tư nhân, họ chỉ có thể truy cập các văn bản lưu trữ trong thư viện hoặc tài liệu bảo tàng. Vì thế, việc nghiên cứu nghiêm túc về Marilyn Monroe không phải là chuyện dễ làm, điều đó phần nào giải thích vì sao những huyền thoại xung quanh Marilyn tiếp tục được phổ biến và vẫn giữ tầm ảnh hưởng quan trọng cho đến ngày nay".  Lần đầu tiên, Marilyn xuất hiện trên màn ảnh lớn là vào năm 1947, trong vai một nhân viên quán bar trong bộ phim "Dangerous Years" (Đời đầy hiểm nguy) của đạo diễn Arthur Pierson. Marilyn thật sự trở nên nổi tiếng, đủ để vào vai chính kể từ đầu những năm 1950, sau thành công của hai bộ phim "Asphalt Jungle" (Quand la ville dort / Khi thành phố ngủ yên) và "All About Eve" (Mọi câu chuyện về Eva). Cuộc triển lãm cho thấy Marilyn có tài diễn xuất thực thụ, vượt ra ngoài những hạn chế của từng vai diễn cũng như vượt qua một số định kiến đối với các nữ diễn viên. Cô Ginette Vincendeau, nhà sử học chuyên về điện ảnh nhận xét : "Những năm 1950 là một thập niên đầy mâu thuẫn, một mặt có một số dấu hiệu cho thấy nước Mỹ đã bắt đầu cởi mở hơn nhiều, nhưng về mặt quan hệ đôi lứa hay vai trò của phụ nữ, xã hội Mỹ lại rất bảo thủ. Thập niên 1950 là thời kỳ cao điểm của bộ luật Hays (1934-1968) bao gồm những quy tắc sản xuất phim ảnh, kiểm duyệt những nội dung bị cho là trơ trẽn, tục tĩu. Nhưng cũng vào thập niên này, tạp chí khiêu dâm Playboy được Hugh Hefner sáng lập (năm 1953) tại Chicago. Hình ảnh của Marilyn bị mắc kẹt trong guồng máy sản xuất phim ảnh, còn bị khống chế bởi một bộ quy tắc bảo thủ". Tuy nhiên, theo nhà phê bình người Mỹ James O. Naremore, sử gia chuyên nghiên cứu về phim của các đạo diễn nổi tiếng như Orson Welles, Alfred Hitchcock hay Stanley Kubrick, Marilyn đã trau dồi tài nghệ diễn xuất của cô ngay từ những tác phẩm đầu tiên. Giám tuyển Florence Tissot cho biết :  "Trong những bộ phim đầu, mặc dù thời lượng xuất hiện trên màn ảnh còn bị hạn chế, Marilyn lại diễn xuất rất đạt, từ cảm xúc hồi hộp sợ hãi cho đến nỗi tức giận, như thể Marilyn muốn tạo thêm trọng lượng trong những vai nhỏ được giao cho cô. Trái với điều mà nhiều người thường nghĩ, Marilyn luôn cố gắng học thêm, từ ca hát, nhảy múa, cho đến các lớp diễn xuất kịch câm từ khi mới vào nghề cuối những năm 1940. Trong khi báo chí chủ yếu nói về thời kỳ cô học với thầy Lee Strasberg tại Actors Studio ở New York. Marilyn đã học nhiều lớp múa, để chuẩn bị quay màn phim với xâu chuỗi kim cương và váy hồng lộng lẫy "Diamonds are a girl's best friend" trích từ bộ phim "Genthemen prefer Blondes" (Qúy ông thích phụ nữ tóc vàng). Vào thời ấy (1953), mặc dù Marilyn đã tập dợt rất nhiều rất để sánh ngang với bạn diễn của mình, những rốt cuộc Marilyn vẫn được trả thù lao ít hơn so với Jane Russell. Sau bộ phim này, Marilyn bắt đầu đàm phán lại các hợp đồng bảy năm của mình, mà cô cho là có nhiều điều khoản lạm dụng. Marilyn đã phấn đấu để đạt được mục tiêu : nhận thù lao xứng đáng hơn và được quyền lựa chọn vai diễn cũng như đạo diễn phim". Hỉnh ảnh của Marilyn đã đi vào lòng người mến mộ chính là cảnh phim "The Seven Year Itch" (Bảy năm suy ngẫm) phát hành vào năm 1955. Trong phim, Marilyn mặc một chiếc váy trắng, đứng trên tấm chắn ống thông hơi xe điện ngầm. Khi chạy nhanh qua, chiếc tàu điện ngầm tạo ra luồng gió thổi tung bay tà áo đầm màu trắng. Cô Florence Tissot nhận xét về hình ảnh này : "Hình ảnh đó gần như làm lu mờ cả một bộ phim. Vào những năm 1950, hình ảnh của Marilyn mặc chiếc vay trắng được vẽ thành khổ lớn, treo trên mặt tiền các rạp chiếu phim. Cảnh phim này đã tạo ra một cột mốc quan trọng trong dòng văn hóa phổ thông. Khi nhắc tới Marilyn, công chúng thường hay nghĩ tới hình ảnh này. Vào thời bấy giờ, Marilyn muốn thoát khỏi vòng kiểm soát của các hãng phim lớn, cô chuyển nhà đến New York để sống gần hơn với nhà văn Arthur Miller, đồng thời cô cũng muốn theo học với thầy Lee Strasberg tại lớp đào tạo diễn xuất Actors Studio. Nhưng cũng chính từ bộ phim này, hình ảnh của Marilyn trong mắt báo chí truyền thông bắt đầu thay đổi : từ một cô gái tóc vàng rất xinh nhưng kém thông minh, Marilyn dần dần trở thành một người phụ nữ có tánh tình thất thường, như thể cô có một vấn đề gì đó khiến tinh thần trở nên bất ổn". Nhiều nhà phê bình từng cho rằng, các hãng phim lớn muốn bắt Marilyn phải trả giá cho thái độ bất phục tùng của cô. Thậm chí, ngay sau khi hết hợp đồng với Marilyn, hãng phim Twentieth Century Fox còn mỉa mai cô qua bộ phim "Blonde Explosion" (Cô gái tóc vàng nảy lửa) của đạo diễn Frank Tashlin, với nữ diễn viên Jayne Mansfield, một phiên bản gần như giống hệt để thay thế Marilyn. Theo chuyên gia Ginette Vincendeau, cho dù vào năm 1960, Marilyn chứng tỏ bản lĩnh của mình sau khi nhận được giải Quả cầu vàng diễn xuất nhờ bộ phim hài với anh vua hề giả gái Tony Curtis trong phim "Some Like It Hot" (Nhịp điệu nóng bỏng), nhưng Marilyn sau đó lại không có thêm nhiều cơ hội để phát huy tài năng : "Đúng vậy, cho dù sự nghiệp, của Marilyn đạt đỉnh cao với bộ phim này nhưng cũng vào thời điểm ấy, báo chí lại soi mói đời tư của cô, chỉ nói v

    9 min
  5. May 9

    Nhạc ngoại lời Việt : Westlife, 25 năm tuyệt đỉnh tình ca

    "25-The Ultimate Collection" là tựa đề tuyển tập chọn lọc vừa được phát hành hồi đầu tháng 05/2026. Album này kỷ niệm 25 năm sự nghiệp sân khấu của ban nhạc Westlife, bao gồm 21 ca khúc ăn khách, cùng với những sáng tác mới, được bốn thành viên nhóm nhạc pop người Ai Len thu âm, trong đó có nhạc phẩm "Your love amazes me" (tạm dịch Tình em tuyệt vời). Vào mùa thu năm 2026, ban nhạc pop Ai Len bắt đầu chuyến lưu diễn quốc tế (25th anniversary World Tour) kỷ niệm 25 năm sự nghiệp biểu diễn trên sân khấu của nhóm, mở màn bằng đợt trình diễn 13 đêm tại Dublin trước khi đến Vương quốc Anh rồi khắp châu Âu. Chặng nhì vào năm tới hy vọng sẽ đưa nhóm này sang biểu diễn tại châu Á. Được chính thức thành lập vào năm 1998, nhóm này ban đầu gồm sáu thành viên cho nên được đặt tên là "Six As One" (Sáu như một). Ban nhạc suýt nữa đổi tên thành WestHill hay WestSide, nhưng vì những nghệ danh này đã có bản quyền, cho nên nhóm mới chọn tên chính thức là Westlife. So với những năm đầu, đội hình của nhóm đã được rút gọn lai, nay chỉ còn có 4 thành viên (Kian Egan, Shane Filan, Mark Feehily và Nicky Byrne). Riêng thành viên thứ 5 Brian McFadden đã tách ra khỏi nhóm, vào năm 2004 để khởi nghiệp hát solo. Trong hơn hai thập niên sự nghiệp, nhóm Westlife đã phát hành tổng cộng 12 album phòng thu : 4 album khi còn là nhóm 5 người và 8 album khi chỉ còn 4 thành viên. Thành danh ngay từ album đầu tay cùng tên vào năm 1999, Westlife trở thành mot trong những nhóm "boyband" thành công nhất trên thị trường quốc tế, đặc biệt là tại châu Âu và châu Á. Nhóm này từng tan rã vào năm 2012, rồi trở lại trên đỉnh cao khi tái hợp vào năm 2018. Trong suốt thời gian đi biểu diễn, nhóm Westlife đã nhiều lần gặp khó khăn do bất đồng nội bộ, nhung rốt cuộc ho vẫn trụ vững, không vĩnh viễn chia tay như nhiều ban nhạc khác cùng thời. Weestlife ít theo các trào lưu thịnh hành trong thế giới nhạc trẻ như Backstreet Boys hay N'Sync của Mỹ, mà cũng chẳng ồn ào đình đám như các nhóm châu Âu là Worlds Apart, Boyzone hay 2Be3, nhóm Westlife thường chinh phục người nghe bằng những giai điệu sâu lắng ngọt ngào, các bản tình ca đầy cảm xúc dạt dào như : Flying without wings,  My Love, Seasons in the sun, You raise me up, I lay my love on you ..... Westlife tạo dựng được một phong cách riêng nhờ sức cuốn hút trong việc hòa quyện các chất giọng cũng như sở trường hát cover của nhóm, chuyên dùng bản phối để tạo sinh khí mới cho những tình khúc vang bóng một thời. Nhóm này từng hợp tác với nhiều diva hàng đầu thế giới như Diana Ross và nhất là Mariah Carey qua nhạc phẩm "Against all odds" (bản gốc của Phil Collins). Bài này trong tiếng Việt có tựa đề "Tất cả cho tình yêu". Nhờ phong cách thanh lịch và ngoại hình sáng sân khấu, nhóm Westlife nhanh chóng gặt hái nhiều thành công, từng được mệnh danh là những vị "hoàng tử" của dòng nhạc pop ballad. Vào năm 2001, nhóm này quyết định thực hiện vòng lưu diễn thế giới đầu tiên. Tuyển tập "25-The Ultimate Collection" chính là dịp kỷ niệm sự kiện quan trọng này. Sau khi ngừng hoạt động trong vòng 6 năm, nhóm Westlife đã tái hợp vào năm 2018. Nhìn lại, nhóm này đã bán được hơn 55 triệu đĩa trên thế giới và đoạt được nhiều giải thưởng quan trọng, bao gồm hai giải Brit Award, ba giải MTV và bốn giải thưởng truyền hình ITV dành cho bản thu âm hay nhất trong năm. Trong thời gian gần đây, nhóm này đã dần chuyển hướng, mở ra một thời kỳ mới, thử sức với nhiều thể loại, chứ không phải vì thành công với pop ballad, mà cứ hát hoài hát mãi. Tuy vậy, mỗi khi nhắc tới Westlife, giới hâm mộ vẫn luôn nghĩ đến hình ảnh những giọng ca hào hoa phong nhã, có tài đánh cắp trái tim người nghe một cách lạ thường, nhờ những giai điệu quyến luyến du dương, chứa chan nhạc tình hoài niệm vấn vương.

    9 min
  6. May 2

    Céline Dion & Jean-Jacques Goldman : Cặp bài trùng tuyệt vời

    Mười năm sau khi phát hành album tiếng Pháp và trước khi trở lại sân khấu Paris vào mùa thu năm 2026, Céline Dion hồi trung tuần tháng Tư vừa cho ra mắt một giai điệu hoàn toàn mới do Jean-Jacques Goldman soạn nhạc. Chính tác giả này đã giúp Céline Dion chinh phục thị trường khối Pháp ngữ cách đây ba thập niên, qua việc khuyến khích diva người Canada thay đổi phong cách diễn đạt, khi hát bằng tiếng Pháp.  Trả lời phỏng vấn báo chí, tác giả Jean-Jacques Goldman từng cho biết, trên phương diện âm nhạc ít có ai gây nhiều ấn tượng với anh bằng Céline Dion. Tình bạn giữa diva đến từ vùng Québec và tác giả người Pháp kéo dài trong hơn 30 năm qua. Quan hệ hợp tác này đã cho ra đời nhiều bản nhạc kinh điển : chẳng hạn như "Pour que tu m'aimes encore" (Mong người vẫn yêu ta), "Je sais pas" (Ta đâu biết), "S'il suffisait d'aimer" (Nếu chỉ cần thương yêu) hay "Encore un soir" (Chỉ một đêm nữa thôi) ... Bài hát vừa được phát hành mang tựa đề "Dansons" (Dìu nhau trong điệu nhảy), được sáng tác vào thời kỳ đại dich Covid-19, khi tiếng đàn, khúc hát giúp cho bao gia đình xoa dịu những thiệt thòi, mất mát : Khi đời nổi giông tố Đừng chịu trận dưới mưa Phong ba hồn vực thẳm Càng quay cuồng điệu múa Về mặt nghệ thuật, đôi bạn Dion & Goldman khá tâm đầu ý hợp. Điều đó giải thích, vì sao mặc dù đã tuyên bố giải nghệ khá lâu, nhưng tác giả Goldman luôn có mặt, khi Céline Dion cần đến sự tiếp sức của anh. Vào giữa những năm 1990, Céline Dion đang thành công rực rỡ trên thị trường quốc tế, liên tục lập kỷ lục số bán với các album tiếng Anh : Cả hai tâp nhạc "Falling into you" và "Let's talk about love" đều bán được hơn 30 triệu bản. Nhưng trên thị trường Pháp, Céline vẫn chưa thực sự có một bản nhac nào cân xứng với tầm vóc của mình, cho dù vào năm 1988 Céline từng đoạt giải Eurovision cho Thụy Sĩ nhờ bài hát tiếng Pháp "Ne partez pas sans moi" (tạm dịch "Hãy cho tôi đi cùng"). Danh ca Jean-Jacques Goldman là người đã giúp Céline Dion bù đắp sự thiếu sót này, cho dù tác giả người Pháp ít khi nào đề nghị ai đó hợp tác với mình. Goldman từng sáng tác nguyên một album dành riêng cho Johnny Hallyday, nhưng theo yêu cầu của danh ca nhạc rock. Bù lại, trong trường hợp của Céline Dion, Goldman lại chủ động đề nghị soạn nhạc cho diva người Canada. Vào mùa xuân năm 1995, Jean-Jacques Goldman thực hiện album phòng thu tiếng Pháp "D'eux", đánh dấu lần hợp tác đầu tiên giữa hai tên tuổi lớn. Album này đã thay đổi sâu sắc sự nghiệp ghi âm tiếng Pháp của Céline Dion, khi trở thành album ăn khách nhất trong lịch sử nhạc pop tiếng Pháp, với hơn 12 triệu bản được bán trên thế giới. Ngoài việc sáng tác theo kiểu đo ni đóng giày cho Céline Dion, Goldman còn "thổi hồn" một cách khéo léo tài tình vào các ca khúc của mình, khuyến khích Céline Dion thay đổi cách diễn đạt, ít khoe giọng và trở nên gần gũi hơn. Tác giả Goldman khuyên Céline nên hát nhè nhe, khe khẽ như thể cô đang ôm một đứa bé trong vòng tay, hát bằng cảm xúc chân thực, với tất cả tấm lòng của một người mẹ đang ru con ngủ. Giới hâm mộ Céline Dion đều thừa biết bản lĩnh của diva người Canada, có kỹ thuật hát điêu luyện, linh hoạt, dựa vào làn hơi khoẻ khoắn để đạt được những nốt nhạc cao vút. Còn tác giả Goldman lại tạo cơ hội cho Céline phát huy lối diễn đạt sâu sắc trầm lắng, tinh tế nhe nhàng. Từ năm 1995 đến năm 2016, cặp bài trùng Dion và Goldman đã vào phòng thu âm 4 lần. Sự hợp tác này cũng làm nổi bật mối liên hệ mật thiết của diva người Canada với tiếng mẹ đẻ, cũng như cội nguồn của mình, ngay cả khi các bản thu âm tiếng Anh của Céline có số bán cao hơn nhiều, thường cao hơn gấp ba lần so với các bản nhạc tiếng Pháp. Sau một thời gian dài vắng bóng sân khấu, sự kiện Céline chọn trở lại Paris vào mùa thu tới chắc hẳn không phải là chuyện tình cờ ngẫu nhiên. Người hâm mộ vẫn còn nhớ màn song ca đầy cảm xúc của cặp bài trùng Dion & Goldman trên sân vận động quốc gia Pháp, Stade de France, năm 1999. Từ nhạc phẩm "J'irai où tu iras" cho đến giai điệu "S'il suffisait d'aimer", ngòi bút Goldman tựa như luồng gió, giúp Céline Dion chắp cánh bay xa hơn nữa, nơi xúc cảm in đậm không gian, khoảnh khắc tĩnh lặng ngập tràn, cõi chốn dịu dàng chứa chan.

    9 min
  7. Apr 25

    Nhạc Nhật lời Việt : Akio Kayama, cơn mưa buốt giá

    Trong lãnh vực nhạc trữ tình enka Nhật Bản, "Hisame" (Cơn mưa buốt giá) của tác giả Ren Tomari có lẽ là một trong những bài hát được biết đến nhiều nhất. Hầu hết các ca sĩ trứ danh, và ngay cả những người không chuyên hát thể loại enka (diễn ca), đều đã từng thể hiện bài này trên sân khấu hoặc trước ống kính truyền hình. Trong tiếng Việt, giai điệu này từng được nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng đặt thêm lời thành nhạc phẩm "Tình buồn trên lối xưa". Cách đây một thập niên, nghệ sĩ kỳ cựu Kiyoshi Maekawa (giọng ca chính của nhóm The Cool Five) đã cho ra mắt phiên bản của mình, Akina Nakamori cũng đã từng ghi âm lại bài này vài năm trước đó như một lời tri ân với người hâm mộ. Nhắc đến Hisame, vẫn khó thể nào quên được những giọng ca gắn liền với giai điệu lãng mạn này, trong đó có bản gốc của nam ca sĩ Akio Kayama, ca sĩ enka đầu tiên thể hiện bài này chính là Mika Hino và dĩ nhiên có phiên bản tiếng Nhật cũng như tiếng Hoa của diva người Đài Loan Đặng Lệ Quân (Teresa Teng). Bản gốc của nhạc phẩm Hisame được cho ra mắt vào cuối năm1977. Đây là đĩa đơn đầu tay của nam ca sĩ người Nhật Akio Kayama. Tên thật là Shigehiro Hase, ông sinh trưởng tại thành phố Hakodate ở phía nam đảo Hokkaido.  Vào đầu thập niên 1970, ông trở thành học trò cuối cùng của nhà soạn nhạc trứ danh Masao Koga. Sau một thời gian đi hát bán chuyên nghiệp, ông ký được hợp đồng ghi âm với hãng đĩa Columbia Records, lấy nghệ danh Akio Kayama rồi phát hành album đầu tay. Khi giai điệu "Hisame" được phát hành lần đầu tiên, sự nghiệp của Akio Kayama vẫn chưa thực sự cất cánh. Hầu hết các bài hát được trích từ album đầu tay của ông đều không thành công. Akio Kayama buộc phải trở lại phòng thu để thực hiện nhiều bản phối mới.  Mãi đến khi phát hành phiên bản thứ ba của bài hát này vào mùa hè năm 1982, tức 5 năm sau bản gốc, Akio Kayama mới may mắn hơn, bản phối này được bán gần một triệu bản trong vòng sáu tháng. Bài hát "Hisame" giành được nhiều giải thưởng phát thanh và truyền hình. Và quan trọng hơn nữa, giai điệu này giành được giải thưởng dành cho đĩa hát hay nhất vào năm 1983. Bản phối thứ ba của Akio Kayama khác với hai lần phát hành trước, nhờ phần nhạc dạo đầu u sầu, tha thiết làm say đắm giới ca sĩ chuyên nghiệp, cũng như những người mê nghe nhạc enka. Thời điểm phát hành cũng khá quan trọng, giúp cho giai điệu bén duyên với thính giả, thà muộn còn hơn không. Riêng bản cover nhạc phẩm "Hisame" của Đặng Lệ Quân (Teresa Teng) tuy chưa từng được phát hành chính thức dưới dạng đĩa đơn, nhưng nữ danh ca người Dài Loan nhờ cách nhã chữ có duyên tự nhiên, luôn biết cách tạo cho phiên bản của mình một dấu ấn riêng.  Do nhạc sĩ Ren Tomari sáng tác, "Hisame" hàm chứa những mô típ và chủ đề quen thuộc của dòng nhạc trữ tình enka : uống rượu giải sầu, khi nhân vật trong bài hát ngồi một mình trong quán khuya, khóc cho bản thân vì không còn nhà để về, không còn ai để chờ.  Làn hơi luyến láy ấm nồng, diu dàng mà vẫn đầy đặn, giọng ca Đặng Lệ Quân gắn liền với những làn điệu kinh điển, tài nghệ diễn dạt của diva này có thể khiến bất kỳ bài hát tiếng Nhật nào cũng trở nên tuyệt vời, nâng ý tứ giai điệu lên một tầm cao mới. Mưa bên ngoài chưa ngớt, cho phố đêm đẫm ướt, chẳng còn ai đợi chờ, hồn đã quên kiếp trước.  Men rượu nào say khướt, cho đường quên lối bước, bỏ mặc tim ngoài hiên, giữa mùa đông giá buốt ...

    9 min
  8. Apr 18

    Nhạc ngoại lời Việt : Paul Anka, phóng tác và song ca

    "Inspirations of Life and Love" hiểu theo nghĩa Nguồn cảm hứng cho cuộc sống và tình yêu là tựa đề album phòng thu mới của Paul Anka, được phát hành hồi trung tuần tháng 02/2026. Song song với album này, còn có việc tái bản các tuyển tập song ca của ca sĩ người Canada với nhiều nghệ sĩ lừng danh quốc tế. Bao gồm tổng cộng 11 bài hát, album phòng thu vừa được phát hành xen kẻ vài sáng tác mới như "Freedom for You and Me" (Tự do cho chung ta) với các bản thu âm lại của những giai điệu nổi tiếng, từng được phát hành cách đây vài thập niên. Cả hai đĩa đơn trích từ album này, trước kia đều do Giọng ca Vàng Frank Sinatra trình bày, nay được Paul Anka ghi âm lại. Đó là trường hợp của hai nhạc phẩm "Anytime" (Bất cứ lúc nào) và "Let me try again" (Cho ta thêm một lần) từng được ghi âm vào năm 1989  trên album "Somebody loves You". Trong sự nghiệp âm nhạc kéo dài trong 7 thập niên, Paul Anka (84 tuổi) đã tạo dựng một sự nghiệp vững chắc, xuyên qua các trào lưu âm nhạc, dù thi hiếu người nghe có thay đổi. Sinh trưởng tại Ottawa (Canada) sau đó nhập tịch Mỹ, Paul Anka xuất thân từ môt gia đình có hai dòng máu : thân phụ người Syria, thân mẫu gốc Liban.  Nhờ có năng khiếu, Paul Anka ghi âm đĩa hát đầu tay vào năm 14 tuổi, rồi thành danh ba năm sau đó trên thi trường quốc tế với nhạc phẩm "Diana", khi ông chỉ mới 17 tuổi. Kể từ năm 1957 trở đi, hầu như thập niên nào Paul Anka cũng có vài bài hát lọt vào bảng xếp hạng thi trường quốc tế. Tính đến nay, ông đã thu âm hơn 120 album trong nhiều ngôn ngữ khác nhau, bán được gần 80 triệu bản trên toàn thế giới. Nhiều thế hệ nghệ sĩ đã nhớ ơn ông, vì ngoài chất giọng mượt trầm, Paul Anka còn có tài soạn nhiều giai điệu hay, sáng tác những bản nhạc ăn khách. Thời còn trẻ, Paul Anka là một ngòi bút tài ba trong nhóm chuyên sáng tác cho Frank Sinatra trong nhóm Rat Pack (Dean Martin & Sammy Davis Jr). Thập niên 1980, Paul Anka đồng sáng tác hai nhạc phẩm với Michael Jackson. Sau khi lập kỷ lục số bán nhờ bản song ca giữa ông hoàng nhạc pop với Justin Timberlake, nay bài hát "Never felt so good" được đồng tác giả Paul Anka ghi âm lại với một bản phối khí mộc mạc, hoà âm nhe nhàng.  Thập niên 1990, Paul Anka thành công rực rỡ nhờ các tuyển tập song ca với nhiều nghệ sĩ trứ danh như album "Amigos" bằng tiếng Tây Ban Nha hay là tuyển tập "Duets" với sự góp mặt của Céline Dion, Patti LaBelle, Tom Jones, Peter Cetera, ca sĩ chính của nhóm Chicago hay Barry Gibb thuộc ban tam ca Bee Gees. Ông cũng từng giữ vai trò nhà sản xuất, đảm nhiệm album đầu tay của ca sĩ đồng hương Michael Bublé, từng thể hiện lai ca khúc kinh điển "Put your head on my shoulder" của Paul Anka (lời tiếng Việt là "Tựa vai anh" qua phần ghi âm của Jo Marcel).    Album phát hành gần đây của Paul Anka cũng là một cách để cho ông bày tỏ lòng qúy mến với những nghệ sĩ ông từng có dip gần gũi. Ngoài ông hoàng nhạc pop Michael Jackson, tên tuổi  được  nhắc đến nhiều trên album này vẫn là Frank Sinatra, được mệnh danh The Voice (Giọng ca Vàng). Khi phóng tác giai điệu tiếng Pháp "Comme d'habitude" của Claude François thành nhạc phẩm tiếng Anh "My Way", Paul Anka đã tặng bài hát nổi tiếng nhất cho bậc đàn anh.  Bản thân Paul Anka cũng từng ghi âm nhiều lần sáng tác của mình, với giọng ca crooner của Sinatra chuyên hát nhạc trữ tình, cũng như với Julio Iglesias, ông hoàng dòng nhạc La Tinh. Trong mắt tác giả Paul Anka, nguồn cảm hứng cho cuộc sống và tình yêu trước sau vẫn là âm nhạc : một ngôn ngữ vô hình trong góc hồn thầm kín.

    9 min

Ratings & Reviews

4.3
out of 5
4 Ratings

About

Góc vườn âm nhạc của RFI

More From RFI Tiếng Việt

You Might Also Like