Tạp chí âm nhạc

Góc vườn âm nhạc của RFI

  1. 5D AGO

    Céline Dion & Jean-Jacques Goldman : Cặp bài trùng tuyệt vời

    Mười năm sau khi phát hành album tiếng Pháp và trước khi trở lại sân khấu Paris vào mùa thu năm 2026, Céline Dion hồi trung tuần tháng Tư vừa cho ra mắt một giai điệu hoàn toàn mới do Jean-Jacques Goldman soạn nhạc. Chính tác giả này đã giúp Céline Dion chinh phục thị trường khối Pháp ngữ cách đây ba thập niên, qua việc khuyến khích diva người Canada thay đổi phong cách diễn đạt, khi hát bằng tiếng Pháp.  Trả lời phỏng vấn báo chí, tác giả Jean-Jacques Goldman từng cho biết, trên phương diện âm nhạc ít có ai gây nhiều ấn tượng với anh bằng Céline Dion. Tình bạn giữa diva đến từ vùng Québec và tác giả người Pháp kéo dài trong hơn 30 năm qua. Quan hệ hợp tác này đã cho ra đời nhiều bản nhạc kinh điển : chẳng hạn như "Pour que tu m'aimes encore" (Mong người vẫn yêu ta), "Je sais pas" (Ta đâu biết), "S'il suffisait d'aimer" (Nếu chỉ cần thương yêu) hay "Encore un soir" (Chỉ một đêm nữa thôi) ... Bài hát vừa được phát hành mang tựa đề "Dansons" (Dìu nhau trong điệu nhảy), được sáng tác vào thời kỳ đại dich Covid-19, khi tiếng đàn, khúc hát giúp cho bao gia đình xoa dịu những thiệt thòi, mất mát : Khi đời nổi giông tố Đừng chịu trận dưới mưa Phong ba hồn vực thẳm Càng quay cuồng điệu múa Về mặt nghệ thuật, đôi bạn Dion & Goldman khá tâm đầu ý hợp. Điều đó giải thích, vì sao mặc dù đã tuyên bố giải nghệ khá lâu, nhưng tác giả Goldman luôn có mặt, khi Céline Dion cần đến sự tiếp sức của anh. Vào giữa những năm 1990, Céline Dion đang thành công rực rỡ trên thị trường quốc tế, liên tục lập kỷ lục số bán với các album tiếng Anh : Cả hai tâp nhạc "Falling into you" và "Let's talk about love" đều bán được hơn 30 triệu bản. Nhưng trên thị trường Pháp, Céline vẫn chưa thực sự có một bản nhac nào cân xứng với tầm vóc của mình, cho dù vào năm 1988 Céline từng đoạt giải Eurovision cho Thụy Sĩ nhờ bài hát tiếng Pháp "Ne partez pas sans moi" (tạm dịch "Hãy cho tôi đi cùng"). Danh ca Jean-Jacques Goldman là người đã giúp Céline Dion bù đắp sự thiếu sót này, cho dù tác giả người Pháp ít khi nào đề nghị ai đó hợp tác với mình. Goldman từng sáng tác nguyên một album dành riêng cho Johnny Hallyday, nhưng theo yêu cầu của danh ca nhạc rock. Bù lại, trong trường hợp của Céline Dion, Goldman lại chủ động đề nghị soạn nhạc cho diva người Canada. Vào mùa xuân năm 1995, Jean-Jacques Goldman thực hiện album phòng thu tiếng Pháp "D'eux", đánh dấu lần hợp tác đầu tiên giữa hai tên tuổi lớn. Album này đã thay đổi sâu sắc sự nghiệp ghi âm tiếng Pháp của Céline Dion, khi trở thành album ăn khách nhất trong lịch sử nhạc pop tiếng Pháp, với hơn 12 triệu bản được bán trên thế giới. Ngoài việc sáng tác theo kiểu đo ni đóng giày cho Céline Dion, Goldman còn "thổi hồn" một cách khéo léo tài tình vào các ca khúc của mình, khuyến khích Céline Dion thay đổi cách diễn đạt, ít khoe giọng và trở nên gần gũi hơn. Tác giả Goldman khuyên Céline nên hát nhè nhe, khe khẽ như thể cô đang ôm một đứa bé trong vòng tay, hát bằng cảm xúc chân thực, với tất cả tấm lòng của một người mẹ đang ru con ngủ. Giới hâm mộ Céline Dion đều thừa biết bản lĩnh của diva người Canada, có kỹ thuật hát điêu luyện, linh hoạt, dựa vào làn hơi khoẻ khoắn để đạt được những nốt nhạc cao vút. Còn tác giả Goldman lại tạo cơ hội cho Céline phát huy lối diễn đạt sâu sắc trầm lắng, tinh tế nhe nhàng. Từ năm 1995 đến năm 2016, cặp bài trùng Dion và Goldman đã vào phòng thu âm 4 lần. Sự hợp tác này cũng làm nổi bật mối liên hệ mật thiết của diva người Canada với tiếng mẹ đẻ, cũng như cội nguồn của mình, ngay cả khi các bản thu âm tiếng Anh của Céline có số bán cao hơn nhiều, thường cao hơn gấp ba lần so với các bản nhạc tiếng Pháp. Sau một thời gian dài vắng bóng sân khấu, sự kiện Céline chọn trở lại Paris vào mùa thu tới chắc hẳn không phải là chuyện tình cờ ngẫu nhiên. Người hâm mộ vẫn còn nhớ màn song ca đầy cảm xúc của cặp bài trùng Dion & Goldman trên sân vận động quốc gia Pháp, Stade de France, năm 1999. Từ nhạc phẩm "J'irai où tu iras" cho đến giai điệu "S'il suffisait d'aimer", ngòi bút Goldman tựa như luồng gió, giúp Céline Dion chắp cánh bay xa hơn nữa, nơi xúc cảm in đậm không gian, khoảnh khắc tĩnh lặng ngập tràn, cõi chốn dịu dàng chứa chan.

    9 min
  2. APR 25

    Nhạc Nhật lời Việt : Akio Kayama, cơn mưa buốt giá

    Trong lãnh vực nhạc trữ tình enka Nhật Bản, "Hisame" (Cơn mưa buốt giá) của tác giả Ren Tomari có lẽ là một trong những bài hát được biết đến nhiều nhất. Hầu hết các ca sĩ trứ danh, và ngay cả những người không chuyên hát thể loại enka (diễn ca), đều đã từng thể hiện bài này trên sân khấu hoặc trước ống kính truyền hình. Trong tiếng Việt, giai điệu này từng được nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng đặt thêm lời thành nhạc phẩm "Tình buồn trên lối xưa". Cách đây một thập niên, nghệ sĩ kỳ cựu Kiyoshi Maekawa (giọng ca chính của nhóm The Cool Five) đã cho ra mắt phiên bản của mình, Akina Nakamori cũng đã từng ghi âm lại bài này vài năm trước đó như một lời tri ân với người hâm mộ. Nhắc đến Hisame, vẫn khó thể nào quên được những giọng ca gắn liền với giai điệu lãng mạn này, trong đó có bản gốc của nam ca sĩ Akio Kayama, ca sĩ enka đầu tiên thể hiện bài này chính là Mika Hino và dĩ nhiên có phiên bản tiếng Nhật cũng như tiếng Hoa của diva người Đài Loan Đặng Lệ Quân (Teresa Teng). Bản gốc của nhạc phẩm Hisame được cho ra mắt vào cuối năm1977. Đây là đĩa đơn đầu tay của nam ca sĩ người Nhật Akio Kayama. Tên thật là Shigehiro Hase, ông sinh trưởng tại thành phố Hakodate ở phía nam đảo Hokkaido.  Vào đầu thập niên 1970, ông trở thành học trò cuối cùng của nhà soạn nhạc trứ danh Masao Koga. Sau một thời gian đi hát bán chuyên nghiệp, ông ký được hợp đồng ghi âm với hãng đĩa Columbia Records, lấy nghệ danh Akio Kayama rồi phát hành album đầu tay. Khi giai điệu "Hisame" được phát hành lần đầu tiên, sự nghiệp của Akio Kayama vẫn chưa thực sự cất cánh. Hầu hết các bài hát được trích từ album đầu tay của ông đều không thành công. Akio Kayama buộc phải trở lại phòng thu để thực hiện nhiều bản phối mới.  Mãi đến khi phát hành phiên bản thứ ba của bài hát này vào mùa hè năm 1982, tức 5 năm sau bản gốc, Akio Kayama mới may mắn hơn, bản phối này được bán gần một triệu bản trong vòng sáu tháng. Bài hát "Hisame" giành được nhiều giải thưởng phát thanh và truyền hình. Và quan trọng hơn nữa, giai điệu này giành được giải thưởng dành cho đĩa hát hay nhất vào năm 1983. Bản phối thứ ba của Akio Kayama khác với hai lần phát hành trước, nhờ phần nhạc dạo đầu u sầu, tha thiết làm say đắm giới ca sĩ chuyên nghiệp, cũng như những người mê nghe nhạc enka. Thời điểm phát hành cũng khá quan trọng, giúp cho giai điệu bén duyên với thính giả, thà muộn còn hơn không. Riêng bản cover nhạc phẩm "Hisame" của Đặng Lệ Quân (Teresa Teng) tuy chưa từng được phát hành chính thức dưới dạng đĩa đơn, nhưng nữ danh ca người Dài Loan nhờ cách nhã chữ có duyên tự nhiên, luôn biết cách tạo cho phiên bản của mình một dấu ấn riêng.  Do nhạc sĩ Ren Tomari sáng tác, "Hisame" hàm chứa những mô típ và chủ đề quen thuộc của dòng nhạc trữ tình enka : uống rượu giải sầu, khi nhân vật trong bài hát ngồi một mình trong quán khuya, khóc cho bản thân vì không còn nhà để về, không còn ai để chờ.  Làn hơi luyến láy ấm nồng, diu dàng mà vẫn đầy đặn, giọng ca Đặng Lệ Quân gắn liền với những làn điệu kinh điển, tài nghệ diễn dạt của diva này có thể khiến bất kỳ bài hát tiếng Nhật nào cũng trở nên tuyệt vời, nâng ý tứ giai điệu lên một tầm cao mới. Mưa bên ngoài chưa ngớt, cho phố đêm đẫm ướt, chẳng còn ai đợi chờ, hồn đã quên kiếp trước.  Men rượu nào say khướt, cho đường quên lối bước, bỏ mặc tim ngoài hiên, giữa mùa đông giá buốt ...

    9 min
  3. APR 18

    Nhạc ngoại lời Việt : Paul Anka, phóng tác và song ca

    "Inspirations of Life and Love" hiểu theo nghĩa Nguồn cảm hứng cho cuộc sống và tình yêu là tựa đề album phòng thu mới của Paul Anka, được phát hành hồi trung tuần tháng 02/2026. Song song với album này, còn có việc tái bản các tuyển tập song ca của ca sĩ người Canada với nhiều nghệ sĩ lừng danh quốc tế. Bao gồm tổng cộng 11 bài hát, album phòng thu vừa được phát hành xen kẻ vài sáng tác mới như "Freedom for You and Me" (Tự do cho chung ta) với các bản thu âm lại của những giai điệu nổi tiếng, từng được phát hành cách đây vài thập niên. Cả hai đĩa đơn trích từ album này, trước kia đều do Giọng ca Vàng Frank Sinatra trình bày, nay được Paul Anka ghi âm lại. Đó là trường hợp của hai nhạc phẩm "Anytime" (Bất cứ lúc nào) và "Let me try again" (Cho ta thêm một lần) từng được ghi âm vào năm 1989  trên album "Somebody loves You". Trong sự nghiệp âm nhạc kéo dài trong 7 thập niên, Paul Anka (84 tuổi) đã tạo dựng một sự nghiệp vững chắc, xuyên qua các trào lưu âm nhạc, dù thi hiếu người nghe có thay đổi. Sinh trưởng tại Ottawa (Canada) sau đó nhập tịch Mỹ, Paul Anka xuất thân từ môt gia đình có hai dòng máu : thân phụ người Syria, thân mẫu gốc Liban.  Nhờ có năng khiếu, Paul Anka ghi âm đĩa hát đầu tay vào năm 14 tuổi, rồi thành danh ba năm sau đó trên thi trường quốc tế với nhạc phẩm "Diana", khi ông chỉ mới 17 tuổi. Kể từ năm 1957 trở đi, hầu như thập niên nào Paul Anka cũng có vài bài hát lọt vào bảng xếp hạng thi trường quốc tế. Tính đến nay, ông đã thu âm hơn 120 album trong nhiều ngôn ngữ khác nhau, bán được gần 80 triệu bản trên toàn thế giới. Nhiều thế hệ nghệ sĩ đã nhớ ơn ông, vì ngoài chất giọng mượt trầm, Paul Anka còn có tài soạn nhiều giai điệu hay, sáng tác những bản nhạc ăn khách. Thời còn trẻ, Paul Anka là một ngòi bút tài ba trong nhóm chuyên sáng tác cho Frank Sinatra trong nhóm Rat Pack (Dean Martin & Sammy Davis Jr). Thập niên 1980, Paul Anka đồng sáng tác hai nhạc phẩm với Michael Jackson. Sau khi lập kỷ lục số bán nhờ bản song ca giữa ông hoàng nhạc pop với Justin Timberlake, nay bài hát "Never felt so good" được đồng tác giả Paul Anka ghi âm lại với một bản phối khí mộc mạc, hoà âm nhe nhàng.  Thập niên 1990, Paul Anka thành công rực rỡ nhờ các tuyển tập song ca với nhiều nghệ sĩ trứ danh như album "Amigos" bằng tiếng Tây Ban Nha hay là tuyển tập "Duets" với sự góp mặt của Céline Dion, Patti LaBelle, Tom Jones, Peter Cetera, ca sĩ chính của nhóm Chicago hay Barry Gibb thuộc ban tam ca Bee Gees. Ông cũng từng giữ vai trò nhà sản xuất, đảm nhiệm album đầu tay của ca sĩ đồng hương Michael Bublé, từng thể hiện lai ca khúc kinh điển "Put your head on my shoulder" của Paul Anka (lời tiếng Việt là "Tựa vai anh" qua phần ghi âm của Jo Marcel).    Album phát hành gần đây của Paul Anka cũng là một cách để cho ông bày tỏ lòng qúy mến với những nghệ sĩ ông từng có dip gần gũi. Ngoài ông hoàng nhạc pop Michael Jackson, tên tuổi  được  nhắc đến nhiều trên album này vẫn là Frank Sinatra, được mệnh danh The Voice (Giọng ca Vàng). Khi phóng tác giai điệu tiếng Pháp "Comme d'habitude" của Claude François thành nhạc phẩm tiếng Anh "My Way", Paul Anka đã tặng bài hát nổi tiếng nhất cho bậc đàn anh.  Bản thân Paul Anka cũng từng ghi âm nhiều lần sáng tác của mình, với giọng ca crooner của Sinatra chuyên hát nhạc trữ tình, cũng như với Julio Iglesias, ông hoàng dòng nhạc La Tinh. Trong mắt tác giả Paul Anka, nguồn cảm hứng cho cuộc sống và tình yêu trước sau vẫn là âm nhạc : một ngôn ngữ vô hình trong góc hồn thầm kín.

    9 min
  4. APR 11

    Nhạc Nhật lời Việt : Takao Horiuchi, tình như giấc mộng

    Với sự nghiệp kéo dài hơn bốn thập niên, Takao Horiuchi là một ca sĩ kiêm tác giả nổi tiếng nhờ những đóng góp cho nhạc pop và dòng nhạc enka (diễn ca) của Nhật Bản. Ông bắt đầu sự nghiệp solo vào giữa những năm 1970 và tính đến nay đã phát hành hơn 40 album đủ loại. Trong số những bài hát ăn khách của ông, có giai diệu "Sake yo" (Rượusầu) từng được chuyển sang lời Việt thành nhạc phẩm "Tình như giấc mộng". Sinh trưởng tại thành phố Osaka, Nhật Bản, Takao Horiuchi lớn lên trong một gia đình khiêm tốn. Bố mẹ ông làm chủ quán ăn Yamaya ở quận Abeno, Osaka. Trong quán ăn gia đình, ông thường được nghe trên đài phát thanh những bản nhạc enka kinh điển và những giai điệu tân nhạc phổ biến. Vào những năm 1960, khi còn là học sinh trung học, niềm đam mê âm nhạc của Takuo Horiuchi ngày càng sâu sắc hơn, ông tự học đàn ghi ta, trau dồi tài nghệ chơi đàn trong các buổi biểu diễn nghiệp dư. Giai đoạn này trùng khớp với sự trỗi dậy của phong trào tân nhạc Nhật Bản, đánh dấu sự kết hợp giữa các truyền thống nhạc dân gian và nhạc pop rock Tây Âu. Khi vào nghề sáng tác, ông lấy cảm hứng từ các nghệ sĩ Mỹ như Bob Dylan hay nhóm tam ca Peter, Paul & Mary. Đầu những năm 1970, Takao Horiuchi cùng với Shinji Tanimura đồng sáng lập ban nhạc rock Nhật Bản tên là Alice. Nhóm này thành công nhanh chóng nhờ kết hợp điệu folk với nhạc pop rock. Những bài hát nói về tuổi trẻ, hoà quyện giai điệu nhè nhẹ với lời ca dễ nghe. Thành công nhanh chóng cũng tạo ra bất đồng trong nhóm. Ban nhạc Alice tan rã sau 4 năm hoạt động, ông Takao Horiuchi khởi nghiệp hát solo qua việc phát hành album đầu tay (Kotoba ni Naranai Okurimono) vào mùa thu năm 1975, đánh dấu một sự chuyển hướng từ phong cách folk rock ban đầu của nhóm sang những bản nhạc trữ tình sâu lắng, hướng nhiều về nội tâm, làm nổi bật chât giọng giàu cảm xúc của ca sĩ trẻ tuổi. Takuo Horiuchi thực hiện bước đột phá vào năm 1977 với album thứ nhì, nhờ vậy củng cố vị thế của ông như một nghệ sĩ hàng đầu. Có thể nói là trong lớp tác giả chuyên kết hợp truyền thống nhạc trữ tình của Nhật Bản còn thường được gọi là "diễn ca" (enka) với ảnh hưởng Tây phương, Takuo Horiuchi là ngòi bút tài tình nhất, và có lẽ cũng vì thế ông được xem như là một trong những cánh chim đầu đàn của phong trào enka-pop, song song với đà phát triển của kayōkyoku (tiền thân của J-Pop).  Vào năm 1990, ông đã giành được Giải thưởng bản ghi âm xuất sắc nhất Nhật Bản lần thứ 32 cho bài hát "Koiuta Tsuzuri" làm nổi bật tầm ảnh hưởng cũng như những đóng góp của tác giả này trong việc hiện đại hoá thể loại enka. Hai năm sau, ông hợp tác với nữ ca sĩ Kei Eun-sook (gốc Hàn Quốc) trên đĩa hát song ca "Angels of the City". Nổi tiếng trong làng nhạc phổ thông Nhật Bản nhờ chất giọng biểu cảm và tài nghệ sáng tác trong khá nhiều thể loại. Trong vòng hơn 40 năm sự nghiệp solo, Takao Horiuchi đã ghi âm gần 40 album và khoảng 70 đĩa đơn, nay được tập hợp lại trên bộ toàn tập "45th anniversary : All Single Collection". Trong số các sáng tác của Takuo Horiuchi, có nhiều bản nhạc từng được chuyển sang  lời Việt. Nhạc phẩm "Sake yo" theo cách đặt lời của tác giả Phạm Duy là "Tình như giấc mộng" (Ngọc Hương), lời thứ nhì "Quán nửa khuya" là của nhạc sĩ Lê Hựu Hà (Nguyễn Đức & Tú Linh). Lời thứ ba "Anh xa em rồi" là của tác giả Khúc Lan (Lưu Bích). Giai điệu "Tokai no tenshi/tachi"  (Angels of the City / Thiên thần đô thị) trở thành "Chớ nói lời biệt ly" của tác giả Huỳnh Nhật Tân qua phần ghi âm của Anh Tú và Ngoc Thúy). Nhạc phẩm "Koiuta tsuzuri" (Tình ca) được tác giả Quang Nhật đặt lời thành khúc ca "Tan vỡ", trong khi nhạc sĩ Phạm Duy phóng tác bài này thành nhạc phẩm "Cho cuộc tình tàn phai" (Don Hồ). Dòng nước mắt chứa vô vàn kỷ niệm Bình rượu sầu nhỏ từng giọt vào tim Như giấc mơ tan theo bọt sóng vỡ Muôn dư âm tìm giấc ngủ im lìm

    9 min
  5. APR 4

    Nhạc phim lời Việt : Céline Dion & Alan Menken, những giai điệu hay nhất

    Trong lãnh vực nhạc phim, tên tuổi của Alan Menken được gắn liền với các bộ phim hoạt hình nổi tiếng như Nàng tiên cá, Pocahontas hay Aladin và cây đèn thần… Nhờ sáng tác cho hãng phim Disney, mà Alan Menken đã nhận được nhiều giải thưởng lớn, bao gồm 8 giải Oscar, 7 Quả cầu vàng và 11 giải Grammy. Một trong những sáng tác hay nhất của ông vẫn là nhạc phẩm "Beauty and the Beast" (Giai nhân và Quái thú), nổi tiếng toàn cầu nhờ bản ghi âm của Céline Dion. Sinh trưởng tại Manhattan, New York (năm 1949) Alan Irwin Menken xuất thân từ một gia đình khá giả, thân phụ là nha sĩ, còn thân mẫu là một vũ công kiêm diễn viên nhạc kịch. Từ thời còn nhỏ, ông đã có nhiều năng khiếu nghệ thuật, bắt đầu sáng tác bằng đàn piano và sau đó là đàn ghi ta. Vào năm chín tuổi, ông đoạt giải nhất cuộc thi sáng tác dành cho thiếu niên tại bang New York, nhưng khi vào đại học, Alan lại chọn ngành y vì ông nghĩ rằng sau này, ông sẽ trở thành nha sĩ như bố mình. Cho đến khi, ông theo học khoá đào tạo sân khấu nhạc kịch BMI, dưới sự hướng dẫn của thầy Lehman Engel, thì lúc ấy ông chợt hiểu ra rằng, đây mới thực sự là điều ông hằng mong muốn. Sau khi tốt nghiệp, Alan Meken nuôi mộng trở thành một nghệ sĩ nổi tiếng trong ngành thu âm. Trong giai đoạn khởi nghiệp, ông làm đủ mọi công việc để kiếm sống : đệm đàn piano cho các vở múa ba lê, viết nhạc quảng cáo, luyện thanh cho các diễn viên tham gia các buổi casting hoặc phụ trách phần hoà âm, phối khí trong phòng thu âm. Mãi đến năm 1979, Alan Meken mới thành danh như một nhà soạn nhạc khi ông hợp tác với kịch tác gia Howard Ashman. Hai vở nhạc kịch mà cặp bài trùng này đã viết trong giai đoạn 1979 đến 1982, đã nhận được sự hưởng ứng từ giới phê bình lẫn công chúng. Trên đà thành công này, hai tác giả Alan Menken và Howard Ashman được hãng phim Walt Disney Studios mời biên soạn nhạc cho bộ phim hoạt hình "The Little Mermaid" (Nàng tiên cá) vào năm 1989. Hai bản nhạc chính của bộ phim này là "Under the sea" (Đáy sâu đại dương) và "Part of your world" (Trần gian mộng mơ) đều gặt hái nhiều thành công trong mắt giới phê bình, lập kỷ lục về mặt doanh thu. Bộ phim này đã mang về cho nhóm sáng tác hai giải Oscar đầu tiên năm 1989 : Bài hát xuất sắc và Nhạc phim hay nhất. Cặp bài trùng Alan Menken và Howard Ashman lặp lại thành tích này vài năm sau đó. Các bản nhạc viết cho bộ phim hoạt hình "Giai nhân và Quái thú" (Beauty and the Beast) lại đoạt hai giải Oscar dành cho ca khúc và nhạc phim hay nhất. Bài hát này sau đó được ghi âm với nhiều phiên bản khác nhau : Quan trọng nhất là bản song ca của Céline Dion và Peabo Bryson, rồi sau đó nữa là phiên bản của Ariana Grande với John Legend. Thành công này báo hiệu một kỷ nguyên mới được gọi là thời kỳ "phục hưng" Disney. Theo các nhà phê bình, giai đoạn này đã cho ra đời nhiều bản nhạc phim hay nhất, kể từ thời hoàng kim của hãng phim Disney (1937-1959). Đang trên đỉnh cao danh vọng, Howard Ashman lại đột ngột qua đời vì bạo bệnh vào năm 1991 trong khi nhóm sáng tác đang làm việc trên bộ phim tiếp theo là "Aladdin và cây đèn thần" (1992). Vào thời ấy, Ashman chỉ mới viết xong ba bài hát cho bộ phim, cho nên Alan Menken mới nhờ đến sự hợp tác của tác giả Tim Rice. Tuy đang có kế hoạch làm việc với Elton John cho bộ phim Vua sư tử (The Lion King), nhưng Tim Rice vẫn nhận lời để viết phần còn lại của các bài hát cho bộ phim "Aladin". Bộ phim này cũng đã giành được giải Oscar năm 1993 cho bài hát hay nhất : giai điệu "A whole new world", từng được phóng tác sang tiếng Việt thành nhạc phẩm "Nhìn ra thế gian". Sau ngày ra đi của Howard Ashman, Alan Menken soạn nhạc cho các bộ phim hoạt hình tiếp theo, bằng cách hợp tác với nhiều tác giả khác như trường hợp của Stephen Schwartz cho bộ phim Pocahontas (1995) hay David Zippel cho bộ phim Thần Hercules (1997). Thế hệ trẻ sau này khám phá lại các bản nhạc của Alan Menken qua các phiên bản điện ảnh quay với diễn viên thật. Céline Dion thu âm bài hát "How does a moment last forever" (tạm dịch là Khoảnh khắc thiên thu) cho phiên bản năm 2017, với sự tham gia của Emma Watson. Theo báo The Hollywood Reporter, tuy năm nay đã hơn 75 tuổi, nhưng Alan Menken vẫn chưa giải nghệ. Là một trong những nhạc sĩ sáng giá nhất trong ngành, ông chẳng những có sức sáng tạo sung mãn dồi dào mà còn tiếp tục viết những bài hát hay, có chiều sâu và chất lượng. Có lẽ cũng vì thế, ông trở thành một trong 22 thành viên của  "câu lạc bộ" khép kín EGOT, tức là người từng đoạt 4 giải thưởng quan trọng nhất của làng giải trí Hoa Kỳ là Emmy (truyền hình), Grammy (âm nhạc), Oscar (điện ảnh) và Tony (kịch nghệ). Nổi tiếng nhờ soạn những giai điệu tràn đầy cảm xúc, tha thiết sâu lắng, lời hay ý đẹp nhờ khung nhạc với muôn vàn âm sắc, Alan Menken muốn gieo vào hồn người nghe những rung động sâu thẳm, thoáng nghe dịu dàng mà thấm vang réo rắt. Người xem đồng cảm với nhân vật trong phim, có thể nở nụ cười tươi, dù trái tim đang  buồn héo hắt, để rồi cảm nhận khoảnh khắc vui sướng tột cùng đến nỗi phải rơi lệ !

    9 min
  6. MAR 28

    Nhạc ngoại lời Việt : Diana Ross & Westlife, khi anh nói lời yêu em

    Có những bản nhạc ban đầu được viết cho một giọng hát duy nhất, nhưng sau đó lại càng ăn khách khi được ghi âm dưới dạng song ca. Đó là trường hợp của nhạc phẩm "When you tell me that You love Me" (Khi anh nói lời yêu em). Ban nhạc này trong tiếng Việt từng được ca sĩ Thu Phương trình bày với Huy MC. Được phát hành vào mùa hè năm 1991, nhạc phẩm "When you tell me that You love Me" (Khi anh nói lời yêu em), do hai nhạc sĩ Albert Hammond và John Bettis sáng tác cho thần tượng nhạc pop người Mỹ Diana Ross. Trong thời kỳ huy hoàng sự nghiệp, Diana Ross từng nổi tiếng nhờ những bản song ca kinh điển : trong số này có các nhạc phẩm như "My mistake was to love you" song ca với Marvin Gaye, "All of you" ghi âm với Julio Iglesias và nhất là "Endless Love" hát cùng với Lionel Richie. Riêng nhạc phẩm "When you tell me that You love Me" (Khi anh nói lời yêu em) ban đầu được ghi âm như một bài đơn ca, trở thành một bài hát ăn khách trên thị trường quốc tế, trích từ album phòng thu thứ 19 của diva người Mỹ. Giai điệu này sau đó đã được nhiều nghệ sĩ ghi âm lại thành một bài song ca, chẳng hạn như bản ghi âm của Julio Iglesias với Dolly Parton vào năm 1994, khi Albert Hammond sản xuất các album phòng thu tiếng Anh cho ông hoàng dòng nhạc tình La Tinh (1100 Bel Air Place và Crazy). Để chinh phục thị trường châu Á, Julio sau đó ghi âm thêm một phiên bản thứ nhì vào năm 1998, với ca sĩ người Mỹ gốc Hồng Kông Coco Lee (Ly Van). Bản ghi âm này được phát hành trên đĩa đơn kèm theo video ca nhạc để quảng bá cho tuyển tập "My Life : The Greatest Hits" của Julio Iglesias, chủ yếu nhắm vào thị trường châu Á, trong khi bài song ca với Dolly Parton được dành riêng cho Canada và Hoa Kỳ. Trên thị trường quốc tế, cho dù đây không phải là giai điệu thành công nhất về mặt doanh thu, nhưng trong mắt Diana Ross, "Khi anh nói lời yêu em" vẫn được xem là một trong những bài hát gắn liền với tên tuổi của mình. Vào năm 2005, tức hơn một thập niên sau ngày phát hành bản ghi âm đầu tiên, Diana Ross nhận lời mời song ca với ban nhạc người Ai Len Westlife.   Song ca hoặc đơn ca, "Khi anh nói lời yêu em" là một tình khúc nhạc pop trau chuốt bóng bẩy, giai điệu dễ nghe nên rất hợp với các chương trình phát thanh trên băng tầng FM. Bài hát bắt đầu như một bản ballad tinh tế dịu dàng, với tiếng đàn piano sâu lắng cho giọng hát thêm nhẹ nhàng. Khi đến đoạn giữa, bản phối trở nên hoành tráng hơn, hòa quyện bộ đàn dây giao hưởng với đàn ghi ta điện, đánh dấu sự chuyển đổi tông điệu dẫn vào phần điệp khúc đầy kịch tính cao trào, nhiều cảm xúc dạt dào. "Thầm gọi muôn ánh sao trời, cho ngày thêm dài vô tận, dù mai đổi dời thế giới, yêu anh vẫn chi một lời. Ôm nhau thật chặt bóng đêm, bờ vai ướt đẫm thấm mềm, mưa rơi ngàn sao dập tắt, tình che lửa nến êm đềm, chỉ cần nói lời yêu em, hoang tàn phút chốc dịu êm".

    9 min
  7. MAR 21

    Nhạc Pháp lời Việt : Françoise Hardy, giai thoại nhạc phẩm "Hạnh phúc đầu ngày"

    Cùng với Christophe và Adamo, Françoise Hardy có lẽ là giọng ca Pháp thành danh vào thập niên 1960, có khá nhiều bài hát được phóng tác sang nhiều ngôn ngữ. Theo nhà phê bình Éric James, một trong những giai điệu hay nhất của cô chính là nhạc phẩm "Le premier bonheur du jour", từng được ghi âm trong nhiều thứ tiếng. Trong tiếng Việt, bài này theo cái tài đặt lời của tác giả Phạm Duy trở thành nhạc phẩm "Hạnh phúc đầu ngày". Nhưng điều công chúng ít được biết đến là tác giả của bài hát này chính là nhạc sĩ Jean Renard. Trước khi lập kỷ lục số bán nhờ sáng tác "La Maritza" (Dòng sông tuổi nhỏ) cho Sylvie Vartan, "Avant de nous dire adieu" (Trước khi từ giã nhau) cho Jeane Manson, hay "Laisse moi t'aimer" (Yêu trọn đêm này) cho Mike Brant, nhạc sĩ Jean Renard vào nghề sáng tác đầu những năm 1960, nhờ vào sự dìu dắt của nhà sản xuất Rolf Marbot, lúc bấy giờ điều hành nhà xuất bản Méridian. Theo lời kể của chính tác giả, Jean Renard gặp Françoise Hardy qua lời giới thiệu của nhà xuất bản tại văn phòng của ông ở quận 8, Paris. Vào thời ấy, Françoise Hardy sắp đi lưu diễn cùng với nam danh ca Richard Anthony và cô cần thêm vài bài hát bổ sung cho chương trình biểu diễn của mình trên sân khấu. Khi làm việc với nhau, Jean Renard mới đàn cho Françoise Hardy nghe nhiều bản sáng tác mới của ông. Nhưng dường như, không có bài hát nào làm cho cô vừa ý. Đột nhiên, ông sực nhớ lại một giai điệu rất ngắn : bài hát "Le premier bonheur du jour" (Niềm hạnh phúc đầu tiên trong ngày) mà ông từng viết với tác giả Franck Gérald, nguyên là anh rể của Pierre Delanoë, người chuyên viết nhạc cho nam danh ca Joe Dassin. Khi nghe xong bài hát, Françoise Hardy hoàn toàn im lặng, nhìn tác giả mà chẳng nói gi. Jean Renard tưởng rằng cô không thích bài hát, nhưng thực ra cô rất xúc động, không nói nên lời.  Nhe nhàng vương vấn, trầm mặc sâu lắng, giai điệu này sau đó được phát hành vào năm 1963, trên album thứ nhì của Françoise Hardy và được gắn liền với tên tuổi của thần tượng nhạc trẻ Pháp những năm 1960. Đối với Jean Renard, thành công của bài hát này cũng thực sự là một dip may, mở đường cho ông sáng tác sau này nhiều bài hát hay, nhất là khi trong giai đoạn khởi nghiệp, vẫn chưa có nhiều ca sĩ trẻ muốn hát những sáng tác của ông vào thời ấy. Được phát hành vào cuối năm 1963, trong cùng một năm với nhạc phẩm "Le temps de l'amour" (Mùa tinh yêu), giai điệu "Le premier bonheur du jour" (Hạnh phúc đầu ngày) trở thành một trong những bài hát quen thuộc với giới hâm mộ cũng như bài "Những nụ tinh xanh" (Tous les garçons et les filles), "Nụ hồng mong manh" (Mon amie la rose) hay là "Ánh sáng mặt trời" (Soleil).  Không phải ngẫu nhiên, con trai của Françoise Hardy là Thomas Dutronc gần đây đã ghi âm lại bài này với Clara Luciani. Theo Thomas, nhạc phẩm "Hạnh phúc đầu ngày" vẫn là một trong những giai điệu yêu chuộng của mẹ anh, lúc sinh tiền. Một trong bản nhạc được cho là hay nhất của Françoise Hardy rốt cuộc lại là sáng tác cô đọng nhất trong bộ sưu tập của tác giả này, chỉ vỏn vẹn có một phút năm mươi giây. Nhưng hạnh phúc nào mà chẳng mong manh, tựa giọt sương mai đầu ngày, ngắn ngủi như cụm mây trời thoáng bay.

    9 min
  8. MAR 14

    Nhạc Nhật lời Việt : Akira Fuse và giai điệu Biển ru niềm nhớ

    Trong số những bản tình ca Nhật Bản từng được phóng tác sang nhiều ngôn ngữ, nhạc phẩm Fantasy của Akira Fuse thuộc vào hàng nổi tiếng nhất. Trong tiếng Việt, giai điệu này có đến bốn lời khác nhau. Trong đó, quen thuộc nhất với giới yêu nhạc vẫn là Mộng tình Đêm mưa và Biển ru Niềm nhớ. Sinh trưởng ở Tokyo (1947), ca sĩ kiêm diễn viên Akira Fuse trở nên nổi tiếng nhờ những đóng góp quan trọng cho làng giải trí Nhật Bản kể từ giữa những năm 1960. Xuất thân từ một gia đình khiêm tốn nhưng có học thức, Akira Fuse sau đó không chọn ngành luật khoa hay sư phạm như những người anh trai, ông lại chọn con đường nghệ thuật biểu diễn sân khấu. Từ thời còn nhỏ, Akira Fuse đã có nhiều năng khiếu ca hát. Ông nhanh chóng trở thành một trong những giọng ca tiêu biểu của thời kỳ Showa, âm nhạc Nhật Bản phát triển mạnh trong giai đoạn hậu chiến, hòa quyện các yếu tố của thể loại diễn ca (enka), các khúc nhạc dân gian truyền thống với những ảnh hưởng nhạc pop Tây phương. Sự kết hợp này khai sinh dòng nhạc phổ thông kayōkyoku, tiền thân của nhạc pop Nhật Bản sau này (J-Pop 1988). Alira thành danh ngay từ khi mới vào nghề năm 1965 với bản ghi âm đầu tiên "Kimi ni Namida to Hohoemi o". Bài hát này đánh dấu bước khởi đầu của một sự nghiệp dài lâu. Với thời gian, ông được công nhận là một trong những giọng ca Nhật Bản hàng đầu. Thời kỳ huy hoàng của Akira Fuse là vào giữa thập niên 1970 với bản nhạc "Cyclamen no Kaori" (Mùi hoa anh thảo) đứng đầu bảng xếp hạng thị trường Nhật (Oricon) và giúp ông giành được hạng nhất nhân kỳ trao Giải thưởng Thu âm Nhật Bản vào năm1975, củng cố vị trí của Akira Fuse như một nghệ sĩ trứ danh của thời kỳ Showa. Thành công này mở đường cho nhiều bản ghi âm ăn khách khác, trong  đó có bài "Meguriai Tsumui de" (1978) từng được tác giả Phạm Duy phóng tác sang lời Việt thành nhạc phẩm "Rượu buồn ta uống cho ta" qua phần ghi âm của nam ca sĩ Nguyên Khang. Trong hơn nửa thế kỷ sự nghiệp, Akira Fuse đã phát hành khoảng 40 album phòng thu và hơn 90 đĩa đơn. Ông có sở trường hát nhiều thể loại, dân ca Nhật Bản, soul, disco, jazz, pop, ballad và nhất là các bản nhạc phim. Song song với nghề ca hát, ông còn có tài diễn xuất, tham gia khoảng 40 bộ phim điện ảnh và truyền hình. Tên tuổi của Akira Fuse còn gắn liền với các bản phóng tác nhạc Pháp sang tiếng Nhật, bao gồm các bản nhạc nổi tiếng của Édith Piaf, Joe Dassin, Claude François hay Véronique Sanson… Về mặt âm nhạc, các album phòng thu của Akira Fuse ngay từ giữa những năm 1970, thường pha trộn ảnh hưởng của các nhịp điệu Tây phương với chất nhạc trữ tình da diết của Nhật Bản, trước khi chuyển sang phong cách nhẹ nhàng sâu lắng, hướng nhiều hơn về nội tâm. Về mặt diễn đạt, các chuyên gia trong ngành ghi âm từng xếp Akira Fuse vào danh sách 10 giọng ca hay nhất Nhật Bản. Nhờ chất giọng nam cao với vibrato trong sáng, mỗi lần rung giọng câu chữ mượt mà âm vang, luyến láy nhẹ nhàng, giàu cảm xúc lãng mạn. Ngoài kỹ thuật hát điêu luyện, Akira Fuse còn được đánh giá cao nhờ tài diễn đạt, ông từng thử sức hát các giai điệu thính phòng, cổ điển. Khi lên sân khấu, Akira thực sự là một showman, với tất cả những yếu tố mà người hâm mộ yêu thích, từ vóc dáng điệu bộ đến cách ăn mặc, nụ cười rạng ngời cùng với chất giọng tuyệt vời. Một trong những bài hát ăn khách của Akira Fuse là nhạc phẩm "Fantasy" (Ảo Tưởng), từng được chọn làm bài hát chủ đề của bộ phim truyền hình "Otosan Welcome Home" của đài TBS vào năm 1984. Trong tiếng Việt, bài này có  bốn lời phóng tác khác nhau. Lời đầu tiên là "Biển ru niềm nhớ" của tác giả Nhật Hạ (bản ghi âm của Ngọc Hương, Ái Vân). Lời thứ nhì là "Mộng tình" của tác giả Khúc Lan (do Ngọc Lan trình bày). Lời thứ ba là "Thương nhớ người yêu" của Trịnh Nam Sơn (phiên bản của Lynda Trang Đài). Bài này còn có một phiên bản thứ tư với tựa đề "Người là ai, ở đâu" qua phần ghi âm của Dương Triệu Vũ, gợi hứng từ phiên bản tiếng Quan Thoại là "Đêm mưa lãng mạn", nhiều hơn là bản gốc tiếng Nhật. "Không muốn ngõ lời tạm biệt, dù trong tim ta vẫn biết, mai này chẳng còn gặp nhau, chuyện tình chưa đành hồi kết. Thôi chỉ cần nhắm mắt lại, rồi nhớ biết bao tháng ngày, dịu êm nhịp đập phút giây, tưởng chừng trọn cuộc đời này. Giờ chỉ còn lại cõi mộng, chân mây giấc ngủ bềnh bồng, ảo tưởng vòng tay hơi ấm, dù hồn chết giữa mùa đông…"

    9 min

Ratings & Reviews

4.3
out of 5
4 Ratings

About

Góc vườn âm nhạc của RFI

More From RFI Tiếng Việt

You Might Also Like