Tạp chí Âm Nhạc

Góc vườn âm nhạc của RFI

  1. 2h ago

    Nhạc Nhật lời Việt : Toshimi Tagawa và giai điệu "Mưa ngàn hoa đỗ quyên"

    Cũng như ca sĩ gốc Nhật Marcia, Toshimi Tagawa (sinh năm 1975) là một trong những nghệ sĩ thành danh tại xứ hoa anh đào vào những năm 1990. Sở trường của cô là dòng nhạc enka (diễn ca) và nhất là thể loại "mood kayo" chuyên diễn đạt nội tâm day dứt u sầu. Một trong những bản nhạc gắn liền với tên tuổi này là nhạc phẩm "Shaku nage no ame" (Mưa ngàn hoa đỗ quyên).  Sinh truởng tại tỉnh Wakayama, Toshimi Tagawa từ thời niên thiếu đã có nhiều năng khiếu nghệ thuật. Thời còn học lớp trung học, cô thường tham gia các buổi văn nghệ nhà trường cũng như các hoạt động ngoại khóa. Tuy còn trẻ, nhưng giọng ca của Toshimi lại khá dày dặn, chín muồi, nhờ vậy mà lọt vào tai của nữ tác giả Keiko Yuki. Theo lời giới thiệu của bà Keiko, cô chuyển đến Tokyo lập nghiệp. Thời gian đầu, cô theo học thanh nhạc dưới sự đào tạo hướng dẫn của nhạc sư Jun Suzuki. Vào năm 17 tuổi, Toshimi Tagawa chính thức bước chân vào làng nhạc với đĩa đơn "Onna... Hitoritabi" do hãng đĩa Nippon Columbia phát hành. Bài hát này ngay lập tức thành công trên thị trường Nhật Bản. Nhờ bản ghi âm này, Toshimi Tagawa đoạt được nhiều giải thưởng quan trọng, trong đó có giải Japan Music Awards dành cho tài năng mới xuất sắc vào năm 1992. Trong tiếng Nhật, bài hát này có nghĩa là "Hành trình đơn độc". Còn trong tiếng Việt, giai điệu này được tác giả Khúc Lan chuyển thành nhạc phẩm "Màu nắng vẫn yêu" do ca sĩ Ngọc Bích ghi âm. Trên đà thành công của hai album đầu tay, Toshimi Tagawa muốn chuyển sang thể loại nhạc pop Nhật Bản mà theo cô có âm thanh trẻ trung hiện đại hơn. Nhưng theo lời khuyên của nữ tác giả Keiko Yuki, vào những năm 1990, thị trường Nhật Bản không thiếu gì những giọng ca theo phong trào nhạc trẻ tân thời. Việc chọn dòng nhạc enka đối với một giọng ca mới vào nghề, đôi khi lại trở thành ưu thế. Có lẽ cũng nhờ vào quyết định sáng suốt này mà Toshimi Tagawa đã trụ vững trong vòng ba thập niên liền. Từ khi ra mắt vào năm 1992, tính đến nay Toshimi đã ghi âm hơn 50  đĩa đơn và phát hành khoảng 30 album phòng thu. Tổng cộng, Toshimi đã bán được hàng chục triệu đĩa hát trong vòng 30 năm sự nghiệp. Mỗi lần biểu diễn trên sân khấu, cô thường xuất hiện trong bộ trang phục kết hợp kimono truyền thống với thời trang Tây Âu. Âm thanh của đàn ghi ta điện hay nhạc cụ điện tử giúp Toshimi Tagawa làm mới các bài hát diễn ca kinh điển, dòng nhạc vang bóng một thời. Nhờ phong cách này, gần một thập niên sau khi khởi nghiệp, Toshimi Tagawa đoạt giải thưởng thu âm Nhật Bản Japan Records Award lần thứ 43 (2001) dành cho giọng ca nữ xuất sắc nhất. Trong số những bài hát nổi tiếng của Toshimi Tagawa, có những  giai điệu như "Uminari", bản tình ca mang âm hưởng enka truyền thống đầy cảm xúc. "Inochi Kagerou" hay "Shimoda No Tsubaki", những bản nhạc trữ tình lãng mạn, với giai điệu ngọt ngào, sâu lắng. Một trong những tình khúc tiêu biểu trong sự nghiệp của Toshimi Tagawa vẫn là nhạc phẩm "Shaku nage no ame" từng được ca sĩ Julie Quang ghi âm dưới tựa đề "Màu tuyệt vọng" qua cách đặt lời của tác giả Khúc Lan. Trong bản gốc tiếng Nhật, bài này có nghĩa là "Mưa ngàn hoa đỗ quyên". Bài hát dùng ẩn dụ tình yêu tựa như cơn mưa, khi xưa bao khoảnh khắc nhiệm màu, bây giờ lại rơi xuống thành muôn ngàn nỗi đau. Mưa giông nào xui khiến  Cho đất trời ngả nghiêng  Ngỏ hồn thêm quyến luyến  Bao kỷ niệm chưa quên    Mưa nặng hạt thấm mềm  Trĩu muôn nhánh đỗ quyên  Ngàn nỗi sầu đưa tiễn Tim chẳng còn ngủ yên.

  2. Oct 10

    Những bản nhạc Pháp lời Việt hay nhất của Vline-Buggy

    Nếu không có ngòi bút của tác giả người Pháp Vline-Buggy thì có lẽ Canada chẳng bao giờ có một diva nhạc pop mang tên Céline Dion. Chính cũng vì bà Thérèse Dion trong lúc đang mang thai, được nghe bài hát Céline do Vline-Buggy sáng tác viết lời, cho nên bà mới lấy tựa bản nhạc này để đặt tên cho cô con gái. Trên đây là giai thoại rất nổi tiếng mà nam danh ca người Pháp Hugues Aufray thường hay kể lại khi nhắc tới bà Vline-Buggy, vừa qua đời hôm 26/09/2026, hưởng thọ 97 tuổi. Tên thật là Liliane Konyn, bà sinh trưởng tại Paris trong một gia đình nghệ sĩ trứ danh. Từ thuở thiếu thời, bà đã thừa hưởng năng khiếu sáng tác của thân phụ là nhà soạn nhạc Georges Konyn, bút danh Géo Koger (1894-1975). Ông đặc biệt nổi tiếng vào những năm 1930 nhờ hợp tác với nhạc sĩ Vincent Scotto, sáng tác những nhạc phẩm kinh điển như « J'ai deux amours » (Tôi có hai mối tình) cho Josephine Baker, nàng « Marinella » cho Tino Rossi hay bài hát « La Java bleue » (Điệu Java màu xanh) cho Fréhel. Khi nối nghiệp thân phụ, bà Liliane không sáng tác một mình mà lại cùng viết lời với người chị ruột là Évelyne Konyn. Cặp bài trùng này (Évelyne-Liliane) lấy nghệ danh là Vline-Buggy, họ bắt đầu sự nghiệp sáng tác cho thế hệ đàn anh là Yves Montand hay Luis Mariano trước khi chuyển sang viết ca khúc cho các thần tượng nhạc trẻ, khi phong trào dịch các bản nhạc ăn khách của Anh-Mỹ sang tiếng Pháp, bắt đầu rộ lên vào cuối những năm 1950, đầu thập niên 1960. Trong thời gian khởi nghiệp, tên tuổi của nhóm sáng tác Vline-Buggy gắn liền với thần tượng nhạc trẻ Claude François. Trong vòng 5 năm, từ 1962 đến 1967, Vline-Buggy đã viết lời cho khoảng 70 ca khúc cho Claude François, trong số này phần lớn là những bản phóng tác từ tiếng Anh sang tiếng Pháp, điển hình là các ca khúc « Belles belles belles, J'y pense et puis j'oublie » và nhất là lời Pháp cho « Donna Donna » (bản nhạc gốc tiếng Do Thái phát hành vào năm 1940 là của hai tác giả Aaron Zeitlin và Sholom Secunda). Còn trong tiếng Việt, có phiên bản « Tiếc Thương » của Trần Tiến và phiên bản đầu tiên « Thương Tiếc » phát hành trước năm 1975 là của ca sĩ kiêm tác giả Tuấn Dũng, thành viên sáng lập cùng với ca sĩ Trung Hành ban nhạc Mây Trắng. Đang trên đà thành công, cô Évelyne tức là tác giả Vline trong cặp bài trùng Vline-Buggy lại đột ngột qua đời vì lâm bạo bệnh. Tuy chỉ còn một mình, nhưng bà Liliane quyết định tiếp tục sự nghiệp và giữ nguyên bút danh kép của hai chị em là Vline-Buggy. Sự nghiệp sáng tác của Vline-Buggy đạt đỉnh cao khi bà phóng tác nhạc phẩm « The House of the Rising Sun » (Căn nhà trong ánh bình minh) thành nhạc phẩm « Le Pénitencier » 1964 cho Johnny Hallyday. Hai năm sau (1966) bà viết lời cho nhạc phẩm « Céline ». Bài này ban đầu bị Claude François cũng như Richard Anthony từ chối, cho nên ca sĩ Hugues Aufray buộc phải tự thu âm lấy, nào ngờ đâu giai điệu này lại trở thành một trong những bản nhạc ăn khách nhất của ông. Trong số những thành công lớn khác của Vline-Buggy, có những bài hát được viết cho Dalida (Depuis qu’il vient chez nous), Michel Sardou (Les Bals populaires), France Gall (On t'avait prévenue), Vicky Leandros (La Lettre), Enrico Macias (Mélisa), Mireille Mathieu (Mon ami de toujours), Sheila (La Pluie), Hervé Vilard (Après tant d’amour). Bà đã góp phần làm nên tên tuổi của Linda de Suza (Le Portugais) và nhất là Herbert Léonard (Pour le plaisir) ... Vào năm 1973, bài hát « Tu te reconnaîtras » do Claude Morgan soạn nhạc và do Vline-Buggy viết lời đã giúp nữ ca sĩ Anne-Marie David, đại diện cho Luxembourg, giành lấy giải nhất cuộc thi hát truyền hình châu Âu Eurovision. Bài hát này từng được tác giả Nguyễn Duy Biên chuyển sang lời Việt thành nhạc phẩm « Xin tự hiểu mình » do Thanh Lan, Như Mai, Kiều Nga thu âm. Sau gần 50 năm hoạt động trong làng nhạc, Vline-Buggy đã quyết định giải nghệ vào những năm 2000. Sinh thời, bà đã viết lời cho hàng ngàn ca khúc và hầu hết các nghệ sĩ thành danh trong ba thập niên liền từ 1960 đến 1980 đều đã từng hợp tác với Vline-Buggy. Lần cuối bà xuất hiện trước công chúng là vào năm 2018 nhân lễ trao giải thưởng lớn đề cao sự đóng góp của Vline-Buggy cho làng nhạc, tại trụ sở Hiệp hội các tác giả Pháp Sacem. Bà Liliane nhắc lại những kỷ niệm khó quên với người chị ruột, thời hai chị em Vline-Buggy mới vào nghề sáng tác. Kỷ niệm này từng gợi hứng cho bà Liliane sáng tác nhạc phẩm « Les Anges du matin » (Những thiên thần buổi sáng) như một lời nhắn nhủ với người đã khuất : Thiên thần buổi bình minh Xua bóng đêm mờ ảo Cho hồn về bên nhau Giấc mơ nào yên tĩnh   Khi yêu đương nồng thắm Gieo vương vấn vào tim Để suốt đời đi tìm Những mùi hương sâu đậm   Đời còn ở phía trước Đường dài ta vẫn bước Hãy ra đi yên bình Thiên thần ánh bình minh...

  3. Oct 3

    Nhạc tình đêm mưa của Hiromi Iwasaki trên nhịp đàn của Richard Clayderman

    Thành danh vào giữa những năm 1970, Hiromi Iwasaki là một trong những thần tượng nhạc pop Nhật Bản vẫn còn được nhiều người yêu mến cho đến tận bây giờ. Cho dù Hiromi không có nhiều ca khúc gốc được chuyển sang lời Việt như nhiều ca sĩ cùng thời, nhưng tên tuổi của cô vẫn ngời sáng nhờ chuỗi tập nhạc "Dear Friends", bao gồm nhiều bản phóng tác từ các bài hát ăn khách tiếng Anh hay tiếng Pháp. Sinh truởng (1958) tại quận Kōtō, thành phố Tokyo, Nhật Bản, Hiromi Iwasaki xuất thân từ một gia đình có nhiều năng khiếu âm nhạc. Cùng với người  em gái là Yoshimi, Hiromi  Iwasaki (còn thường được gọi một cách thân mật là Hirorin) sau này đều trở thành ca sĩ kiêm diễn viên nổi tiếng tại Nhật. Sau khi tốt nghiệp trường trung học phổ thông Horikoshi,  Hiromi Iwasaki vào năm 16 tuổi (1974) tham gia cuộc thi tuyển chọn tài năng mới "Star Tanjō!". Nhờ giọng hát trong trẻo cao vút, Hiromi đã giành lấy giải nhất cuộc thi hát với nhạc phẩm "Anata", bản nhạc gốc là của Akiko Kosaka . Bài này từng được dịch sang tiếng Việt là Căn nhà xinh (Mong ước người yêu). Thành công bước đầu này giúp cô ký hợp đồng ghi âm với hãng đĩa Victor Records. Hiromi đạt vị trí số một trên bảng xếp hạng Oricon ngay từ đĩa đơn thứ hai (Romance). Thành công vang dội của đĩa hát này, với gần một triệu bản bán chạy trong năm 1975, giúp tên tuổi của Hiromi vụt sáng. Vào năm 19 tuổi (1977) Hiromi thực hiện thêm một bước đột phá ngoạn mục, tiếp tục gặt hái thành công với nhạc phẩm "Shishūki" (Hoài cảm ngày thu). Bản tình ca mùa thu da diết, chứa chan hoài niệm này trở nên rất nổi tiếng và đã giành được nhiều giải quan trọng, trong đó có Giải thưởng Thu âm Nhật Bản. Bài hát Shishūki sau đó đã gợi hứng khá nhiều cho ca sĩ kiêm tác giả Naoko Kawai sáng tác giai điệu "Halfmoon Serenade" (Dạ khúc nửa vầng trăng). Tuy có nhiều nét tương đồng, nhiều đoạn gần giống nhau đến 70%, nhưng Hiromi Iwasaki chưa từng lên  tiếng phàn nàn hay khiếu nại về vấn đề bản quyền. Vào đầu những năm 1980, Hiromi đã thực hiện một loạt show ca hát truyền hình, giúp cô củng cố uy tín và hình ảnh thùy mị đoan trang của mình trong chiếc váy dài màu trắng trong mắt công chúng. Đây cũng là giai đoạn Hiromi thể hiện lại nhiều bài hát tiếng Pháp phóng tác sang tiếng Nhật như Les Parapluies de Cherbourg, La Bohème, Ne me quitte pas, Une belle histoire, Un été 42 ..... hay các bài hát nổi tiếng làng nhạc kịch như Giấc mơ đổi đời (J'avais rêvé d'une autre vie) phỏng theo tác phẩm "Những người khốn khổ" của Victor Hugo. Thời gian sau này, kể từ năm 2003 trở đi, Hiromi phát hành chuỗi tập nhạc "Dear Friends" bao gồm 8 album cover, ghi âm lại các bản tình ca kinh điển của Nhật, Ý, Anh hoặc Pháp với lối hoà âm nhẹ nhàng sâu lắng, gần gũi hơn với người yêu nhạc, hướng nhiều về nội tâm. Trong suốt 50 năm  sự nghiệp ca hát, Hiromi đã phát hành khoảng 60 tập nhạc, bao gồm 30 album gốc, 12 album live và 15 album cover. Thời kỳ huy hoàng của giọng ca này là vào những năm 1980, thời Hiromi ngự trị trên thị trường Nhật Bản. Trong số các bản cover xuất sắc của Hiromi từng được chuyển sang lời Việt, ngoài Căn nhà xinh Anata (Akiko Kosaka) còn có "Yuki no Hana" (Hoa tuyết) từng được chuyển sang lời Việt thành nhạc phẩm  "Nỗi nhớ mùa đông" hay "Xin lỗi anh yêu em" dựa theo phiên bản tiếng Hàn của Park Hyo Shin. Nhưng bản cover nổi tiếng và có ảnh hưởng lớn nhất chính là giai điệu "Sumire-iro no Namida" hiểu theo nghĩa Những giọt lê màu tím. Bản nhạc gốc của Junko Mayo từng được Hiromi Iwasaki ghi âm lại cho một show ca hát truyền hình vào mùa hè năm 1981. Phần đệm đàn piano là của Richard Clayderman và bài hát này từng được tác giả Khúc Lan chuyển sang lời Việt thành nhạc phẩm "Nhạc tình đêm mưa". Trái tim bỗng nhạt nhòa Khi tình chợt bay xa Bao dòng lệ chan hoà Trên bờ mi hoá đá Giọt nước mắt màu tím Thắm máu đào trong tim Nở rộ thành muôn phím Sầu vang cõi im lìm

  4. Sep 26

    Nhạc ngoại lời Việt : Graciela Susana, Vĩnh biệt tình ta

    Được mệnh danh là Cánh chim họa mi của Nam Mỹ, Graciela Susana là một trong nghệ sĩ nước ngoài hiếm hoi thành công tại Nhật Bản. Nhờ những bản phóng tác sang tiếng Nhật, cô đã giúp phổ biến thể điệu tango và các khúc nhạc dân gian tai xứ Phù Tang. Trong số những giai điệu của cô từng được đặt thêm lời Việt, nổi tiếng nhất vẫn là hai nhạc phẩm "Đi trong mùa thu" và "Vĩnh biệt tình ta". Sinh trưởng tại Buenos Aires trong một gia đình nhạc sĩ, Graciela Susana Ambrosio (1953-2024) từ thời còn nhỏ đã thừa hưởng năng khiếu nghệ thuật của thân phụ (Ricardo Ambrosio), nguyên là ca sĩ và nghệ sĩ dương cầm trong dàn nhạc của Tito Cosentino, nổi tiếng ở thủ đô Argentina. Thời niên thiếu, Graciela thường đi biểu diễn cùng với chị ruột (Cristina Ambrosio) trong ban song ca Las Hermanitas Ambrosio. Ban đầu hát dân ca Nam Mỹ, Graciela sau đó chuyển sang dòng nhạc tango, khi khởi nghiệp solo. Nhờ được đào tạo bài bản với các bậc thầy tango (Ángel Kelo Palacios, Roberto Lara và Alba Vellón), Graciela đoạt giải Tài năng mới nhân kỳ Liên hoan âm nhạc Tango La Falda năm 1970. Vào năm 18 tuổi, Graciela Susana thực hiện bước đột phá ngoạn mục khi lọt vào mắt của nam danh ca người Nhật Yōichi Sugawara. Ông xiêu lòng trước màn trình diễn của Graciela tại một quán nhạc tango (El Viejo Almacén) nổi tiếng ở Buenos Aires. Ông Yōichi sau đó đã mời Graciela đến Tokyo, giúp cô chinh phuc thị trường Nhật Bản, đánh dấu bước khởi đầu cho một sự nghiệp quốc tế, kéo dài trong nhiều thập niên liền. Đặt chân lên xứ hoa anh đào, Graciela ký hợp đồng ghi âm với công ty Toshiba-EMI, thành công ngay từ những album phòng thu tiếng Nhật đầu tiên, trong đó có tập nhạc "Adoro, La Reine de Saba" phát hành vào năm 1973. Kết hợp tango, dân ca và nhạc folk, abum ăn khách này trụ vững trên bảng xếp hạng Oricon của Nhật Bản trong vòng hơn 3 năm, lập kỷ lục số bán với hơn một triệu bản. Nhạc phẩm chủ đề "Adoro" từng được tác giả Phạm Duy chuyển lời thành giai điệu "Vĩnh biệt tình ta".  Sau một thời gian lập nghiệp tại Tokyo, Graciela Susana tập trung vào việc học thêm tiếng Nhật. Vào năm 1982, cô nhận giải thưởng của đài truyền hình NHK dành cho nghệ sĩ nước ngoài xuất sắc nhất nhờ màn trình diễn "Hitori/goto". Đầu thập niên 1990, nhờ nói thông thạo tiếng Nhật, Graciela Susana đã dẫn chương trình phát thanh trên đài NHK trong vòng 3 năm liền, quảng bá tango và dòng nhạc La Tinh thông qua các cuộc phỏng vấn các nghệ sĩ trứ danh Nam Mỹ như Quilapayún hay Paco de Lucía. Nhờ thu hút đông đảo người hâm mộ trung thành, Graciela Susana thường đi biểu diễn thường xuyên tại nhiều liên hoan khắp Nhật Bản. Cũng từ đó, Graciela chuyên phóng tác các điệu tango kinh điển như "La Cumparsita" hay "Caminito" sang tiếng Nhật. Các album chuyên đề dành cho thị trường Nhật Bản càng củng cố uy tín của Graciela như một nghệ sĩ nước  ngoài hát tiếng Nhật điêu luyện, nhờ vậy mà các album phòng thu của Graciela những năm 1990 đều thành công rực rỡ như Amor (1991), Ai no Uta wo Ima Anata ni (1992), Seijo to Yobarete (1996), hoà quyện phong cách tango, chất trữ tình của dòng nhạc La Tinh với nhạc pop Nhật Bản. Tuy không còn thuần chất tango Argentina, nhưng lối diễn giải này vẫn tràn đầy cảm xúc, giúp các bản tango kinh điển chinh phục được thêm nhiều khán giả châu Á. Sau nhiều năm lập nghiệp ở Nhật Bản, Graciela trở về quê nhà vào năm 2011. Tuy không hẳn giải nghệ, nhưng Graciela dần xa lánh ánh đèn sân khấu vì lý do sức khỏe. Vào cuối năm 2024, nghệ sĩ này đột ngột qua đời do lâm bạo bệnh tại Buenos Aires, ở tuổi 71.  Trong suốt sự nghiệp của mình, Graciela Susana đã thu âm hơn 60 album, nhận được nhiều đĩa vàng cũng như nhiều giải thưởng quan trọng. Chất giọng trầm ấm của Graciela chỉ cần có tiếng đệm của đàn ghi ta, tạo ra được những cảm xúc khó tả, như tiếng hót mượt mà của loài họa mi Argentina.

  5. Sep 12

    Những bản nhạc kinh điển của Céline Dion

    Cuối tuần này, Céline Dion khai mạc chuyến lưu diễn trên sân khấu Plenitude Arena ở  La Défense, vùng ngoại ô Paris, đánh dấu ngày diva nhạc pop người Canada tái ngộ khán giả thủ đô Pháp, sau nhiều năm vắng bóng. Đây là dịp nghe lại trong chương trình Góc vườn âm nhạc RFI những tình khúc gắn liền với tên tuổi của Céline Dion, trong đó có nhiều bài hát từng được đặt thêm lời Việt. Tính tổng cộng, ban tổ chức đã lên lịch 26 buổi biểu diễn tại Paris, 16 buổi vào mùa thu năm 2026, kể từ hôm nay 12/09 cho đến ngày giữa tháng 10. Đợt trình diễn này sau đó tiếp tục vào mùa xuân năm tới với 10 đêm bổ sung từ ngày 08/05 đến ngày 29/05/2027. Có thể nói là giới hâm mộ đã chờ đợi sự kiện này từ khá lâu, cho nên rất nhiều fan từ khắp nơi cùng đổ về Paris nhân dịp này. Céline Dion là một trong ba diva có tầm ảnh hưởng lớn nhất thế giới, cùng với Whitney Houston và Mariah Carey .... tiếp nối con đường của Aretha Franklin và Barbra Streisand  Trong vòng hơn 40 năm sự nghiệp, Céline đã giành được 5 giải Grammy, trong đó có giải dành cho bản Thu âm xuất sắc nhất trong năm (Record of the Year) và Giọng ca nữ nhạc pop xuất sắc nhất (Best Female Pop Vocal) dành cho nhạc phẩm "My heart will go on", ca khúc chủ đề bộ phim Titanic, nhân lễ trao giải Grammy lần thứ 41 vào năm 1999.  Thời kỳ huy hoàng nhất của Céline Dion là vào giữa thập niên 1990, trong giai đoạn này diva nhạc pop liên tục lập kỷ lục số bán với các album tiếng Anh, chinh phục thị trường quốc tế. Trong số các tập nhạc bán chạy nhất của Celine Dion, có 32 triệu bản của album "Falling into You" (1996) phát hành cách đây đúng ba thập niên cũng như 31 triệu bản của "Let's talk about Love" (1997) được bán trên toàn thế giới.   Hầu hết các đĩa đơn trích từ hai album này đều được xem là những bản kiệt tác trong thể loại power ballad. Đằng sau Céline Dion là một nhóm sáng tác hùng hậu, chuyên nghiệp hàng đầu như Diane Warren (Because you loved me) Jim Steinman (It's all coming back to me now" và nhà sản xuất David Foster (All by myself) đưa tên tuổi của Céline lên đỉnh cao danh vọng toàn cầu.  Album "Falling in to you" đã đem về cho Céline 2 giải Grammy solo đầu tiên dành cho Album hay nhất và Album nhạc pop xuất sắc nhất, nhân lễ trao giải Grammy vào năm 1997. Trong số những bài hát làm nên tên tuổi của Céline Dion, trước hết phải kể đến "The Power of Love" (Mãnh lực tình yêu) đánh dấu bước ngoặt lớn đầu tiên với đĩa đơn quán quân bảng xếp hạng Billboard. Giai điệu này mở ra một loạt bản hit đình đám khác như "To love you more, The Reason", "Immortality" hát với nhóm Bee Gees và nhất là "All by myself". Đoạn ngân dài ở phần giữa bài hát này thường khiến người nghe phải rùng mình, nổi da gà. Ngoài chất giọng nữ cao trữ tình đầy kịch tính, Céline còn chuyên luyện giọng để nắm vững kỹ thuật cao về thanh nhạc. Vì vậy, đa số các ca khúc của Céline thường nổi tiếng là khó hát và được xem là "thước đo" trong nhiều cuộc thi hát truyền hình đối với nhiều nghệ sĩ tại Việt Nam cũng như trên toàn thế giới. Mỗi khi cất tiếng hát, chất giọng của Céline thường vang xa, vút bay nhờ nội lực tràn đầy. Nhưng quan trọng hơn nữa là giọng ca này giàu cảm xúc, biết dựa vào lời ca, tận dụng lối hoà âm đa tầng, nét tinh tế trong cấu trúc để tạo điểm nhấn riêng cho từng tiết tấu cũng như khúc thức. Mỗi lần Céline thả hồn vào phiên khúc, người hâm mộ lại chợt nghe tâm hồn xao xuyến rạo rực, âm thanh tiềm tàng mãnh lực, kỷ niệm ngập tràn ký ức.

  6. Aug 29

    Nhạc Pháp lời Việt : Tuyển tập song ca của Hélène Ségara

    "Hélène Ségara & Friends" là tựa đề album phòng thu thứ 11 của ca sĩ người Pháp Hélène Ségara. Tập nhạc này bao gồm 12 bài song ca, ghi âm lại những bài hát ăn khách với dàn nghệ sĩ tên tuổi của Pháp cũng như quốc tế, trong đó có diva người Ý Laura Pausini, ca sĩ người Mỹ Lana Parrilla hay nghệ sĩ Hàn Quốc Sung Si-kyung. Được phát hành vào mùa hè năm 2026, album này được trình làng nhân dịp kỷ niệm 30 năm sự nghiệp ca hát của Hélène Ségara. Ngoài tuyển tập song ca, ca sĩ người Pháp còn chuẩn bị vòng lưu diễn trên các sân khấu lớn, tìm lại người hâm mộ trong không gian âm nhạc ngập tràn hoài niệm. Tên thật là Hélène Rizzo, cô sinh trưởng trong một gia đình người Pháp gốc Ý. Nhờ có năng khiếu âm nhạc, Hélène Ségara bắt đầu đi hát từ năm 15 tuổi trong các quán nhạc địa phương. Vào năm 25 tuổi, cô đến Paris lập nghiệp, ban ngày đi làm kiếm sống, ban đêm đi hát quán bar. Tài nghệ của Hélène lọt vào mắt nhà sản xuất Orlando, em trai của thần tượng quá cố Dalida. Nhờ vào sự dìu dắt của ông, Hélène Ségara thành công với album phòng thu đầu tay vào năm 1996 với tựa đề "Coeur de Verre" (Trái tim thủy tinh), doanh thu đạt mức đĩa bạch kim. Hai người hợp tác với nhau cho đến năm 2013, Hélène sau đó thu âm phiên bản tiếng Pháp của bài hát kinh điển "Chuyện tình yêu" (Histoire d'un amour) phiên bản tiếng Pháp đầu tiên do Dalida ghi âm. Sau bước đầu thành công này, tên tuổi của cô thực sự đạt đỉnh cao nhờ hai sự kiện nổi bật : Hélène được chọn vào vai cô gái du mục Esmeralda xinh đẹp trong vở nhạc kịch Nhà thờ Đức Bà Paris (Notre-Dame de Paris) của hai tác giả Luc Plamondon và Richard Cocciante. Giọng ca của Hélène Ségara còn nổi bật nhờ ghi âm phiên bản phóng tác tiếng Pháp của nhạc phẩm "Vivo Per Lei " (Je vis pour elle) vào năm 1997. Màn song ca xuất sắc cùng giọng ca tenor người Ý Andrea Bocelli là bệ phóng đưa tên tuổi của cô vào quỹ đạo thành công. Khi thực hiện bản phối mới cho tuyển tập song ca 2026, Hélène Ségara đã mời Florent Pagny, người làm nên tên tuổi của nhóm Il Cello, ghi âm lại giai điệu này. Trong tiếng Việt, "Vivo per lei" từng được tác giả Nhật Ngân chuyển thành nhạc phẩm "Tình yêu cho em" qua hai giọng ca Khánh Hà và Bằng Kiều. Thành công của bản song ca mở ra vào những năm 2000 thời kỳ vàng son của Hélène Ségara với nhiều bài hát cực kỳ ăn khách. Ca sĩ người Pháp khẳng định vị thế nghệ sĩ hàng đầu qua nhiều album thành công vang dội. Quan trọng nhất vẫn là tập nhạc "Au nom d'une femme" lập kỷ lục số bán với hơn một triệu bản, tương đương với đĩa kim cương, album này cũng mang lại cho Hélène danh hiệu giọng ca nữ xuất sắc nhất nhân kỳ trao tặng Giải thưởng Âm nhạc Victoires de la Musique của Pháp. Trong giai đoạn này có nhiều bài hát ăn khách như "Il y a trop de gens qui t'aiment", "Elle, tu l'aimes" lời tiếng Việt là "Không còn yêu" qua phần ghi âm của Mỹ Tâm, bài song ca ảo với Joe Dassin "À toi" từng được ca sĩ Duy Quang chuyển thành nhạc phẩm "Này em" và nhất là bản song ca với Laura Pausini "On n'oublie jamais rien", từng được nhạc sĩ Nhật Ngân đặt lời thành nhạc phẩm "Sẽ không bao giờ quên anh". Trong những năm gần đây, Hélène Ségara được mời làm thành viên ban giám khảo chương trình tìm kiếm tài năng mới tại Pháp (La France a un Incroyable talent). Nhờ vậy, cô vẫn giữ liên lạc với giới hâm mộ và thường xuyên tham gia các show ca nhạc truyền hình. Trong ba thập niên sự nghiệp, Hélène Ségara đã thực hiện 11 album phòng thu, bán được hơn 15 triệu đĩa hát. Với chất giọng trong trẻo ngọt ngào, cách nhả chữ trau chuốt, vibrato giàu cảm xúc, Hélène Ségara còn nối bước thế hệ trước là Nana Mouskouri và Danielle Licari trong cách dùng vocalise. Tuyển tập song ca vừa được phát hành đánh dấu một hành trình khá dài từ những quán nhạc phòng trà nho nhỏ tại miền nam nước Pháp, cho đến đỉnh cao danh vọng nhờ sở trường hát tình ca kinh điển, đưa giai điệu vào miền ký ức miên viễn, cho dư âm xao xuyến, đánh cắp bao trái tim, thả hồn trong kỷ niệm.

  7. Aug 1

    Album Wallflower (2015) - Bữa tiệc âm nhạc của Diana Krall

    Wallflower, album phòng thu thứ 12 của Diana Krall, ngôi sao jazz Canada đưa khán giả ngược dòng thời gian dạo chơi với những tác phẩm pop/rock kinh điển. Hợp tác với nhà sản xuất tài ba David Foster, Diana chiêu đãi khán giả bữa tiệc âm nhạc thịnh soạn nhất sự nghiệp. Gương mặt sáng giá jazz Canada Diana Krall bắt đầu sự nghiệp từ năm 1992 với album đầu tay Stepping Out. Cô bứt phá ngoạn mục sau 4 năm nhờ album All for You: A Dedication to the Nat King Cole Trio (1996), cover ca khúc bất hủ của tượng đài jazz Nat King Cole. Album gây tiếng vang lớn, giúp cô nhận đề cử Grammy đầu tiên. Nữ nghệ sỹ jazz sinh năm 1964 nổi tiếng với chất giọng contralto, quãng trầm dầy, ấm áp, có màu sắc riêng biệt. Cô từng đoạt 2 giải Grammy ở hạng mục Album Jazz của năm. Đáng chú ý, trường Đại học Victoria, bang British Columbia trao bằng tiến sỹ Nghệ thuật danh dự cho Diana nhờ đóng góp nghệ thuật của siêu sao nhạc jazz. Cô kết hôn với nhạc sỹ người Anh, Elvis Costello năm 2003 và có hai con trai với Elvis. Album Wallflower sản xuất năm 2015 là dự án nhạc pop đặc biệt của Diana, xa rời sở trường jazz quen thuộc. Nữ nghệ sỹ làm mới những tác phẩm kinh điển nhóm The Eagles, Bob Dylan, Elton John, The Carpenters theo màu sắc ngẫu hứng jazz. Đặc biệt, Diana thể hiện bản ballad đẹp, If I can take home you tonight (Nếu anh đưa em về nhà tối nay) do Sir Paul McCartney sáng tác nhưng chưa bao giờ ghi âm. Bản nhạc chứng minh tài năng phi thường của Paul McCartney chỉ trong vài nốt nhạc mở bài. Ca khúc trở thành món ăn đáng chú ý của album nhờ giai điệu sắc nét, âm hưởng buồn man mác, giọng truyền cảm của nữ ca sỹ. Gu tuyển chọn bài hát tinh tế Với album đậm chất hoài cổ theo tư duy mới mẻ, Diana hợp tác với David Foster, nhà xuất danh tiếng có tư duy thị trường nhạy bén với gia tài thành tích hàng loạt giải Grammy như The BodyGuard (Vệ sỹ, 1992), Unforgettable (1991). Ca khúc mở đầu album là California dreaming (Mơ về California), bản nhạc kinh điển gắn với tên tuổi nhóm nhạc The Mamas and The Papas. Ca khúc được sáng tác năm 1963 khi bộ đôi nhạc sỹ John và Michelle Phillips sống giữa mùa đông New York lạnh giá, nhớ về nắng ấm bang California. Nữ nghệ sỹ giới thiệu món ăn khai vị đẹp mắt, nhẹ nhàng mà giữ nguyên được linh hồn ca khúc. David “đo ni đóng giày” cho Diana hai bản hit của nhóm rock huyền thoại The Eagles, Desperado và I can’t tell you why (Anh không thể giải thích tại sao). Nữ ca sỹ khám phá cách thể hiện mới mẻ, khác với bản gốc thô ráp, đậm chất folk-rock. Diana tạo được dấu ấn cá nhân nhờ biến tấu sang bossa nova, tiết tấu chậm rãi và cảm xúc dồi dào. Thú vị hơn, Diana đã nâng ca khúc Superstar (Siêu sao), của nữ ca sỹ quá cố Carpenters lên một tầm cao mới. Bản cover đẹp và da diết trong phần phối khí bay bổng và tình tứ của David Foster. Giọng hát có chiều sâu của Diana khóa chặt khán giả trong không gian một chuyện tình buồn. Sự dũng cảm có “tính toán” bài bản Bộ đôi David Foster và Diana Krall tính toán hợp lý và dũng cảm khi cover lại nhiều bản hit lừng lẫy của các huyền thoại pop/rock. Ca khúc tựa đề album Wallflower là sáng tác của nhà thơ, nhạc sỹ Bob Dylan, người không xa lạ với phong cách folk rock đường phố. Bản cover của Diana đi theo lối nhẹ nhàng, tao nhã. Giọng hát có vị xông khói và màu sắc đặc trưng, hòa quyện tiếng guitar, miêu tả được sự cô đơn, e ngại, sự hoài mong tại bữa tiệc khiêu vũ. Kiệt tác đi cùng năm tháng, Sorry seems to be hardest word (Xin lỗi là ngôn từ khó khăn nhất) của Sir Elton John, được nữ danh ca chế biến hoàn hảo. Không có giọng hát sắc bén, cường độ mạnh như Elton John, Diana làm mới bằng sự lịch lãm và tiết chế chắc tay. Cô tái hiện được màu trầm buồn và cao độ bi tráng của bản gốc. Vẫn tiếng piano dìu dắt, chất giọng contralto đẩy được cao trào một cách mỹ mãn. Khán giả nhận thấy Diana Krall tôn trọng và nâng niu tác phẩm gốc mặc dù làm mới theo bản năng jazz. Bản cover lại của nhóm 10CC thập niên 70, I’m not in love (Anh không yêu em) được coi là một trong những món ăn tinh túy của album. Tác giả ca khúc không chọn lối mòn để nói Anh yêu em mà hoàn toàn ngược lại. Nữ ca sỹ rất nhập vai trong câu chuyện tình yêu mà ca khúc truyền tải. David Foster phối khí ca khúc theo lối hiện đại thiên hướng acoustic khác với bản gốc. Giọng hát Diana mê hoặc, dạo chơi trong âm thanh piano êm dịu và ca từ thông minh của ca khúc. Những khách mời song ca đặc biệt Album Wallflower được phát hành dưới hai phiên bản. Bản tiêu chuẩn gồm 12 ca khúc, bản đầy đủ có thêm 8 ca khúc. Nhà sản xuất tối đa hóa tính thương mại của album nhờ vào cộng hưởng tệp khán giả nhạc jazz với country, soft pop/rock. Chính vì thế, các khách mời đặc biệt như Michael Buble, Bryan Adams, Sarah McLachlan, Vince Gill giúp cho bữa tiệc âm nhạc của Diana Krall thịnh soạn hơn, nhiều hương vị lạ lẫm. Michael Buble, giúp cho bản ballad song ca Alone Again (Naturally) thập niên 70 trở nên ngọt ngào hơn bản gốc trầm buồn. Màn hát bè và hát đôi ăn ý giữa Diana và Sarah McLachlan trong If you could read my mind (Nếu em đọc được suy nghĩ của anh) tạo dấu ấn khó phai về sự đổ vỡ trong hôn nhân. Ca khúc Everybody’s Taking (nhạc phim Oscar Midnight Cowboy, 1969) là kết hợp duyên dáng giữa ngôi sao nhạc country, Vince Gill cùng với Diana Krall. Album Wallflower là bước đi khôn ngoan của Diana Krall kết hợp với David Foster. Nhà sản xuất đã nâng tầm album giải trí, dễ nghe trở thành khối nam châm khổng lồ : giọng hát truyền cảm Diana, phối khí dàn nhạc dây, dàn khách mời ăn ý. Nam ca sỹ giọng khàn Bryan Adams bổ sung hoàn hảo cho Diana trong bản nhạc tình sâu lắng của Randy Newman, Feels like home (Cảm giác như mái ấm). Nhìn tổng thể, nữ nghệ sỹ piano, jazz Diana Krall đã cách tân những món ăn quen thuộc trở thành ẩm thực cao cấp cả thanh lẫn sắc. (Theo Jazz News, Wikipedia)

  8. Jul 25

    Nhạc ngoại lời Việt : Tomio Umezawa và liên khúc "Một thuở yêu người"

    Nhắc đến giai điệu "Một thuở yêu người", giới yêu nhạc nghĩ tới ngay phiên bản tiếng Hoa rất nổi tiếng của danh ca Hồng Kông Trương Học Hữu, nhưng bản gốc lại là một bài hát tiếng Nhật do Kei Ogura & Koji Kanda đồng sáng tác vào năm 1992. Tại xứ hoa anh đào, giọng ca được cho là có lối diễn đạt sâu sắc nhất chính là ca sĩ kiêm diễn viên Tomio Umezawa. Sinh trưởng tại tỉnh Fukushima, Tomio Umezawa xuất thân từ một gia đình có dòng máu nghệ sĩ, nổi tiếng trong làng giải trí. Bố mẹ ông đều là diễn viên sân khấu (ông Kiyoshi Umezawa và bà Ryuchiyo Takezawa) tạo dấu gạch nối giữa truyền thống kịch nghệ kabuki với các chương trình tạp kỹ. Tomio Umezawa xuất hiện lần đầu tiên trên sân khấu khi ông chưa đầy ba tuổi. Ông thực sự bắt đầu tham gia biểu diễn chuyên nghiệp từ năm 15 tuổi, trong đoàn kịch gia đình, do người anh ruột (Takeo Umezawa) điều hành. Mãi đến sau này, Tomio mới lên thay thế anh trai, trở thành đạo diễn và giám đốc đoàn kịch. Vào năm 20 tuổi, Tomio tham gia các vở múa, trong đó các diễn viên nam thường đóng vai nữ "Onnagata". Tài nghệ của Tomio Umezawa có cơ hội vụt sáng thành ngôi sao nhờ những màn trình diễn được giới phê bình cho là hoàn hảo, nhờ y phục trang điểm và nhất là nhờ vào điệu bộ cử chỉ và tài nghệ múa tư nhiên. Ngoài sân khấu kịch nghệ, ông còn đóng phim  truyền hình và điện ảnh. Nhờ tài ăn nói có duyên, pha trò dí dỏm cho nên ông thường được mời xuất hiện trong nhiều show truyền hình Nhật Bản. So với các nghệ sĩ cùng thế hệ, Tomio Umezawa bước vào nghề ca hát khá muộn, ông thu âm bản nhạc nổi tiếng đầu tay với tựa đề "Yumeshibai" vào năm 1983. Giai điệu này do Kei Ogura sáng tác nhạc và lời. Với hơn nửa triệu bản bán chạy trong vài tháng, nhạc phẩm “Yumeshibai” mở đường cho nhiều bản nhạc ăn khách khác, đánh dấu sự hợp tác dài lâu giữa Tomio Umezawa với tác giả Kei Ogura. Nhạc sĩ này sau đó sáng tác cho Tomio nhạc phẩm "Kokoro yuku made" (Tùy theo ý em). Trái ngược hoàn toàn với sân khấu kịch nghệ, nơi ông Tomio nổi bật nhờ dáng vẻ cuốn hút của những vai nữ, khi chuyển sang ca hát, Tomio Umezawa lại có một chất giọng quyến rũ trầm ấm, mạnh mẽ đầy nam tính. Ca khúc nổi tiếng nhất của Tomio Umezawa "Kokoro yuku made" có nhiều lời Việt khác nhau. Ngoài phiên bản "Một thuở yêu người" của tác giả Khúc Lan, còn có nhạc phẩm "Yêu em ngàn đời (khó quên)" của nhạc sĩ Trịnh Nam Sơn, "Tình và đời" của Jimmii Nguyễn, "Tình xưa không phai" của tác giả Chu Minh Ký (Minh Thuận). Gần đây hơn nữa, có bài "Tình cũ chưa phai" do Đặng Thanh Tuyền sáng tác và trình bày. Các bản ghi âm lời Việt sau này gần với bản tiếng Hoa của Trương Học Hữu với tựa đề "Tình xưa còn vương vấn" hơn là bản gốc tiếng Nhật "Tùy theo ý em". Trong chương trình tuần này, có hai liên khúc "Một thuở yêu người & Dạ khúc nửa vầng trăng" (giọng ca nữ) và "Một thuở yêu người & Tình nhạt phai (giọng ca nam). Cánh chim bay ngược gió Giữa bầu trời âm u Cho ước nguyện mịt mù Tình xưa đừng dang dở Từ hố sâu vực thẳm Lên trời cao lồng lộng Tim chịu đựng vang vọng Bao tiếng sấm âm thầm Mưa gội tình thuần khiết Không dối gian tì vết Dù chết vẫn mãn nguyện Được yêu người trọn kiếp

Ratings & Reviews

4.3
out of 5
4 Ratings

About

Góc vườn âm nhạc của RFI

More From RFI Tiếng Việt

You Might Also Like