Tạp chí âm nhạc

Góc vườn âm nhạc của RFI

  1. 3d ago

    Album Wallflower (2015) - Bữa tiệc âm nhạc của Diana Krall

    Wallflower, album phòng thu thứ 12 của Diana Krall, ngôi sao jazz Canada đưa khán giả ngược dòng thời gian dạo chơi với những tác phẩm pop/rock kinh điển. Hợp tác với nhà sản xuất tài ba David Foster, Diana chiêu đãi khán giả bữa tiệc âm nhạc thịnh soạn nhất sự nghiệp. Gương mặt sáng giá jazz Canada Diana Krall bắt đầu sự nghiệp từ năm 1992 với album đầu tay Stepping Out. Cô bứt phá ngoạn mục sau 4 năm nhờ album All for You: A Dedication to the Nat King Cole Trio (1996), cover ca khúc bất hủ của tượng đài jazz Nat King Cole. Album gây tiếng vang lớn, giúp cô nhận đề cử Grammy đầu tiên. Nữ nghệ sỹ jazz sinh năm 1964 nổi tiếng với chất giọng contralto, quãng trầm dầy, ấm áp, có màu sắc riêng biệt. Cô từng đoạt 2 giải Grammy ở hạng mục Album Jazz của năm. Đáng chú ý, trường Đại học Victoria, bang British Columbia trao bằng tiến sỹ Nghệ thuật danh dự cho Diana nhờ đóng góp nghệ thuật của siêu sao nhạc jazz. Cô kết hôn với nhạc sỹ người Anh, Elvis Costello năm 2003 và có hai con trai với Elvis. Album Wallflower sản xuất năm 2015 là dự án nhạc pop đặc biệt của Diana, xa rời sở trường jazz quen thuộc. Nữ nghệ sỹ làm mới những tác phẩm kinh điển nhóm The Eagles, Bob Dylan, Elton John, The Carpenters theo màu sắc ngẫu hứng jazz. Đặc biệt, Diana thể hiện bản ballad đẹp, If I can take home you tonight (Nếu anh đưa em về nhà tối nay) do Sir Paul McCartney sáng tác nhưng chưa bao giờ ghi âm. Bản nhạc chứng minh tài năng phi thường của Paul McCartney chỉ trong vài nốt nhạc mở bài. Ca khúc trở thành món ăn đáng chú ý của album nhờ giai điệu sắc nét, âm hưởng buồn man mác, giọng truyền cảm của nữ ca sỹ. Gu tuyển chọn bài hát tinh tế Với album đậm chất hoài cổ theo tư duy mới mẻ, Diana hợp tác với David Foster, nhà xuất danh tiếng có tư duy thị trường nhạy bén với gia tài thành tích hàng loạt giải Grammy như The BodyGuard (Vệ sỹ, 1992), Unforgettable (1991). Ca khúc mở đầu album là California dreaming (Mơ về California), bản nhạc kinh điển gắn với tên tuổi nhóm nhạc The Mamas and The Papas. Ca khúc được sáng tác năm 1963 khi bộ đôi nhạc sỹ John và Michelle Phillips sống giữa mùa đông New York lạnh giá, nhớ về nắng ấm bang California. Nữ nghệ sỹ giới thiệu món ăn khai vị đẹp mắt, nhẹ nhàng mà giữ nguyên được linh hồn ca khúc. David “đo ni đóng giày” cho Diana hai bản hit của nhóm rock huyền thoại The Eagles, Desperado và I can’t tell you why (Anh không thể giải thích tại sao). Nữ ca sỹ khám phá cách thể hiện mới mẻ, khác với bản gốc thô ráp, đậm chất folk-rock. Diana tạo được dấu ấn cá nhân nhờ biến tấu sang bossa nova, tiết tấu chậm rãi và cảm xúc dồi dào. Thú vị hơn, Diana đã nâng ca khúc Superstar (Siêu sao), của nữ ca sỹ quá cố Carpenters lên một tầm cao mới. Bản cover đẹp và da diết trong phần phối khí bay bổng và tình tứ của David Foster. Giọng hát có chiều sâu của Diana khóa chặt khán giả trong không gian một chuyện tình buồn. Sự dũng cảm có “tính toán” bài bản Bộ đôi David Foster và Diana Krall tính toán hợp lý và dũng cảm khi cover lại nhiều bản hit lừng lẫy của các huyền thoại pop/rock. Ca khúc tựa đề album Wallflower là sáng tác của nhà thơ, nhạc sỹ Bob Dylan, người không xa lạ với phong cách folk rock đường phố. Bản cover của Diana đi theo lối nhẹ nhàng, tao nhã. Giọng hát có vị xông khói và màu sắc đặc trưng, hòa quyện tiếng guitar, miêu tả được sự cô đơn, e ngại, sự hoài mong tại bữa tiệc khiêu vũ. Kiệt tác đi cùng năm tháng, Sorry seems to be hardest word (Xin lỗi là ngôn từ khó khăn nhất) của Sir Elton John, được nữ danh ca chế biến hoàn hảo. Không có giọng hát sắc bén, cường độ mạnh như Elton John, Diana làm mới bằng sự lịch lãm và tiết chế chắc tay. Cô tái hiện được màu trầm buồn và cao độ bi tráng của bản gốc. Vẫn tiếng piano dìu dắt, chất giọng contralto đẩy được cao trào một cách mỹ mãn. Khán giả nhận thấy Diana Krall tôn trọng và nâng niu tác phẩm gốc mặc dù làm mới theo bản năng jazz. Bản cover lại của nhóm 10CC thập niên 70, I’m not in love (Anh không yêu em) được coi là một trong những món ăn tinh túy của album. Tác giả ca khúc không chọn lối mòn để nói Anh yêu em mà hoàn toàn ngược lại. Nữ ca sỹ rất nhập vai trong câu chuyện tình yêu mà ca khúc truyền tải. David Foster phối khí ca khúc theo lối hiện đại thiên hướng acoustic khác với bản gốc. Giọng hát Diana mê hoặc, dạo chơi trong âm thanh piano êm dịu và ca từ thông minh của ca khúc. Những khách mời song ca đặc biệt Album Wallflower được phát hành dưới hai phiên bản. Bản tiêu chuẩn gồm 12 ca khúc, bản đầy đủ có thêm 8 ca khúc. Nhà sản xuất tối đa hóa tính thương mại của album nhờ vào cộng hưởng tệp khán giả nhạc jazz với country, soft pop/rock. Chính vì thế, các khách mời đặc biệt như Michael Buble, Bryan Adams, Sarah McLachlan, Vince Gill giúp cho bữa tiệc âm nhạc của Diana Krall thịnh soạn hơn, nhiều hương vị lạ lẫm. Michael Buble, giúp cho bản ballad song ca Alone Again (Naturally) thập niên 70 trở nên ngọt ngào hơn bản gốc trầm buồn. Màn hát bè và hát đôi ăn ý giữa Diana và Sarah McLachlan trong If you could read my mind (Nếu em đọc được suy nghĩ của anh) tạo dấu ấn khó phai về sự đổ vỡ trong hôn nhân. Ca khúc Everybody’s Taking (nhạc phim Oscar Midnight Cowboy, 1969) là kết hợp duyên dáng giữa ngôi sao nhạc country, Vince Gill cùng với Diana Krall. Album Wallflower là bước đi khôn ngoan của Diana Krall kết hợp với David Foster. Nhà sản xuất đã nâng tầm album giải trí, dễ nghe trở thành khối nam châm khổng lồ : giọng hát truyền cảm Diana, phối khí dàn nhạc dây, dàn khách mời ăn ý. Nam ca sỹ giọng khàn Bryan Adams bổ sung hoàn hảo cho Diana trong bản nhạc tình sâu lắng của Randy Newman, Feels like home (Cảm giác như mái ấm). Nhìn tổng thể, nữ nghệ sỹ piano, jazz Diana Krall đã cách tân những món ăn quen thuộc trở thành ẩm thực cao cấp cả thanh lẫn sắc. (Theo Jazz News, Wikipedia)

  2. Jul 25

    Nhạc ngoại lời Việt : Tomio Umezawa và liên khúc "Một thuở yêu người"

    Nhắc đến giai điệu "Một thuở yêu người", giới yêu nhạc nghĩ tới ngay phiên bản tiếng Hoa rất nổi tiếng của danh ca Hồng Kông Trương Học Hữu, nhưng bản gốc lại là một bài hát tiếng Nhật do Kei Ogura & Koji Kanda đồng sáng tác vào năm 1992. Tại xứ hoa anh đào, giọng ca được cho là có lối diễn đạt sâu sắc nhất chính là ca sĩ kiêm diễn viên Tomio Umezawa. Sinh trưởng tại tỉnh Fukushima, Tomio Umezawa xuất thân từ một gia đình có dòng máu nghệ sĩ, nổi tiếng trong làng giải trí. Bố mẹ ông đều là diễn viên sân khấu (ông Kiyoshi Umezawa và bà Ryuchiyo Takezawa) tạo dấu gạch nối giữa truyền thống kịch nghệ kabuki với các chương trình tạp kỹ. Tomio Umezawa xuất hiện lần đầu tiên trên sân khấu khi ông chưa đầy ba tuổi. Ông thực sự bắt đầu tham gia biểu diễn chuyên nghiệp từ năm 15 tuổi, trong đoàn kịch gia đình, do người anh ruột (Takeo Umezawa) điều hành. Mãi đến sau này, Tomio mới lên thay thế anh trai, trở thành đạo diễn và giám đốc đoàn kịch. Vào năm 20 tuổi, Tomio tham gia các vở múa, trong đó các diễn viên nam thường đóng vai nữ "Onnagata". Tài nghệ của Tomio Umezawa có cơ hội vụt sáng thành ngôi sao nhờ những màn trình diễn được giới phê bình cho là hoàn hảo, nhờ y phục trang điểm và nhất là nhờ vào điệu bộ cử chỉ và tài nghệ múa tư nhiên. Ngoài sân khấu kịch nghệ, ông còn đóng phim  truyền hình và điện ảnh. Nhờ tài ăn nói có duyên, pha trò dí dỏm cho nên ông thường được mời xuất hiện trong nhiều show truyền hình Nhật Bản. So với các nghệ sĩ cùng thế hệ, Tomio Umezawa bước vào nghề ca hát khá muộn, ông thu âm bản nhạc nổi tiếng đầu tay với tựa đề "Yumeshibai" vào năm 1983. Giai điệu này do Kei Ogura sáng tác nhạc và lời. Với hơn nửa triệu bản bán chạy trong vài tháng, nhạc phẩm “Yumeshibai” mở đường cho nhiều bản nhạc ăn khách khác, đánh dấu sự hợp tác dài lâu giữa Tomio Umezawa với tác giả Kei Ogura. Nhạc sĩ này sau đó sáng tác cho Tomio nhạc phẩm "Kokoro yuku made" (Tùy theo ý em). Trái ngược hoàn toàn với sân khấu kịch nghệ, nơi ông Tomio nổi bật nhờ dáng vẻ cuốn hút của những vai nữ, khi chuyển sang ca hát, Tomio Umezawa lại có một chất giọng quyến rũ trầm ấm, mạnh mẽ đầy nam tính. Ca khúc nổi tiếng nhất của Tomio Umezawa "Kokoro yuku made" có nhiều lời Việt khác nhau. Ngoài phiên bản "Một thuở yêu người" của tác giả Khúc Lan, còn có nhạc phẩm "Yêu em ngàn đời (khó quên)" của nhạc sĩ Trịnh Nam Sơn, "Tình và đời" của Jimmii Nguyễn, "Tình xưa không phai" của tác giả Chu Minh Ký (Minh Thuận). Gần đây hơn nữa, có bài "Tình cũ chưa phai" do Đặng Thanh Tuyền sáng tác và trình bày. Các bản ghi âm lời Việt sau này gần với bản tiếng Hoa của Trương Học Hữu với tựa đề "Tình xưa còn vương vấn" hơn là bản gốc tiếng Nhật "Tùy theo ý em". Trong chương trình tuần này, có hai liên khúc "Một thuở yêu người & Dạ khúc nửa vầng trăng" (giọng ca nữ) và "Một thuở yêu người & Tình nhạt phai (giọng ca nam). Cánh chim bay ngược gió Giữa bầu trời âm u Cho ước nguyện mịt mù Tình xưa đừng dang dở Từ hố sâu vực thẳm Lên trời cao lồng lộng Tim chịu đựng vang vọng Bao tiếng sấm âm thầm Mưa gội tình thuần khiết Không dối gian tì vết Dù chết vẫn mãn nguyện Được yêu người trọn kiếp

  3. Jul 18

    Tưởng niệm danh ca Bonnie Tyler : "Trái tim nhật thực"

    Chỉ cần cất lên tiếng hát, dù với giai điệu nào đi chăng nữa, giọng ca của Bonnie Tyler đều được hầu như mọi người nhận ra ngay : một chất giọng khàn đục, gai góc đầy nội lực, trong vibrato co nhiều vết gẫy. Giọng ca độc đáo ấy giờ đây không còn nữa. Bonnie Tyler đã đột ngột qua đời ở tuổi 75 tại Faro, Bồ Đào Nha hôm 08/07/2026 do biến chứng sau ca phẫu thuật đường ruột. Sinh trưởng tại làng Skewen xứ Wales, Bonnie Tyler (tên thật là Gaynor Hopkins 1951-2026) bắt đầu sự nghiệp biểu diễn như một ca sĩ chuyên hát cover trong các phòng trà, hộp đêm ở thành phố Swansea. Tài nghệ của cô lọt vào mắt nhà sản xuất Roger Bell, nhờ vậy Bonnie Tyler ký hợp đồng thu âm đầu tiên với hãng đĩa RCA, năm cô 24 tuổi. Bonnie Tyler thành danh ngay từ album phòng thu đầu tay "The world starts tonight" (Thế giới bắt đầu đêm nay) nhờ vào ca khúc chủ đạo "Lost in France" lọt vào Top Ten đĩa đơn tại vương quốc Anh. Nhạc phẩm kế tiếp "It's a Heartache" phát hành vào cuối năm 1977 giúp Bonnie Tyler chinh phục thị trường quốc tế : hạng nhất tại châu Âu, Uc, Brazil, Canada hay Nam Phi, hang ba trên thị trường Hoa Kỳ. Thời kỳ huy hoàng nhất của Bonnie Tyler là vào những năm 1980, thời cô hợp tác với nhà soạn nhạc Jim Steinman (tác giả này thành công với Meat Loaf và sau đó nữa là Céline Dion). Vào năm 1983, Bonnie Tyler cho ra đời nhạc phẩm "Total eclipse of the Heart", trích từ "Faster than the Speed of Night", album phòng thu thứ 5 của cô. Bản nhạc này lập kỷ lục số bán tại châu Âu, đứng đầu bảng xếp hạng vương quốc Anh cũng như trên thị trường Mỹ trong nhiều tuần liên tục, nhờ vậy, Bonnie Tyler nhận hai đề cử Grammy năm 1984, bao gồm giải Giọng ca nữ xuất sắc nhất. Tác giả người Mỹ Jim Steinman từng nhận xét rằng ông đã viết nhạc phẩm "Total eclipse of the Heart" như một màn trình diễn cân xứng với giọng ca của Bonnie Tyler. Trong tiếng Việt, bài này từng được tác giả Quốc Bảo chuyển thành nhạc phẩm "Trái tim nhật thực", do ca sĩ Hồng Hạnh ghi âm. Thành công này mở đường cho Bonnie Tyler ghi âm nhiều bản nhạc ăn khách, hợp tác với nhiều tác giả nôi tiếng khác như Diane Warren, Albert Hammond, Giorgio Moroder và nhất là Desmond Child (Kiss, Bon Jovi, Michael Bolton .....) cho dù giai đoạn sau khó thê sánh bằng thời kỳ của Jim Steinman với hàng loạt bản nhạc đình đám, thành công vang dội như "Holding out for a Hero", một trong những ca khúc chủ đạo của bộ phim ca nhạc "Footlose". Trong vòng 50 năm sự nghiệp ca hát, Bonnie Tyler đã thực hiện 18 album phòng thu và bán được hơn 50 triệu bản trên toàn thế giới. Những năm cuối đời, Bonnie Tyler vẫn thường xuyên tham gia các show truyền hình và tiếp tục biểu diễn trên sân khấu, gần đây nhất là vào tháng 03/2026 tại Luân Đôn. Ra đi khá sớm, trong lúc còn nhiều dự án dang dở, album phòng thu cuối cùng của Bonnie Tyler mang tựa đề "The best is yet to come" (Những điều tốt đẹp nhất vẫn còn ở phía trước). Có một chi tiết khá thú vị, đáng lưu ý là nhạc phẩm (Simply) "The Best"  mà hầu như mọi người đều biết đến qua giọng ca của Tina Turner, thật ra ban đầu là một bài hát gốc của Bonnie Tyler. Do Mike Chapman và Holly Knight sáng tác, bài hát này được Bonnie Tyler ghi âm lần đầu tiên vào năm 1988 trên album "Notes from America" (Hide your heart). Mãi đến hơn một năm sau, giai điệu này mới được Tina Turner ghi âm lại cho album "Foreign Affair" với phần độc tấu kèn saxo của Edgar Winter. Sau này, Bonnie Tyler thừa nhận trình đô diễn đạt tuyệt vời trong bản ghi âm của Tina Turner. Chi tiết thú vị thứ nhì là chất giọng khàn khàn đặc trưng của Bonnie Tyler ban đầu không phải là tự nhiên mà thật ra xuất phát  từ cuộc phẫu thuật cắt bỏ hạt xơ dây thanh quản vào năm 1977. Mặc dù bác sĩ khuyên cô nên nghỉ ngơi ít nhất trong 6 tuần để phục hồi giọng hát, nhưng do không chịu tiết kiệm lời nói, cho nên thời gian hồi phục lại kéo dài thành 6 tháng và chất giọng của Bonnie Tyler rốt cuộc đã  biến đổi, nhưng ngạc nhiên thay, lại có phần hay hơn trước. Điều mà lẽ ra có nguy cơ làm chệch hướng sự nghiệp lại biến thành một tài sản đặc biệt : khi dây thanh quản bị tổn thương, chưa lành vết, lại trở thành một trong những giọng ca hàng đầu của làng nhạc chuyên nghiệp : một chất giọng độc đáo riêng biệt, một dấu ấn khó bắt chước nhưng lại dễ nhận biết.

  4. Jul 11

    50 năm giai thoại "Anh thì không" và phiên bản mới "Toi Jamais" của Oria

    Nhạc phẩm "Toi Jamais" (Anh thì không) là một giai điệu do nhạc sĩ Michel Mallory sáng tác. Bài này do Sylvie Vartan ghi âm cho album phòng thu thứ 15 của bà mang tựa đề "Qu'est ce qui fait pleurer les blondes" (Điều gì khiến các cô gái tóc vàng phải khóc)  được phát hành vào năm 1976, tức cách đây đúng 50 năm. Giai điệu "Toi Jamais" (Anh thì không) đã cho ra đời khá nhiều bản cover, trong số này có phiên bản của Jean Manson hay của Isabelle Castro. Nổi tiếng nhất là bản phóng tác theo điệu bolero của ngôi sao màn bạc Catherine Deneuve, ghi âm vào năm 2001 cho bộ phim "8 Femmes" (8 người đàn bà) của đạo diễn Pháp François Ozon. Gần đây hơn, có phiên bản phóng tác của ca sĩ trẻ tuổi Oria. Sinh trưởng tại thành phố Nice, miền nam nước Pháp, Oria xuất thân từ một gia đình có hai dòng máu : mẹ là người Tunisia, bố là người đảo Corse. Hiện giờ, cô sinh sống và làm việc tại Cannes. Từ thời thơ ấu, Oria đã có năng khiếu ca hát nhờ được nghe rất nhiều ca khúc tiếng Pháp ở trong nhà, trong số những nghệ sĩ mà bố mẹ cô thường hay nghe có Édith Piaf và Dalida. Vào năm 25 tuổi, Oria thu hút sự chú ý của giới yêu nhạc trên mạng xã hội nhờ bản cover của nhạc phẩm "Toi Jamais" Anh thì không (lời Việt của tác giả Vũ Xuân Hùng). Nhưng theo Oria, lần đầu tiên cô được nghe bài hát này không phải là bản gốc của Sylvie Vartan, mà lại là một bản phóng tác của một nhóm nhạc jazz. Do rất thích giai điệu này, nên Oria mới tìm hiểu thêm về bản nhạc gốc và cũng từ đó, cô bắt đầu ngưỡng mộ Sylvie Vartan, một sự kết nối gần như là tình cờ và có thể nói là ban đầu, chính giai điệu du duơng đã làm cho trái tim của Oria rung động xao xuyến. Kết hợp dòng nhạc Pháp kinh điển với nhiều ảnh hưởng phương Đông, chủ yếu là Liban và Ai Cập, Oria đang được xem là một trong những giọng ca đầy triển vọng của năm 2026. Khi cover lại các nhạc phẩm "Une belle histoire" của Michel Fugain hay  "Mon amie la rose" của Françoise Hardy, Oria đã cho thấy nét tinh tế trong lối diễn đạt nhờ chất giọng giàu cảm xúc, với khá nhiều ảnh hưởng của giọng ca người Ai Cập Natacha Atlas kết hợp với các nhịp điệu tân thời. Hiện giờ, Oria đang chuẩn bị cho album đầu tay của mình qua hai nhạc phẩm mới là "Soirée mondaine" và "Princesse de la Nuit". Hy vọng rằng cô sẽ gặt hái được nhiều thành công trong bước khởi đầu sự nghiệp. Có một điều khá thú vị về nhạc phẩm "Toi Jamais" (Anh thì không). Khi bắt tay thực hiện album phòng thu thứ 15 của Sylvie Vartan, nhạc sĩ Michel Mallory nằm trong nhóm sáng tác thứ nhì tham gia vào dự án này. Nhóm đầu tiên gồm các tác giả Delanoë, Lemesle chuyên phóng tác những bài hát Anh Mỹ ănkhách sang tiếng Pháp, một trào lưu thịnh hành vào những năm 1970 : "Qu'est ce qui fait pleurer les blondes" (Điều gì khiến các cô gái tóc vàng phải khóc) được đặt lời từ bản nhạc gốc (Ride the Lightning) của ca sĩ người Nam Phi John Kongos. Còn nhạc phẩm "La drôle de fin" trong nguyên tác là ca khúc "Last Tango" của ban nhạc Esperanto. Trong nhóm sáng tác thứ nhì chuyên soạn nhạc tiếng Pháp, có Eddy Vartan (anh trai  của Sylvie), Gilles Thibault và Michel Mallory. Cùng với Marc Benoist, Michel Mallory đã sáng tác nhạc phẩm "Toi Jamais" (Anh thì không) dù biết rằng bài hát của họ sẽ không được phát hành trên đĩa đơn và ta có thể thấy điều này trong lối hoà âm, ít trau chuốt hơn so với các nhạc phẩm chủ đạo. Nhưng rốt cuộc với thời gian, giai  điệu thành công nhất trên album phòng thu thứ 15 của Sylvie Vartan chính là nhạc phẩm "Toi Jamais" (Anh thì không). Những bản cover giúp cho bản  nhạc  này trụ vững với năm tháng, chinh phục được thêm nhiều người yêu nhạc, một giai điệu tha thiết lãng mạn không ngại bị quên lãng, năm tháng cuốn trôi, thời gian cuộn xiết làm cho phai tàn.

  5. Jun 27

    Clive Davis : Nhà sản xuất âm nhạc tài ba nhất mọi thời đại

    Đó là danh hiệu mà sinh thời, nữ hoàng nhạc soul Aretha Franklin đã tặng cho ông Clive Davis. Ông trùm của ngành công nghiệp thu âm, từng làm nên tên tuổi của nhiều ngôi sao hàng đầu, ngoài Aretha Franklin, còn có Alicia Keys, Billy Joel, Bruce Springsteen, các nhóm Santana, Chicago hay Westlife và nhất là thần tượng nhạc pop Whitney Houston. Ông Clive Davis vừa qua đời hôm 22/06/2026 tại nhà riêng ở New York, hưởng thọ 94 tuổi. Sinh trưởng tại quận Brooklyn, New York, ông Clive Davis (1932-2026) xuất thân từ một gia đình khiêm tốn, cha ông làm nghề thợ điện, mẹ ông qua đời sớm khi Clive vẫn còn là một thiếu niên. Nhờ tính cần mẫn chăm chỉ, ông nhận được học bổng toàn phần và tốt nghiệp ngành luật đại học Harvard vào năm 1956. Ở tuổi 28, ông bước chân vào ngành công nghiệp thu âm với tư cách là luật sư tại Columbia Records một chi nhánh của hãng đĩa CBS, trước khi chuyển sang ban quản lý và trở thành giám đốc điều hành vào năm 1966. Bị sa thải vào năm 1973, ông quyết định thành lập một công ty thu âm khác là hãng đĩa Arista. Thời gian sau đó, ông tiếp tục làm việc đến những năm cuối đời cho tập đoàn giải trí Sony Music Entertainment. Theo nhận xét của nam danh ca Barry Manilow (thành danh nhờ ký hợp đồng với Arista) : Clive Davis có đầu óc thực dụng của một chuyên viên ngân hàng và đôi tai nhạy bén của một thanh niên mê nhạc, nhờ vậy mà ông nắm bắt rất nhanh những trào lưu có triển vọng trở nên phổ biến, thịnh hành trong dòng văn hóa đại chúng. Ngôi sao đầu tiên do ông Clive Davis phát hiện chính là Janis Joplin, ông ký hợp đồng lăng xê giọng ca này tại Liên hoan âm nhạc Monterey vào mùa hè năm 1967, đánh dấu một cột mốc quan trọng trong phong trào hippie. Ông cũng từng thuyết phục ban song ca Simon và Garfunkel hoàn chỉnh phần thu âm nhạc phẩm "Bridge over troubled water" giúp giai điệu này thành công rực rỡ trên đài phát thanh. Nhờ biết khám phá những tài năng mới, ông góp phân nâng tầm sự nghiệp của nhiều nhạc sĩ lớn trong làng nhạc pop rock cuối thế kỷ XX, đầu thế kỷ XXI. Tuy không phải là nghệ sĩ biểu diễn, nhung Clive Davis lại giành được 4 giải Grammy trong vai trò nhà sản xuất. Năm 2000, ông được tôn vinh tại Đại sảnh Danh vọng Rock and Roll nhờ tầm ảnh hưởng mạnh mẽ và những đóng góp đáng kể cho ngành thu âm. Báo chí công nhận cái biệt tài của ông Clive Davis, nhờ "đôi tai vàng" mà tiên đoán được những ngôi sao tương lai trong làng nhạc chuyên nghiệp, thay đổi diện mạo làng nhạc quốc tế. Cũng từ đó, Clive Davis trở thành một ông trùm đầy uy tín và quyền lực trong ngành công nghiệp giải trí. Trong mắt nhạc sĩ Carlos Santana, ông Clive Davis là một người có tầm nhìn xa, ông có thể cảm nhận được trước rất nhiều điều, mà mãi về sau này, người khác mới có thể nhìn thấy. Carlos Santana biết ơn ông Clive Davis vì ông đã hai lần tạo cơ hội thành công cho nhóm này. Lần đầu tiên là vào những năm 1970, Clive Davis đã ký hợp đồng với ban nhạc Santana trong nỗ lực biến hãng đĩa  Columbia thành một công ty thu âm hùng mạnh. Nhóm Santana đã có một thời kỳ thành công ngoạn mục nhờ vào sự dìu dắt của Clive Davis, đặc biệt với hai album phòng thu đứng đầu bảng xếp hạng là Abraxas và Santana III, các đĩa đơn cực kỳ ăn khách như "Evil Ways, Oye Cómo Va" và nhất là "Black Magic Woman".  Khi ban nhạc Santana tái hợp vào cuối những năm 1990, nhóm này thành công một lần nữa khi ký hợp đồng với hãng đĩa Arista dưới sự điều hành của ông Clive Davis. Album "Supernatural" đánh dấu ngày tái xuất của Santana đã đoạt 9 giải Grammy năm 2000, bao gồm cả giải dành cho album và bài hát hay nhất trong năm, phá luôn kỷ lục do ông hoàng  nhạc  pop Michael Jackson nắm giữ với album "Thriller" vào năm 1983. Ngoài  nhóm Santana, nhiều nghệ sĩ từng hợp tác với ông Clive Davis đã ngõ lời tri ân, tưởng niệm  nhà sản xuất kỳ cựu, kể cả Alicia Keys, Rod Stewart hay Bruce Springsteen. Trong số những nghệ sĩ hàng đầu, người mà ông cảm thấy gắn bó nhất vẫn là diva nhạc pop Whitney Houston, một trong những giọng ca ăn khách nhất mọi thời đại. Sự ra đi quá đột ngột của Whitney Houston vào đầu năm 2012 (dù chi mới 48 tuổi) là một tấn bi kịch đối với nhà sản xuất. Ông từng nói rằng, sự kiện đau buồn này luôn nhắc nhở ông một cách sâu sắc : những người quan trọng nhất trong đời mình có thể biến mất chỉ trong chớp mắt. Ngày Clive Davis vĩnh biệt cõi đời, thế giới của những "big hits" từ nay đã mất một "Big Boss", nhưng nhờ được ông dìu dắt mà nhiều tài năng không sớm bị mai một.

  6. Jun 20

    Nhạc Nhật lời Việt : Đặng Lệ Quân, "Xin thời gian ngừng trôi"

    Với sự nghiệp trải dài trên gần ba thập niên, Đặng Lệ Quân (Teresa Teng, 1953-1995) là nghệ sĩ đầu tiên kết nối Nhật Bản với phần lớn các nước châu Á. Sinh thời, diva người Đài Loan đã thành công ghi âm nhiều bản nhạc pop Nhật Bản, những bài hát này sau đó đã chinh phục châu Á nhờ được dịch sang nhiều ngôn ngữ khác nhau, kể cả tiếng Quan Thoại, bahasa Indonesia, tiếng Hàn hay tiếng Việt. Danh ca Đặng Lệ Quân khởi đầu sự nghiệp của mình tại Nhật Bản vào đầu năm 1974. Lúc bấy giờ cô đã là một nghệ sĩ thành danh tại các nước Hoa ngữ. Cô phát hành đĩa đơn tiếng Nhật đầu tay "No matter tonight or tomorrow" nhưng không mấy thu hút sự quan tâm của công chúng. Công ty thu âm Watanabe đã cân nhắc việc duy trì quan hệ hợp tác với cô, nhưng trước thành công của giọng ca Đài Loan trên thị trường châu Á, công ty đã quyết định phát hành thêm vài đĩa đơn để thử xem tiềm năng của giọng ca này. Vào mùa hè năm 1974, hãng này cho phát hành đĩa đơn thứ nhì của cô, "Airport" (Sân bay) tựa tiếng Nhật Kūkō có nghĩa là "Không Cảng" theo phiên âm Hán Việt. Một cách bất ngờ, bài hát này lập kỷ lục số bán với gần 1 triệu bản. Sau đó, Đặng Lệ Quân cho ra mắt một số đĩa đơn ăn khách khác, bao gồm "Yukigesho" (Tuyết phủ trắng xóa), "The night ferry" (Chuyến phà đêm) hay "Goodbye, my love" (Giã biệt người tình) được đưa vào album tiếng Nhật đầu tiên của diva người Đài Loan. Ngoài việc phát âm rất chuẩn hầu hết các ngôn ngữ khi thu âm, Đặng Lệ Quân còn có lối diễn đạt tinh tế nhẹ nhàng, gói trọn ý tứ trong từng câu chữ, rồi vẽ ra một khung trời mông lung lãng mạn, dạt dào tình cảm. Đến nay, những ca khúc của cô đã được nhiều nghệ sĩ trên khắp thế giới cover lại. Năm 2007, cô được vinh danh trong Đại sảnh Danh vọng tại Bảo tàng Âm nhạc Koga Masao ở Nhật Bản, trở thành người duy nhất không mang quốc tịch Nhật Bản nhận được vinh dự cao quý này. Năm 1986, Teresa Teng là nghệ sĩ châu Á đầu tiên lọt vào danh sách những giọng ca nổi tiếng hàng đầu thế giới, theo bình chọn của tạp chí Time của Hoa Kỳ. Bài hát nổi tiếng nhất trích từ album tiếng Nhật đầu tiên của Đặng Lệ Quân là nhạc phẩm "Kuko" (Sân bay). Tác phẩm của hai nhạc sĩ Kosho Inomata (nhạc) và Michio Yamagami (lời) có giai điệu bán cổ điển buồn man mác, và nội dung nói về giây phút chia tay ở sân bay, thấm đẫm những dòng lệ nhạt nhòa, buồn đau biết mấy. Bài hát nay mang về cho  Đặng Lệ Quân giải Tài năng mới xuất sắc nhất nhân Lễ trao giải Thu âm Nhật Bản năm 1974. Trong tiếng Việt, bài này đã được phóng tác nhiều lần : "Xin thời gian ngừng trôi" qua cách đặt lời của tác giả Nhật Ngân ; "Sao đành xa nhau" được cho là của nhạc sĩ Nguyễn Văn Thành ; "Cánh chim lạc loài" theo lối phóng tác của tác giả Minh Tâm ; "Em là áng mây" là của tác giả Khúc Lan. Nhưng "Kuko" (Sân bay) không chỉ đơn thuần là giây phút giã từ của một đôi tình nhân, mà lại được viết như một cảnh quay phim, khi người phụ nữ trong câu chuyện tình tay ba, đến phi trường tiễn biệt người yêu lần cuối, khuyên anh ấy hồi hương, đoàn tụ với gia đình, tìm lại vợ con. Mưa tuôn trên phi trường  Muôn lối giăng mờ sương Hạnh phúc theo chuyến bay Khuất dần cuối trời mây    Tình vượt khỏi tầm tay Từ nay không còn thấy  Người đi nước mắt đầy Kẻ ở, một mình say   Lặng lẽ hôn vĩnh biệt  Không cần nói vẫn biết  Giây phút đành xa nhau    Vạn nỗi đau ngọt ngào.

  7. Jun 13

    Nhạc ngoại lời Việt : Các bản tình ca vòng quanh thế giới của nhóm Music Travel Love

    "All out of love" là một bản nhạc nổi tiếng của nhóm Air Supply. Phiên bản ghi âm gần đây nhất là của ban song ca Music Travel Love. Đằng sau danh hiệu khá ngộ nghĩnh này là hai anh em sinh đôi người Canada chuyên thu thanh và biểu diễn những bản cover tuyệt vời tại những danh lam thắng cảnh hàng đầu thế giới. Trung thành với chủ trương của nhóm, chia sẻ niềm đam mê ca hát và du lịch với giới yêu nhạc, ban song ca Music Travel Love còn thường được gọi tắt là MTL lần này đã thực hiện video clip ca nhạc trong khung cảnh mê hoặc của Hồ Nhật Nguyệt nhân chuyến lưu diễn ở Đài Loan. Vài tháng trước đó, nhóm MTL đã từng thu hình tại Thác nước biếc ở vùng Chiapas, Mexico, quần đảo Palawan ở miền nam Philippines, bang Meghalaya miền đông bắc Ân Độ. Vào năm 2023, ban song ca MTL từng đến Việt Nam để thu hình bản phóng tác "I still haven't found what i'm looking for" của nhóm U2 tại quần thể du lịch Bà Nà ở Đà Nẳng. Sinh trưởng tại Vancouver, trong một gia dình mà hầu hết các thành viên đều biết chơi nhạc, nhóm MTL có thể nói là hậu thân của ban nhạc đồng quê The Moffatts, nổi tiếng tại Canada vào những năm 1990. Nhóm The Moffats ban đầu gồm 4 thành viên (Scott, Clint, Bob và Dave Moffatt). Họ từng ký hợp đồng với các hãng đĩa lớn : Polydor Records và chi nhánh của EMI Electrola ở Đức. Trong giai đoạn đầu, nhóm The Moffatts đã bán  hơn 6 triệu đĩa nhạc, nhận được đĩa vàng tại 32 quốc gia. Vào đầu những năm 2000, ban nhạc The Moffatts chia tay nhau, hai anh em song sinh Clint và Bob Moffatt tiếp tục hành trình âm nhạc của họ qua việc thành lập cuối năm 2016 ban nhạc Endless Summer (Mùa hè vô tận). Đến năm 2019, hai anh em sinh đôi chính thức đổi tên ban nhạc thành Music Travel Love. Ngay từ khi hoạt động với đội hình thu gọn, nhóm MTL phát huy sở trường hát cover của mình và bắt đầu thu hình, minh họa cho các bản nhạc kinh điển trên khắp thế giới. Các video clip của nhóm thu hút hàng trăm triệu lượt người xem, và tính đến nay, trang âm nhạc của nhóm MTL có hơn 750.000 thành viên đăng ký trên mạng. Music Travel Love trở nên nổi tiếng nhờ những bản cover với lối hoà âm rất mộc (acoustic) tại nhiều địa điểm thuộc vào hàng danh lam thắng cảnh, nếu không nói là kỳ quan thế giới, nổi bật hàng đầu là những bãi biển thơ mộng tại Đông Nam Á, các dãy núi hùng vĩ ở Bắc Mỹ hay sa mạc mênh mông ở vùng Trung Đông. Vào năm 2024, ban song ca MTL đã thực hiện vòng lưu diễn Đông Nam Á, biểu diễn thành công tại nhiều thành phố lơn Bangkok, Manila, Jakarta, Đài Loan, Singapore hay Kuala Lumpur. Chuyến lưu diễn này có sự tham gia của các nghệ sĩ châu Á, dung hoà nhiều phong cách âm nhạc khác nhau. Sự hợp tác ấy đã giúp quảng bá nhiều điểm đến du lịch với giới hâm mộ ở nước ngoài. Trong những năm gần đây, nhóm MTL đã mở rộng hợp tác với nhiều nghệ sĩ quốc tế thông qua dự án Music Travel Love & Friends, trong số này phải kể đến Anthony Uy (How deep is your love), Bugoy Drilon (Nothing's gonna change my love for You). Vào năm 2023, nhóm MTL hợp tác với ban nhạc Đan Mạch Michael Learns to Rock, rất ăn khách ở Việt Nam cách đây vài thập niên và gần đây hơn nữa là Sheridan Brass qua nhạc phẩm "When a man loves a woman" tạo dấu gạch nối giữa bản gốc của Percy Sledge và bản phóng tác của Michael Bolton. Thành công của nhóm MTL nằm ở chỗ nhóm này khéo kết hợp âm nhac và du lịch, hai yếu tố phổ quát nhất hiện thời. Làm thế nào mà không rung động bồi hồi trước những bản cover mộc mạc tuyệt vời tại những nơi đẹp như tranh vẽ, muôn sắc sáng ngời. Tình yêu cho âm nhạc tựa như hành trình bất động, đưa trái tim người nghe đi vòng quanh thế giới.

  8. Jun 6

    Nhạc Nhật lời Việt : Masatoshi Nakamura, mưa bão trong lòng

    Trong vòng một thời gian dài, nhiều bản nhạc gốc tiếng Nhật của Masatoshi Nakamura thường bị ghi chép sai là sáng tác tiếng Hoa, có lẽ cũng vì những bài hát này từng ăn khách trong tiếng Quan thoại hay Quảng Đông qua các giọng ca như Quan Thục Di (Shirley Kwan) hay Hoàng Khải Cần (Christopher Wong). Bài hát đầu tiên làm nên tên tuổi của Masatoshi Nakamura chính là giai điệu "Fureai", từng được chuyển sang lời Việt thành nhạc phẩm "Mưa bão trong lòng". Thành danh vào giữa thập niên 1970, Masatoshi Nakamura là một nghệ sĩ đa tài, nổi tiếng nhờ những đóng góp của ông cho ngành giải trí kể cả truyền hình, điện ảnh và âm nhạc phổ thông từ những năm 1970. Sinh trưởng (1951) tại thành phố Onagawa, tỉnh Miyagi, Masatoshi Nakamura sau khi đậu tú tài, theo học ngành kinh tế tại Đại học Keio. Khi vẫn còn ngồi trên ghế nhà trường, ông ghi tên theo học lớp đào tạo diễn xuất của đoàn kịch Bungakuza, đánh dấu bước khởi đầu của ông vào lãnh vực sân khấu.  Ông Masatoshi Nakamura bắt đầu sự nghiệp diễn xuất của mình vào năm 1974, ngay sau khi rời trường đại học và tốt nghiệp khoá đào tạo kịch nghệ. Ông đóng vai chính Shun Okita trong bộ phim truyền hình nhiều tập "Warera Seishun" trên kênh truyền hình Nippon TV và nhanh chóng trở nên nổi tiếng. Trên đà thành công này, ông ghi âm ca khúc "Fureai", để quảng bá cho bộ phim truyền hình. Khi được phát hành trên đĩa đơn vào mùa hè năm 1974, bản nhạc phim đạt vị trí quán quân trên bảng xếp hạng thị trường Nhật trong nhiều tuần liên tục và bán được hơn một triệu bản.  Sự nghiệp của Masatoshi Nakamura nhanh chóng cất cánh, ông thành danh cùng lúc trong cả hai lãnh vực đóng phim và ca hát, đánh dấu sự khởi đầu ngoạn mục trong làng giải trí. Trong nghề diễn xuất, sự nghiệp của Matasoshi Nakamura trải dài trong nhiều thập niên, do ông có khả năng đóng nhiều vai, chính kịch cũng như hài, hợp với nhiều thể loại cổ trang sử thi, phim hồi hộp trinh thám, phim tâm lý tình cảm. Ông cũng khéo chọn kịch bản, phim truyền hình hay phim quay cho màn ảnh rộng được coi trọng như nhau, không phân biệt vai chính hay vai phụ, miễn là phim có kịch bản hay và nhân vật có chiều sâu. Còn trong lãnh vực âm nhạc, sau khi thành công vào mùa hè năm 1974 với đĩa đơn đầu tay, Masatoshi Nakamura hợp tác với các nhà soạn nhạc có uy tín thời bấy giờ, để ghi âm những bản nhạc ăn khách, trụ vững trên bảng xếp hạng trong nhiều tuần liên tục. Nhìn lại, ông Matasoshi Nakamura đã hiện diện trong làng giải trí ở Nhật Ban trong nửa thế kỷ, ông đã đóng khoảng 50 bộ phim đủ loại. Trong làng nhạc, ông thường xuyên tham gia các show truyền hình cũng như tổ chức các chuyến lưu diễn hàng năm, để  gặp gỡ giới hâm mộ. Tính tới nay, ông đã ghi âm hơn 30 album phòng thu. Trong số các album phát hành gần đây của ông, có tuyển tập kỷ niệm 50 năm sự nghiệp ca hát và bộ sưu tập đĩa đơn bao gồm nhiều bản nhạc phim. Trong số những ca khúc nổi tiếng của Matasoshi Nakamura, dĩ nhiên phải nhắc đến "Fureai". Bài này từng được tác giả Khúc Lan chuyển sang lời Việt thành nhạc phẩm "Mưa bão trong lòng" và do nhiều nghệ sĩ ghi âm, trong đó có phiên bản gần đây của nam ca sĩ Quốc Thiên. Ngoài ra, còn có giai điệu "Koibito MoNureru Machikado". Bài này có nhiều lời Việt khác nhau. Lời đầu tiên "Cuộc tình trong cơn mưa" là của tác giả Huỳnh Nhật Tân. Lời Việt thứ nhì với tựa đề "Hoài Mộng" là của tác giả Khúc Lan. Tại Nhật Bản, nhiều thế hệ từng lớn lên với những bô phim cũng như những bài hát của Matasoshi Nakamura. Gương mặt này đã trở nên gần gũi với công chúng từ lúc nào không hay và có lẽ cũng vì thế, trong các cuộc thăm dò dư luận, ông thường xuyên được bình chọn là một trong những nhân vật nổi tiếng luôn được khán giả Nhật qúy trọng yêu mến, những bài hát của ông càng được nhiều người biết dến, trong giới sinh viên cũng như bậc cao niên.

Ratings & Reviews

4.3
out of 5
4 Ratings

About

Góc vườn âm nhạc của RFI

More From RFI Tiếng Việt

You Might Also Like