Tạp chí văn hóa

Sinh hoạt văn hóa, nghệ thuật, đặc biệt là tại Pháp và Việt Nam

  1. FEB 27

    Lăng kính của nhà báo ảnh Robert Capa vẫn mang tính thời sự

    Được mệnh danh là “cha đẻ” của phóng viên ảnh chiến trường, Robert Capa đã để lại cho hậu thế kho tàng ảnh tư liệu đồ sộ, lột tả trần trụi hiện thực nghiệt ngã của chiến tranh. Qua lăng kính đầy tính nhân văn, những tác phẩm của ông không chỉ xuất hiện trên khắp các mặt báo lớn mà còn chứng minh sức mạnh của nghệ thuật kể chuyện bằng hình ảnh, lay động hàng triệu độc giả. Triển lãm tại bảo tàng Libération ở Paris, từ ngày 18/02 đến ngày 20/12 là dịp để công chúng tại Pháp nhìn lại những cột mốc đánh dấu sự nghiệp của nhiếp ảnh gia huyền thoại – Robert Capa. Triển lãm trưng bày hơn 60 bức ảnh do ông chụp trong nhiều giai đoạn khác nhau trên khắp địa cầu, cùng những tài liệu, kỷ vật cá nhân của ông. Robert Capa tên thật là Endre Ernő Friedmann, sinh năm 1913 tại Budapest, Hungary. Bí danh “Robert Capa” được ông chọn vì nghe có vẻ “rất Mỹ”, giúp ông dễ dàng bán ảnh với giá cao hơn. Cuộc đời của ông gắn liền với những biến động lịch sử ở châu Âu và là một trong những nhà nhiếp ảnh hiếm hoi, từng tác nghiệp trong 5 cuộc chiến, từ cuộc nội chiến ở Tây Ban Nha, cho đến chiến tranh Trung – Nhật, qua Đệ Nhị Thế Chiến, và cuộc chiến ở Đông Dương, nơi ông « rơi máy », trút hơi thở cuối cùng, khi dẫm phải mìn lúc tác nghiệp tại Thái Bình, Việt Nam vào năm 1954. Đọc thêmRobert Capa: Tài liệu quý hiếm nhân 60 năm ngày giỗ Với phong cách « dấn thân » và tôn chỉ  « Nếu ảnh không đẹp chứng tỏ bạn chưa đến đủ gần », Robert Capa đã đặt nền móng cho nghề phóng viên ảnh hiện đại, được coi là một trong những nhà nhiếp ảnh chiến trường vĩ đãi nhất thế kỷ XX. Để hiểu rõ thêm về Robert Capa, RFI đã phỏng vấn Kevin Desurmont, phụ trách triển lãm của bảo tàng Libération ở Paris. Bảo tàng đã chọn cách kể chuyện dẫn dắt người xem như thế nào trong triển lãm lần này để nói về Robert Capa? Chúng tôi thực hiện triển lãm này, với sự hợp tác của Magnum Photos, hãng ảnh do Robert Capa thành lập vào năm 1947. Chúng tôi khai thác kho lưu trữ của Magnum, gồm những bản in báo chí, từng được lưu hành rộng rãi trong các phòng biên tập báo chí trên khắp châu Âu và thế giới. Đây không chỉ là một bộ sưu tập ảnh, mà còn là một cuộc trưng bày các bản in và hiện vật mang theo câu chuyện lịch sử đằng sau chúng. Sợi chỉ xuyên suốt triển làm là những hình ảnh mang tính biểu tượng của ông, cách ông làm việc, cách các bản in được sử dụng trên báo chí vào những năm 1930 và sau đó. Chúng tôi liên kết tất cả các nội dung này, với con người Robert Capa, và một bộ phim tiểu sử về ông, để cuối cùng mở ra những vấn đề cốt lõi: nhiếp ảnh chiến tranh là gì, và đâu là những giới hạn đạo đức cần được cân nhắc. Chúng tôi cố gắng đặt câu hỏi về việc khi nào nhiếp ảnh chiến tranh đi quá xa ? Khi nào nhiếp ảnh gia nên dừng lại trong vai trò của mình ? Robert Capa được coi là một "nhân vật" do Friedmann tạo ra. Điểm đáng chú ý nhất của nhân vật này là gì? Robert Capa có tên khai sinh là Endre Ernő Friedmann, là một người tị nạn Do Thái từ Hungary, chống phát xít, đến Paris vào năm 1933 từ rất trẻ, (khi mới 17 tuổi) và gặp rất nhiều những người tị nạn khác, (…) và cùng gặp khó khăn trong việc bán ảnh, và cứ thế Robert Capa ra đời, có phần lập dị, là một người thích mạo hiểm và thích việc chơi đùa với cuộc sống. Ông cũng là người luôn tìm đến những nơi nguy hiểm. Ông tiến thẳng vào tâm điểm hiểm nguy, và điều này được thể hiện rất rõ trong triển lãm. Tại triển lãm, chúng tôi trưng bày cả những thước phim tư liệu ghi lại cảnh ông thực sự lao vào trung tâm của các trận giao tranh. Phong cách của ông là ở tuyến đầu, ở khoảng cách gần nhất, chụp cả những người lính trực tiếp chiến đấu lẫn cảnh khốn cùng mà chiến tranh gieo rắc. Rốt cuộc, khó có thể xếp ông vào trào lưu “nhiếp ảnh nhân văn” theo nghĩa một trường phái cụ thể, nhưng rõ ràng ông sở hữu một cái nhìn đậm tính nhân văn, đối với các nhân vật và hiện thực mà mình ghi lại. Ông đánh giá thế nào về vai trò của Capa trong lịch sử báo ảnh? Robert Capa hành nghề nhiếp ảnh vào thời điểm mà báo ảnh đang trong trải qua một cuộc cách mạng. Các báo, tạp chí, đưa ra những đường biên tập mới, cùng với sự hồi sinh mạnh mẽ của báo chí có hình minh họa. Các bức ảnh trở thành phương tiện quan trọng để phản ánh, truyền tải thời sự. Các nhà nhiếp ảnh tham gia vào quá trình này. Bên cạnh đó, là những tiến bộ kỹ thuật, với những máy ảnh ngày càng nhỏ gọn, linh hoạt với nhiều tính năng vượt trội. Nhờ vậy, nhiếp ảnh gia có thể ghi lại những sự kiện trực tiếp trên đường phố, nhanh chóng tráng, rửa ảnh và chuyển về tòa soạn để kịp thời xuất bản. Do đó, có một làn sóng đổi mới mạnh mẽ trong thập niên 1930 về báo ảnh, Capa là một trong gương mặt góp phần quan trọng vào quá trình này. Điều đặc biệt ở chỗ là ông đã trở thành phóng viên ảnh chiến trường nổi tiếng nhất, từ nội chiến ở Tây Ban Nha, quan cuộc chiến ở Đông Dương năm 1954. Công việc của ông đã được các đồng nghiệp và các tòa soạn thừa nhận. Điều này củng cố thêm kinh nghiệm chuyên môn của mình. Đông Dương cũng là nơi mà Robert Capa đã thiệt mạng khi tác nghiệp, vậy bảo tàng đề cập đến cái chết của huyền thoại nhiếp ảnh gia chiến trường này như thế nào ? Về cái chết của Capa, chúng tôi tiếp cận câu chuyện này bằng cách giới thiệu ở gian cuối cùng của triển lãm một trong những tấm ảnh cuối cùng được ông chụp.  Đó là bức ảnh màu cuối cùng cho thấy những cánh đồng lúa và những người lính Pháp, được chụp trước khi ông giẫm phải mìn. Bức ảnh màu này được trình bày dưới dạng tấm in cũ và cũng có bản phóng lớn, để người xem có thể thực sự đắm mình trong khoảnh khắc cuối cùng đó. Hình ảnh màu và các cảnh tượng binh lính trên cánh đồng lúa, gợi lên cách mà các phóng viên chiến trường tiếp tục thực hành nghề nghiệp trong các xung đột sau này, đặc biệt là Chiến tranh Việt Nam, với những hình ảnh có thể được liên tưởng đến những tấm ảnh này. Triển lãm được tổ chức trong bối cảnh đang diễn ra nhiều cuộc xung đột thu hút sự quan tâm của quốc tế, từ cuộc chiến ở Ukraina cho đến xung đột ở Trung Đông. Vậy đâu là thông điệp mà bảo tàng muốn truyền tải khi đề cập đến nhà báo ảnh chiến trường Robert Capa ? Thông điệp mà chúng tôi muốn truyền tải là những bức ảnh của Capa vẫn còn mang tính thời sự, cho dù đã nhiều thập kỷ trôi qua kể từ khi ông qua đời, nó vẫn là một tiêu chuẩn tham chiếu đối với nhiều phóng viên chiến tranh đương đại. Đồng thời, chúng tôi đặt ra nhiều câu hỏi xuyên suốt triển lãm về cách các tấm ảnh được lan toả, và về vị trí của người chụp. Ví dụ, có một câu hỏi trọng tâm là: đến lúc nào thì một phóng viên nên dừng chụp để cứu người mà họ đang ghi lại?  Vấn đề này được đặt ra qua trao đổi với các nhà báo/phóng viên chiến tranh hiện đại, trong đó một đại diện của hãng Magnum, đã trả lời chúng tôi rằng nhiều câu hỏi mà Capa từng đối diện vẫn còn nguyên giá trị ngày nay, bất chấp tiến bộ kỹ thuật và những hình thức xung đột mới.   RFI Tiếng Việt xin chân thành cảm ơn ông Kevin Desurmont, và bảo tàng Libération Paris.

    9 min
  2. FEB 18

    Việt Nam qua chuyến lưu diễn của Dana Ciocarlie : Âm nhạc và những dòng kết nối

    Từ ngày 27/11 đến 9/12 năm 2025, nghệ sĩ piano Pháp-Rumani Dana Ciocarlie đã thực hiện chuyến lưu diễn tại Việt Nam, đưa khán giả đi qua những dòng sông, nơi âm nhạc gợi lên hình ảnh chuyển động của nước và tạo thành những kết nối giữa các thế hệ, các nền văn hóa. Chuyến lưu diễn nằm trong khuôn khổ dự án Vivre avec les fleuves của Viện Pháp và danh hiệu Living with Rivers của hiệp hội Novelette, thể hiện tinh thần hợp tác nghệ thuật và ý thức về môi trường, biến mỗi buổi trình diễn thành một hành trình khám phá đầy cảm hứng. Việt Nam là một đất nước được hình thành và được nuôi dưỡng nhờ nước. Các con sông không chỉ tạo nên địa hình và cảnh quan, mà còn đóng vai trò trung tâm trong đời sống kinh tế, xã hội và văn hóa. Từ miền Bắc đến miền Nam, sông ngòi kết nối các vùng đất, định hình đô thị, điều tiết mùa màng và lưu giữ ký ức tập thể. Tại Hà Nội, nhịp sống đô thị dày đặc, liên tục vận động, gợi cảm giác dòng chảy không ngừng. Ở phía Nam, sông nước mênh mông, chia nhánh, tạo thành vùng châu thổ rộng lớn của sông Mê Kông. Trong bối cảnh ấy, chuyến lưu diễn của Dana Ciocarlie gợi lên hình ảnh một cuộc hành trình xuôi theo dòng nước, nơi âm nhạc đối thoại với không gian, lịch sử và con người. Dự án này không chỉ xuất phát từ một chủ đề hay một lãnh thổ, mà còn từ một tình bạn Pháp–Việt được xây dựng qua thời gian. Trước chuyến lưu diễn, đó là một quá trình trao đổi lâu dài, dựa trên sự tin cậy, những câu chuyện được chia sẻ và « dịch chuyển » theo nghĩa rộng : dịch chuyển trong ngôn ngữ, văn hóa và ý tưởng sáng tạo nghệ thuật. Âm nhạc dần trở thành phương tiện chung, kết nối sông Loire – biểu tượng di sản của Pháp – với sông Mê Kông, nguồn sống thiết yếu của Việt Nam, và rộng hơn là kết nối các dân tộc với nhau. Dana cho biết : « Ở Pháp, chúng tôi có một con sông lớn mang tên Loire, đồng thời cũng là nơi khai sinh hiệp hội Novelette mà tôi tham gia thành lập. Và năm 2025 lại được chọn là Năm Quốc tế về sông nước, nên điều này thật hiển nhiên khi chúng tôi nghĩ đến việc tạo nên một chương trình âm nhạc và hành trình khám phá Việt Nam, bắt đầu từ Loire sau đó hướng về Mê Kông. Hai dòng sông này thậm chí còn được chính thức kết nghĩa với nhau. » Chuyến lưu diễn được triển khai với sự hỗ trợ của Viện Pháp tại Việt Nam và hiệp hội Novelette, đơn vị đạt danh hiệu Living with Rivers. Dự án là những suy tư về nước không chỉ như một yếu tố tự nhiên, mà như một mối liên kết sống động giữa con người, văn hóa và sáng tạo. Trong khuôn khổ đó, sông trở thành một không gian gặp gỡ giữa các lĩnh vực, các thế hệ và các chương trình nghệ thuật khác nhau. Một trong những khoảnh khắc đáng nhớ của chuyến lưu diễn là cuộc gặp gỡ với nhóm nghiên cứu CARE (Center Asian Research on Water) trên sông Sài Gòn, nơi Dana Ciocarlie trao đổi về tình trạng của các hệ thống sông ngòi đô thị với các nhà khoa học Pháp và Việt Nam. Những cuộc trao đổi này giúp bà nhận thức được rằng nước không chỉ là nguồn cảm hứng âm nhạc, mà còn là một thực thể mong manh, gắn với trách nhiệm chung, khiến mỗi buổi hòa nhạc trở thành một không gian chia sẻ và nâng cao nhận thức về môi trường. Ngày 28/11, nghệ sĩ piano Dana Ciocarlie tham gia buổi tổng duyệt đầu tiên với dàn nhạc VNSO, dưới sự chỉ huy của nhạc trưởng Honna Tetsuji. Trong chương trình biểu diễn tối 29 tháng 11 tại Phòng Hòa nhạc Quốc gia Hà Nội, bà trình diễn Concerto số 5 của Camille Saint-Saëns. Dana Ciocarlie chia sẻ : « Concerto số 5 là một tác phẩm khá đặc biệt, còn được gọi là ‘Egyptien’ (Ai Cập), lấy cảm hứng từ đất nước, con người Ai Cập và phương Đông. Văn hóa Pháp thường xuyên hướng cái nhìn về các lục địa khác, các nền văn hóa khác. Camille Saint-Saëns là một nhà soạn nhạc thuộc trường phái Lãng mạn vào thế kỷ 19. Tác phẩm này mang ý nghĩa của một hành trình khám phá.» Bà cho biết thêm: « Tác phẩm có mạch chảy xuyên suốt và đồng thời giàu tính kỹ thuật, càng rực rỡ qua tiếng dương cầm, đưa người nghe qua nhiều tâm cảnh khác nhau.» Trong buổi hòa nhạc, nghệ sĩ và dàn nhạc tạo nên một cuộc đối thoại sinh động. Kỹ thuật nhanh nhạy, linh hoạt và giàu năng lượng của Dana Ciocarlie trên phím dương cầm mang lại cho người nghe cảm giác chuyển động – lúc mềm mại, lúc dữ dội như những dòng chảy của nước - phù hợp với chủ đề trung tâm của chương trình. Khán giả tại Học viện Âm nhạc Quốc gia đã dành cho nghệ sĩ những tràng pháo tay nồng nhiệt. Đáp lễ, bà biểu diễn thêm bản Hành khúc Thổ Nhĩ Kỳ của Mozart như một món quà đặc biệt ở phần cuối chương trình. Dana Ciocarlie hiện cũng đang thực hiện các bản thu trực tiếp các concerto của Mozart tại Paris, một số đã được phát hành và các phiên bản khác sắp ra mắt, mở rộng hành trình âm nhạc mà bà đã gửi đến người Việt Nam. Từ Hà Nội, chuyến lưu diễn tiếp tục đến Huế, Đà Nẵng, Thành phố Hồ Chí Minh và Đà Lạt. Mỗi chặng dừng là một dịp gặp gỡ với các ê-kíp địa phương, khán giả, cũng như sinh viên và giảng viên các nhạc viện. Chương trình được xây dựng như một hành trình xuyên thế hệ và truyền thống âm nhạc, kết nối các nhà soạn nhạc có chung nền tảng đào tạo như Maurice Ravel, Gabriel Fauré và Georges Enesco, với các nhà soạn nhạc đương đại, trong đó có Élise Bertrand, gương mặt trẻ đang được chú ý tại Pháp, Édith Canat de Chizy và Marie Jaëll. Dana Ciocarlie đặc biệt quan tâm đến việc giới thiệu các tác phẩm của các nhà sáng tác nữ, xem đó như một phần thiết yếu trong cam kết nghệ thuật của mình. Bên cạnh đó là sự hiện diện của nhà soạn nhạc Việt Nam Tôn Thất Tiết, sinh ra tại Huế, một tên tuổi quen thuộc trên các diễn đàn âm nhạc quốc tế, dù còn ít được biết đến trong nước. Nói về tinh thần của chương trình, Dana Ciocarlie tâm sự với RFI : « Tôi nghĩ chương trình sẽ giống như một cơn lốc của những tương phản : có những bản nhạc nghe khá lạ lẫm, nhưng cũng có những giai điệu rất quen thuộc. Tôi mong đợi ở khán giả sự tò mò, sự quan tâm và cả sự thân thiện. » Các tác phẩm trong chương trình được lựa chọn để đối thoại với chủ đề nước và lịch sử âm nhạc, từ những âm thanh linh hoạt, trong trẻo của Ravel hay Dutilleux, đến không gian tĩnh tại, chiêm nghiệm của Debussy, và thế giới nội tâm, đa chiều trong các tác phẩm của Marie Jaëll, Philippe Hersant hay Édith Canat de Chizy. Fauré gợi nhịp điệu đều đặn, nhẹ nhàng như thuyền trôi êm đềm trên dòng sông phẳng lặng, Bertrand nhắc về nguồn cội, còn Tôn Thất Tiết khép lại chương trình bằng một bức tranh âm thanh đa tầng, diễn đạt những trạng thái đối lập của biển và thiên nhiên. Trả lời RFI Tiếng Việt, Dana Ciocarlie khẳng định âm nhạc là một ngôn ngữ chung, không cần lời nói, nhưng có khả năng kết nối con người và mở ra những cách nhìn mới về thế giới. Được công chúng Việt Nam đón nhận nồng nhiệt, dự án này cho thấy sự giao thoa chặt chẽ giữa nghệ thuật và ý thức môi trường. Sau hành trình tại Việt Nam, chương trình đã được giới thiệu tại Pháp, trong khuôn khổ lễ hội La Folle Journée ở Nantes, vào ngày 29/1/2026, nơi các dòng sông một lần nữa trở thành chất liệu âm nhạc và không gian suy ngẫm chung.

    10 min
  3. FEB 17

    Ngựa, biểu tượng của tự do và quyền lực qua văn chương và hội họa phương Tây

    Với người Tây phương, Ngựa là biểu tượng của quyền lực, của sức mạnh và tự do. Ở một thời không quá xa xưa, Ngựa là bạn đồng hành vào sinh ra tử trên chiến trường. Thông minh, tinh tế, trung thành, Ngựa từng được xem như một phương pháp trị liệu để chữa lành những vết thương tâm lý : Ngần ấy lý do khiến con Ngựa có một chỗ đứng riêng biệt trong văn hóa dân gian, trong các truyền thống tín ngưỡng, cũng như trong văn học hay hội họa. Trong thần thoại Hy Lạp, Pegasus là con ngựa có cánh, biểu tượng của sự thanh cao và tính ưu việt. Trong những bức tranh cổ dưới nhiều triều đại phong kiến, nhất là dưới thời Phục Hưng, hình ảnh của các vị hoàng đế cưỡi ngựa thể hiện quyền lực tuyệt đối. Điển hình là tác phẩm Bonaparte franchissant le Grand-Saint-Bernard danh họa Jacques-Louis David thực hiện trong giai đoạn 1800–1803 : Tướng Bonaparte oai phong trên lưng ngựa trắng, vượt đèo Grand-Saint-Bernard trên dẫy núi Alpes, mở đường cho một chiến dịch quân sự vẻ vang viết nên huyền thoại Napoléon sau này.  Vào thời kỳ Lãng Mạn thế kỷ XVIII-XIX, những con ngựa hoang trở thành biểu tượng của sức sống nguyên sơ, của tinh thần độc lập. Đến khi mà những cỗ xe ngựa được thay bằng xe đạp, bằng xe hơi bốn bánh, bằng những đoàn tàu hỏa, Ngựa không còn là ngựa thồ hay là phương tiện di chuyển tiện lợi nhất. Từ đó chúng trở thành thú tiêu khiển của giới thượng lưu : khi thì để đi săn, lúc thì để thi thố tài năng trên các trường đua, để cá cược… Ngựa mới chỉ bầu bạn với loài người trong khoảng thời gian từ 5500-2200 năm trước Công Nguyên, không thân thiết với nhân loại như con Chó trong nhà. Điều đó không cấm cản Ngựa là nguồn cảm hứng vô tận trong văn chương. Nhà văn người Anh, William Shakespeare từng quan niệm : « Thượng Đế đã tạo ra con ngựa từ hơi thở của Gió, từ vẻ đẹp của Đất và Tâm Hồn của con Người » cho nên, con vật ấy là « hồn, là sức mạnh tự nhiên để dẫn dắt, che chở, dẫn đường cho mỗi cá nhân hay mỗi cộng đồng ». Ngựa và tính gợi cảm Dưới nhãn quan của nhà văn người Pháp, Gustave Flaubert thế kỷ XIX thì khác. Trong tiểu thuyết Madame Bovary (1857) ông không chỉ xem Ngựa là một phương tiện di chuyển và con vật tinh tế và thông minh này trước hết là ẩn dụ cho dụng vọng, là hình ảnh của những người tình được nàng Emma lý tưởng hóa. Là một thiếu nữ có học, Emma chán anh chồng hiền lành và nhạt nhẽo như Charles. Cô tìm kiếm đam mê trong vòng tay của Rodopphe và Léon. Nhưng con ngựa mà Charles cưỡi trong lần anh đi thăm con bệnh, trong lần đầu gặp nàng Emma, là « một con ngựa cái trắng già nua (...) bước đi thiếu vững vàng ». Ngựa của Charles vụng về, hiền lành, kém hấp dẫn như ông chủ của nó. Trái lại, ngựa của Rodophe hay Léon là những con tuấn mã quyến rũ và bốc lửa. Mọi người còn nhớ hình ảnh Emma lên ngựa cùng Rodolphe nhờ có sự gửi gắm của Charles. Lần này, người và ngựa xuất hiện với vẻ ngoài hấp dẫn hơn hẳn so với anh chồng tội nghiệp : « Rodolphe đến trước cửa nhà Charles với hai con ngựa sang trọng. Một con đeo chùm tua hồng ở tai và yên ngựa phụ nữ bằng da hoẵng ». Trong chuyến dã ngoại đó, « con ngựa của Emma phóng nước đại. Rodolphe phi song song bên nàng. Thỉnh thoảng họ trao đổi vài lời. Hơi cúi mặt, tay nâng cao và cánh tay phải duỗi ra, nàng buông mình theo nhịp chuyển động của yên ngựa ». Gương mặt cúi xuống cũng như « sự buông thả theo nhịp chuyển động của yên ngựa » : Bà Bovary như thể đã sẵn sàng hiến dâng. Khi đến bìa rừng, « Họ xuống ngựa. Rodolphe buộc ngựa lại. Nàng đi trước, thả bước trên lớp rêu, (…) Nhưng chiếc váy quá dài vướng víu, dù đã được vén lên. Rodolphe, bước phía sau, ngắm nhìn giữa lớp vải đen và đôi bốt đen kia phối hợp tinh tế với đôi tất trắng (…) ». Sau những lời yêu đương ngọt nào, Rodolphe thúc ép nàng. Emma sợ hãi, cô cuống cuồng đi tìm ngựa để anh phải đỡ nàng ngang hông. Rodolphe không thể chờ thêm, chàng nài nỉ và người phụ nữ trẻ cuối cùng đã chiều lòng người yêu. Cô khẽ gọi tên Rodolphe khi nghiêng minh trên vai anh… Những con ngựa ở đây như đồng lõa, đưa Emma đến với khát khao của nàng. Đôi ngựa sang trọng của họ như thông cảm và kiên nhẫn chờ đợi khoảng thời gian cần thiết cho đôi kỵ mã … Ngựa, con vật gợi tình  Ở phần hai tiểu thuyết Madame Bovary, trong vòng tay của Léon, giờ đây Emmma tìm thấy ngõ thoát, để tạm quên đi cuộc sống nhàm chán của bà. Tại thành phố Rouen, Emma và Léon hẹn nhau ở Nhà Thờ Lớn. Nàng đột nhiên bì giày vò vì cảm giác tội lỗi … Nhưng Léon thì đang nóng ruột. Anh đã vội vàng gọi một chiếc xe ngựa … Emma bị Léon đẩy vào chiếc xe vừa tới, cỗ xe bắt đầu lao khắp thành phố… Mỗi khi người đánh xe định dừng lại, một tiếng kêu từ trong xe vang lên ra lệnh cho ông ta tiếp tục. Với chút hài hước, Gustave Flaubert mô tả hành trình kỳ quặc của cỗ xe. Ông viết : « Trên bến cảng, giữa những xe thồ, những thùng hàng và mọi ngõ ngách của các con phố, người ta tròn mắt kinh ngạc trước điều quá đỗi lạ lùng ở tỉnh lẻ này. Một chiếc xe với rèm kéo kín, khép chặt như một ngôi mộ và cứ thế lao đi, chòng chành như một con tàu ». Khi tiểu thuyết được xuất bản dưới dạng đăng nhiều kỳ, một người bạn của Gustave Flaubert (Maxime Du Camp) đã từng không cho in đoạn này vì cho là quá táo bạo. Xuyên suốt cuốn tiểu thuyết, con ngựa trở thành hiện thân của người tình hoặc người chồng – tùy theo cách nhìn : những con ngựa của Léon, Emma hay Rodolphe và Charles, khi thì mềm yếu, kém quyến rũ, lúc thì lại đầy nam tính và say mê. Gustave Flaubert đã sử dụng hình tượng con ngựa không chỉ như bạn đồng hành hay phương tiện di chuyển mà như một ẩn dụ khi Emma trốn chạy trong tình yêu : Con vật gợi tình tuyệt hảo, tiếp tục phi nước đại trong những giấc mơ của nhân vật nữ chính trong truyện. Chiếc xe ngựa mà Léon đã gọi ở Rouen cuốn nàng đi xa khỏi đời sống nhàm chán và người chồng nhạt nhẽo : « Với vó câu của bốn con ngựa phi nước đại, nàng đã được cuốn đi suốt tám ngày về phía một miền đất mới, nơi họ sẽ không bao giờ trở lại. Họ cứ đi, cứ đi, tay đan vào nhau, không nói một lời (…) ». Cũng cái hình ảnh này trong tiểu thuyết Madame Bovary khiến giới yêu nghệ thuật liên tưởng đến bức tranh của họa sĩ Alfred de Dreux, một nghệ sĩ hơn Flaubert 10 tuổi, La course au baiser (Cuộc đua đến nụ hôn), được vẽ năm 1840. Trong hội họa, Eugène Delacroix (1798-1863) đâu chỉ nổi tiếng với tác phẩm Nữ Thần Tự Do dẫn đường cho dân tộc La Liberté guidant le peuple (1830). Ông còn là một trong những nghệ sĩ yêu ngựa nhất. Chẳng vậy mà ông đã để lại trên dưới một chục bức họa nổi tiếng mà nay đang được trưng bày ở những bảo tàng danh tiếng nhất thế giới như Louvre hay Musée d’Orsay … Trong đó phải kể đến Cheval sauvage terrassé par un tigre Ngựa hoang bị Hổ khống chế (1828) ; Ngựa hoảng loạn trong bão tố -Cheval effrayé par une tempête (1820) hay bức tranh sơn dầu Ngựa đánh nhau trong chuồng -Chevaux arabes se battant dans une écurie (1860)  … Chuyên vẽ động vật, Delacroix từng ghi lại : « Con người là những con hổ và chó sói bị kích động chống lẫn nhau để tự hủy diệt lẫn nhau ». Trong thế giới động vật biểu tượng của trường phái lãng mạn, Delacroix đưa vào đó tính hung bạo và mãnh liệt của những loài thú dữ bị bắt gặp trong những trận chiến sinh tử. Đó cũng là những ẩn dụ về con người. Danh họa người Pháp này là một « bậc thầy về khả năng nắm bắt nguồn năng lượng dồn nén của một con vật sắp vồ mồi », của những con dã thú bị dồn vào chân tường, tất cả đều căng tràn và sự hung hãn bị kìm nén. Delacroix đã hình dung ra một màn song đấu giữa hai con thú kiêu hãnh, Ngựa và Hổ. Đấy cũng là ẩn dụ giữa sức mạnh nguyên sơ nhưng cũng có thể được thuần hóa với một sức mạnh còn hoang dã và tàn bạo. Eugène Delacroix ở những năm 1820 đã dày công nghiên cứu về về thân hình, về vóc dáng, thần sắc … của con Ngựa đ

    10 min
  4. FEB 13

    Nhà sản xuất phim Katayoon Shahabi: "Iran là một nhà tù lớn"

    Là thành viên ban giám khảo quốc tế của Liên hoan Điện ảnh Châu Á Vesoul 2026 ( 27/01-03/02/2026 ), trong lễ khai mạc khai mạc sự kiện này tối 27/01, bà Katayoon Shahabi, nhà sản xuất phim người Iran nay sống lưu vong tại Pháp, đã mạnh mẽ lên tiếng tố cáo những tội ác của chế độ Teheran, thảm sát hàng chục ngàn người biểu tình chống chính quyền. Đối với bà Shahabi, Iran ngày nay càng giống như là một "nhà tù lớn". Sinh tại Teheran năm 1963, Katayoun Shahabi theo học văn học Pháp trước khi gia nhập Quỹ Điện ảnh Farabi (FCF) năm 1984. Mười năm sau, bà thành lập Cima Media International, chuyên quảng bá các chương trình nghe nhìn và đồng sản xuất nhiều phim tài liệu và phim truyện. Năm 2001, bà thành lập công ty riêng, Sheherazad Media International (SMI), trở thành nhà phân phối tư nhân lớn nhất các bộ phim Iran trên toàn thế giới. Katayoun Shahabi cũng đã đồng sản xuất nhiều phim tài liệu, như với kênh truyền hình Pháp-Đức Arte và sau đó sản xuất phim truyện, vẫn theo hình thức đồng sản xuất. Katayoon Shahabi từng là thành viên ban giám khảo tại các liên hoan phim quốc tế như San Sebastian (với tư cách chủ tịch), Liên hoan phim tài liệu quốc tế Amsterdam (IDFA) và Mannheim-Heidelberg. Bà còn là thành iên ban giám khảo cho hạng mục tranh giải chính tại Liên hoan phim Cannes 2016, là người Iran thứ ba được chọn vào ban giám khảo này sau các đạo diễn  Abbas Kiarostami và Leila Hatami.  Trả lời RFI Việt ngữ tại Liên hoan Vesoul ngày 28/01/2026, Katayoun Shahabi cho biết: “Tôi bắt đầu sự nghiệp ở tuổi 20 tại Quỹ Điện ảnh Farabi, chuyên quảng bá phim Iran trên toàn thế giới. Chính tại đó mà tôi thực sự khám phá ra điện ảnh Iran, khám phá những đạo diễn lớn. Tôi chưa từng học về điện ảnh và ban đầu không có mục tiêu làm phim, nhưng lúc đó tôi quyết định sẽ làm việc trong lĩnh vực điện ảnh.  Tôi lớn lên trong một gia đình mà không ai bảo tôi rằng một phụ nữ sẽ bị những hạn chế. Vì vậy, khi bắt đầu làm việc, tôi không hiểu tại sao tất cả các đồng nghiệp mới được tuyển dụng đều được đi dự liên hoan phim, trong khi tôi thì không được cử đi. Tôi cũng không hiểu tại sao tôi không thể viết tên mình mà luôn phải viết tên của những người đàn ông làm việc với tôi. Như thể tôi là người vô hình vậy! Đó là lý do tại sao tôi đã từ chức khỏi Quỹ Điện ảnh Farabi và sau chín năm, tôi rời khỏi Cima Media International, rồi quyết định thành lập công ty riêng của mình. Khi còn làm công tác truyền thông, tôi đã yêu cầu được cử đi nước ngoài vì tôi là giám đốc phụ trách các vấn đề quốc tế, nhưng họ không muốn cử tôi đi, chẳng hạn như tham gia Liên hoan phim Cannes. Tôi bèn  nói với họ: "Hoặc là các ông cử tôi đi, hoặc là tôi sẽ từ chức."  Thế là họ phải cử tôi đi, vì tôi là người có kinh nghiệm nhất, họ không có ai khác. Vì vậy, tôi hiểu rằng mình luôn phải đòi những gì mình phải được hưởng, vì không ai tự nhiên cho mình cả.”  Ngày 17/09/2011, Katayoon và sáu nhà làm phim khác bị bắt giữ với cáo buộc "làm gián điệp cho Đài BBC tiếng Ba Tư". Chính quyền cho rằng các phim tài liệu do BBC phát sóng là bất hợp pháp và vẽ nên "một bức tranh đen tối về Iran và người dân Iran". Các vụ bắt giữ này đã dẫn đến nhiều cuộc biểu tình phản đối trên thế giới.  Katayoon Shahabi kể lại: “Tôi đã bị bắt sau khi ban tiếng Ba Tư của đài BBC được thành lập ở Iran. Vào năm 2008 đã có các cuộc bạo loạn đầu tiên và BBC Ba Tư đã đưa tin về những vụ đó. Họ đã tiếp cận tôi với tư cách là nhà sản xuất và phân phối phim để đề nghị tôi làm phim, nhưng tôi từ chối. Sau đó, họ sản xuất một bộ phim về Khamenei và muốn phát sóng nó. Chính quyền đã nói với họ: "Nếu các ông phát sóng bộ phim đó, chúng tôi sẽ coi đó là lằn ranh đỏ. Chúng tôi sẽ khiến không ai có thể làm việc với các ông nữa." Tôi là nhà sản xuất kiêm nhà phân phối quốc tế duy nhất trong số họ và là phụ nữ duy nhất. Vì tôi khá nổi tiếng trong giới điện ảnh lúc đó, họ muốn lấy tôi làm gương và nói rằng: “Hãy cẩn thận, cô có thể bị bắt bất cứ lúc nào”.  Khi bị bắt giữ, lúc đầu tôi rất ngạc nhiên và sợ hãi. Nhưng sau đó tôi tự nhủ mình không làm gì sai, chỉ làm nhiệm vụ của mình thôi. Vì vậy, tôi không sợ nữa. Họ muốn ghi hình tôi để làm một lời thú tội giả trên truyền hình, nhưng tôi không đồng ý, nên đã bị thẩm vấn bốn hoặc năm lần và bị biệt giam cho đến khi họ hiểu rằng tôi sẽ không làm theo ý của họ. Rất nhiều bạn bè của tôi ở bên ngoài đã làm đơn kiến ​​nghị, có rất nhiều tiếng nói đòi thả tôi, cuối cùng họ buộc phải thả tôi.” Sau 54 ngày ngồi tù, Katayoon Shahabi được tự do, nhưng bị thu hồi giấy phép kinh doanh, đồng thời bị cấm xuất cảnh. Khi lệnh cấm được dỡ bỏ, bà đã sang Pháp đăng ký thành lập công ty mới, Noori Pictures, vào năm 2012 trước khi trở về Iran. Với công ty mới này, bà đã mở rộng hoạt động sản xuất phim và phân phối quốc tế các tác phẩm của Iran và đạt được nhiều thành công. Một số phim do công ty của bà phân phối đã đoạt giải tại các liên hoan phim quốc tế như Cannes và Venise.  Với việc chính quyền Cộng hòa Hồi giáo Iran tăng cường các hạn chế đối với các nhà sản xuất phim trong những năm gần đây, Katayoon Shahabi buộc phải sản xuất phim ở nước ngoài, cụ thể là sản xuất một phim ở Afghanistan năm 2019 và một phim ở Azerbaijan ba năm sau đó. Cả hai phim đều được trình chiếu tại Liên hoan phim Venise. Bà Katayoon Shahabi thổ lộ: "Trong một chế độ độc tài thần quyền, mọi điều người dân làm, ngay cả trong nhà, nghe nhạc gì, có uống rượu hay không, có sử dụng truyền hình vệ tinh hay không, đều bị kiểm soát. Giờ đây khi đã được sống tự do ba năm ở bên ngoài, tôi càng nhận ra Iran là một nhà tù lớn.” Nhưng ngay chính bà cũng không ngờ rằng chính quyền Cộng hòa Hồi giáo nay lại tỏ ra tàn bạo như thế, thảm sát đến hàng chục ngàn người biểu tình chống chính quyền:  “Đối với một người đã tham gia tất cả các cuộc biểu tình trước khi có phong trào “Phụ nữ Cuộc sống Tự do”( phong trào nỗ ra sau cái chết của nữ sinh viên Mahsa Amini, bị cảnh sát bắt vì đeo khăng choàng Hồi Giáo không đúng cách ), ngay lập tức tôi đã hiểu rằng đây là một cuộc cách mạng. Đối với tôi, những gì đang xảy ra ở Iran là sự tiếp nối của phong trào “Phụ nữ Cuộc sống Tự do”. Trên thực tế, tất cả các cuộc biểu tình trong những năm 2009, 2017, 2019 thực sự bổ sung cho nhau. Nhưng trên hết, phong trào “Phụ nữ Cuộc sống Tự do” là một cuộc cách mạng, đặc biệt là vì chính thế hệ Z đã khởi xướng cuộc cách mạng này. Chúng tôi nghĩ rằng không chỉ là do khó khăn kinh tế, mà là do người dân Iran đã quá chán ghét chế độ. Trên xe taxi, trên các phương tiện giao thông công cộng, mọi người đều phàn nàn, mọi người đã bắt đầu lăng mạ giáo chủ Khamenei  Vì vậy, đối với tôi, đó là điều có thể dự đoán được. Tôi không ngạc nhiên, tôi hiểu sự phẫn nộ và tôi chắc chắn sẽ có một cuộc đàn áp đẫm máu, nhưng chưa bao giờ trong đời tôi nghĩ con số người bị giết lại lên đến 50.000. Thật sự là chưa từng có! Họ đã giết quá nhiều người, mỗi người bị giết, cả gia đình đều nổi dậy. Nay mọi người đều hiểu rằng, ở một đất nước không có tự do, không có dân chủ, ngay cả khi nền kinh tế phát triển tốt, đất nước cũng sẽ không thể tiến xa hơn nữa. Nhưng quá nhiều người chết, những người con ưu tú nhất của đất nước chúng tôi đã ra đi vì tự do, và điều đó làm tôi đau lòng.”  Trước mức độ tàn bạo của cuộc đàn áp biểu tình, bà Katayoon Shahabi cho rằng đã đến lúc Pháp nói riêng và châu Âu nói chung phải thật sự có hành động để đứng hẳn về phía người dân Iran: “Tôi nghĩ vấn đề ở châu Âu là có rất nhiều lời nói suông mà không có hành động cụ thể. Đặc biệt là với Pháp, ví dụ lập trường của họ đối với Palestine và Ukraina nhìn chung được coi là những lập trường tốt. Nhưng trên thực tế, hành động của họ không phù hợp với lập trường đó.  Ch

    10 min
  5. FEB 6

    Tiểu thuyết Agatha Christie có thêm sức sống nhờ màn ảnh rộng

    Năm mươi năm sau ngày Agatha Christie qua đời (1890-1976), các tác phẩm của bà vẫn giữ nguyên sức cuốn hút đối với nhiều thế hệ độc giả. Với hơn hai tỷ rưỡi quyển sách bán chạy từ gần một thế kỷ qua, nữ hoàng tiểu thuyết trinh thám Agatha Christie chẳng những là một trong những tác giả được đọc nhiều nhất, mà còn gợi hứng cho các nhà làm phim thực hiện các bản phóng tác điện ảnh cũng như truyền hình. Theo công ty nghiên cứu thị trường GfK, có trụ sở tại Đức, khi qua đời nhà văn người Anh Agatha Christie đã để lại một di sản nghệ thuật đồ sộ với 66 quyển tiểu thuyết, khoảng 150 truyện ngắn, 20 vở kịch và hai cuốn hồi ký. Thế nhưng, có khá nhiều người hâm mộ lần đầu tiên khám phá thế giới của nữ hoàng tiểu thuyết trinh thám không phải là qua văn chương mà chủ yếu là qua phim ảnh. Kể từ đầu những năm 1930, tác phẩm của Agatha Christie đã bắt đầu được chuyển thể lên màn ảnh lớn với nhân vật thám tử tư Hercule Poirot, đó là trường hợp của bộ phim Black Coffee (Cà phê đen 1931) dựa theo vở kịch cùng tên. Từ đó đến nay, đã có khoảng 50 tác phẩm của bà được phóng tác thành phim truyện điện ảnh, trong khi các phiên bản nhiều  tập chiếu trên đài truyền hình được phát đi phát lại, rất nhiều lần.  Chuyên gia Jérémy Picard là tác giả quyển sách « Agatha Christie : Des romans à l'écran » (Agatha Christie : Từ tiểu thuyết đến màn ảnh) do nhà xuất bản Hugo Doc phát hành. Trả lời phỏng vấn RFI Pháp ngữ, anh cho biết có một điều nghịch lý là mặc dù các bộ phim thành công rực rỡ, nhưng sinh thời Agatha Christie lại không thích các phiên bản điện ảnh phóng tác từ các quyển tiểu thuyết của mình. « Theo tôi, bà Agatha Christie không có nhiều thiện cảm với các bản phóng tác điện ảnh vì lý do tuổi tác. Bà thuộc thế hệ lớn lên trước thời đại khai sinh nền điện ảnh. Những bản chuyển thể đầu tiên từ tiểu thuyết thành phim truyện, thực sự đã gây thất vọng : người xem có cảm tưởng phim trinh thám được quay để "kiếm tiền" chứ không hề có tham vọng nghệ thuật nào. Riêng đối với chính tác giả, các bản phóng tác điện ảnh đầu tiên ít khi nào trung thành với tác phẩm gốc : cốt truyện, nhân vật và thậm chí kết cục bị thay đổi đáng kể, theo ý muốn của nhà sản xuất. Vào năm 1933, bộ phim Pháp "Chiếc hộp sơn mài" (Le coffret de laque) với nữ diễn viên Danielle Darrieux trong vai chính đã được cho ra mắt khán giả mà không hề ghi rằng phim này dựa trên tác phẩm (Cà phê đen/Black Cofee) của nhà văn Agatha Christie. Điều đó khiến bà ghét những người chuyên cắt xén, sửa đổi hay viết lại kịch bản. » Nếu không có nhiều cảm tình với các nhà sản xuất phim ảnh, vậy thì tại sao sinh thời, nữ hoàng tiểu thuyết trinh thám Agatha Christie thường hay bán lại quyền khai thác các quyển sách ăn khách của mình. Tác giả Jérémy Picard giải thích tiếp : « Sinh thời, bà Agatha Christie có đầu óc thực dụng của một nhà kinh doanh. Mặc dù không mặn mà gì với ngành công nghiệp điện ảnh, nhưng bà vẫn tiếp tục nhượng lại bản quyền vì lý do tài chính. Phim dựa theo tiểu thuyết của bà thường có nguồn kinh phí cao, trong trường hợp bộ phim thu hút được nhiều khán giả, bà lại càng dễ mặc cả bản quyền của mình khi có dự án làm phim mới. Xa hơn nữa, thành công của bộ phim phóng tác cũng có lợi cho tác phẩm gốc. Thành công của các phiên bản điện ảnh giúp cho các nhân vật trở nên gần gũi hơn với những khán giả không đọc sách và từ đó họ có thể tìm đọc các quyển tiểu thuyết của nhà văn người Anh. Vào những năm 1960, khi lần đầu tiên bộ tiểu thuyết với nhân vật Miss Marple được chuyển thể thành phim truyền hình nhiều tập, với nữ diễn viên Margaret Rutherford trong vai chính, bà Agatha Christie đã không ngại lên tiếng chê bai, từ khâu soạn kịch bản cho đến thành phần diễn viên mà bà cho là quá tệ. Tuy nhiên, sau một thời gian, khi Miss Marple thành công trên màn ảnh nhỏ, chinh phục được nhiều khán giả truyền hình, thì lúc ấy nhà văn người Anh mới đổi ý. Điều đó cho thấy quan hệ hơi mâu thuẫn giữa Agatha Christie với ngành sản xuất phim ảnh, cho dù không thích nhau nhưng buộc phải "sống chung". » Từ cuối những năm 1950 trở đi, các bản phóng tác điện ảnh (nhất là « Witness for the Prosecution » vào năm 1958) trở thành những bộ phim ăn khách thu hút được nhiều khán giả nhờ dàn ngôi sao màn bạc hàng đầu. Cách tuyển chọn nhiều ngôi sao hạng A vào các vai diễn, chính cũng như phụ, thực sự trở thành một hệ thống từ năm 1974 trở đi. Tác giả Jérémy Picard cho biết vì sao có nhiều diễn viên danh tiếng nhận lời đóng phim phóng tác từ truyện Agatha Christie : « Bởi vì đó là dấu ấn tạo ra nét độc đáo của các bộ phim dựa theo tiểu thuyết của Agatha Christie. Hệ thống tuyển lựa « dàn sao » nổi tiếng bắt đầu với bộ phim « Án mạng trên chuyến tàu tốc hành phương Đông » (Murder on the Orient Express) của Sidney Lumet. Vào thời bấy giờ đạo diễn Mỹ nhận lời quay phim với điều kiện mỗi nhân vật (dù là chính hay phụ) phải do một ngôi sao thủ vai. Trước hết, một dàn diễn viên càng hùng hậu càng dễ lôi kéo khán giả vào rạp. Thứ hai, theo quan niệm của nhà đạo diễn Sidney Lumet, do trong cuộc điều tra vụ án, bất cứ ai cũng có thể bị tình nghi, cho nên việc nhiều ngôi sao xuất hiện cùng lúc giúp duy trì nét bí ẩn, khiến cho khán giả càng không dễ đoán ra ai thực sự là thủ phạm. Chiến lược của Sidney Lumet đã nhắm trúng mục tiêu, vì ngôi sao Ingrid Bergman đã đoạt giải Oscar diễn xuất nhờ bộ phim này dù cô xuất hiện trên màn ảnh lớn chỉ trong vòng 8 phút. Thành công này thuyết phục nhiều diễn viên sau đó tham gia các dự án làm phim khác. Hệ thống dàn sao được lặp lại vào năm 1978 với bộ phim "Án mạng trên sông Nile" (Death on the Nile) và gần đây hơn nữa là ba tập phim Agatha Christie do đạo diễn người Anh Kenneth Branagh thực hiện. Một giai thoại thú vị là nam diễn viên Johnny Depp được trả 10 triệu đô la để đóng vai nạn nhân bị sát hại trong bộ phim "Murder on the Orient Express" (Án mạng trên chuyến tàu tốc hành phương Đông) vào năm 2017. Johnny Depp chỉ xuất hiện trên màn ảnh trong 20 phút. Hãy thử tính xem : nam diễn viên người Mỹ nhận được khoảng nửa triệu đô la cho mỗi phút đóng phim !!! » Trong lãnh vực truyền hình, tiểu thuyết Agatha Christie ăn khách trở lại, khi các nhân vật trong truyện được đưa lên màn ảnh nhỏ. Đầu tiên hết là nhân vật Miss Marple, có đến ba nữ diễn viên khác nhau qua nhiều thời kỳ, đã đóng vai bà cụ thích ngồi đan áo, nhưng nhờ óc quan sát tinh tế, mà tháo gỡ được nhiều nút thắt bí ẩn, để rồi phá án một cách ly kỳ. Đổi lại, theo Jérémy Picard, trong vai thám tử người Bỉ Hercule Poirot, hầu như mọi người đều đồng ý rằng không ai đóng vai này, hay bằng nam diễn viên David Suchet.  « Phải công nhận rằng trong hơn 20 năm, David Suchet đã có một lối diễn đạt xuất sắc tài tình, khi ông hóa thân thành thám tử Hercule Poirot. Điều thú vị là khi được mời đóng vai này, ông hơi đắn đo do dự vì lúc ấy ông không biết gì nhiều về thế giới của Agatha Christie. Để chuẩn bị vai này, David Suchet đã đọc toàn bộ tác phẩm, ghi chú từng chi tiết nhỏ nhặt nhất, dùng để mô tả nhân vật trong truyện : từ thói quen, dáng đi, cách ăn nói để có thể tạo ra một nhân vật gần giống nhân vật tiểu thuyết, một người có kiến thức uyên bác, có óc quan sát bén nhạy nhưng đồng thời cũng lắm tật. Bên cạnh đó, thành công của loạt phim truyền hình này phần lớn cũng là vì kịch bản phóng tác trung thành với bản gốc của tiểu thuyết. » Nửa thế kỷ sau ngày tác giả qua đời, sức cuốn hút của Agatha Christie một lần nữa bùng phát trở lại với sự xuất hiện trên mạng Netflix của một bản chuyển thể mới với tựa đề « The Seven Dials » (Kỳ án bảy mặt đồng hồ). Phim này dài ba tập và hứa hẹn nhiều tình tiết gay cấn ly kỳ xung quanh cái chết của nhiều thanh niên có liên quan đến một hội kín bí ẩn. Sự kiện có thêm một tác phẩm ít nổi tiếng (so với Hercule Poirot và Miss Marple) được dựn

    9 min
  6. JAN 23

    Hoa hồng Centifolia : Mỏ vàng của các nhà chế biến nước hoa Pháp

    Nhắc đến nước hoa cao cấp, người Pháp thường nghĩ đến ngay thành phố Grasse, chiếc nôi của ngành trồng nhiều loại hoa thơm để làm hương liệu, trong đó có hoa hồng, hoa huệ hay hoa lài… Trong những năm gần đây, các nhà trồng hoa đã mở thêm nhiều nông trại ở miền nam nước Pháp để giảm lệ thuộc vào nhập khẩu, trong bối cảnh giá hương liệu trên thị trường quốc tế ngày càng gia tăng. Từ nhiều thế hệ qua, hoa hồng luôn là loài hoa yêu thích của người tiêu dùng ở Pháp. Hàng năm, có hơn 22 triệu bó hoa hồng được bán tại Pháp, cao hơn nhiều so với hoa lan, tulip hay hoa huệ. Thế nhưng, hơn ba phần tư số hoa hồng được bán ở Pháp, chủ yếu được nhập khẩu từ châu Phi, Đông Âu hoặc Nam Mỹ. Để tồn tại trên thị trường, ngành sản xuất hoa hồng của Pháp tập trung vào phân khúc cao cấp, sản xuất các loài hoa có nụ to đắt tiền hơn hoặc trồng các giống hồng xưa (rose ancienne) để làm hương liệu. Đó là trường hợp của gia đình Meilland ở vùng Provence, chuyên lai ghép để tạo ra nhiều giống hoa hồng nổi tiếng khác lạ, độc đáo. Từ nhiều thế hệ qua, gia đình Meilland đã 5 lần đoạt giải Hoa hồng đẹp nhất thế giới nhân các kỳ thi quốc tế từ năm 1976 đến năm 2021. Anh Mathias Meilland là người thừa kế của một dòng họ chuyên trồng hoa hồng kể từ năm 1850. Để lai ghép hai giống khác nhau nhằm tạo ra một kiểu hoa thứ ba, gia đình này chuyên dùng cách thụ phấn bằng tay. Phương cách thủ công khá tỉ mỉ này giúp cho nhà trồng hoa sau nhiều lần làm thử, tuyển lựa được thêm những giống mới. Trả lời phỏng vấn kênh truyền hình France 24, anh Mathias Meilland cho biết công ty gia đình anh dành hơn một triệu euro mỗi năm cho khâu nghiên cứu và phát triển các giống hoa mới : Mathias Meilland : Quá trình tuyển chọn của chúng tôi rất nghiêm ngặt. Ưu điểm đầu tiên vẫn là màu sắc. Chúng tôi phải thử nghiệm rất nhiều lần, mới tìm thấy được màu sắc mong muốn. Sở thích về màu sắc thường không giống nhau, điều này còn tùy theo vùng miền. Khi mua hoa hồng, người tiêu dùng ở Bắc Mỹ thích màu đỏ rực rỡ tươi thắm, trong khi người Pháp lại nghiêng về màu đỏ sẩm. Kích thước của nụ hoa cũng quan trọng không kém : nụ hoa càng lớn và có nhiều lớp, càng có chất lượng cao. Loại hoa đắt tiền không phải là hoa hồng cánh dày mà thường là hoa đầy đặn với nhiều cánh xếp chồng lên nhau. Ưu điểm cuối cùng là hương thơm, nếu hoa hồng hội tụ cả ba yếu tố màu sắc, kích thước và hương thơm, thì chẳng còn gì lý tưởng hơn, người trồng hoa lại càng dễ kinh doanh sản phẩm của mình, sau quá trình tuyển chọn giống mới. Trong số các loại hoa hồng có rất nhiều hương thơm thường được sử dụng trong ngành mỹ phẩm, loài hồng Centifolia được xem như là « mỏ vàng » của các nhà chế biến nước hoa. Tại thành phố Grasse, chiếc nôi của ngành sản xuất nước hoa, ngành trồng hoa đã tăng diện tích đất canh tác xung quanh ngôi làng Pegomas. Hai địa danh này chỉ nằm cách nhau khoảng 10 cây số. Centifolia, dịch sát nghĩa là hoa hồng trăm cánh, do mỗi nụ hoa có rất nhiều cánh xếp chồng lên nhau. Loài này do thường nở rộ vào giữa mùa xuân cho nên còn được gọi là « hoa hồng tháng Năm ». Được sử dụng trong nhiều hiệu nước hoa nổi tiếng như Lancôme, Chanel hay Dior, hoa hồng Centifolia là một hương liệu lâu đời, có từ thế kỷ XIX. Ưu điểm của Centifolia vẫn là nụ hoa thường to dày, có nhiều lớp cánh thật mỏng, ẩn chứa nhiều hương thơm tinh tế và đa dạng : môt nụ hoa bao gồm cùng lúc nhiều nốt hương thơm ngát như trái cây, ngọt ngào mùi mật ong. Để tránh làm dập nát những nhánh hoa, hoa hồng Centifolia thường được hái bằng tay, rồi được đặt trên các tấm lưới xếp chồng, nhưng không đè lên nhau. Từ khâu hái hoa, cho vào bao, rồi vận chuyển đến nhà máy chiết xuất hương liệu, tất cả được thực hiện chỉ trong vài giờ để bảo đảm nồng độ hương thơm. Trong khâu chiết xuất, các nhà chế biến dùng cách tinh lọc để đạt được mùi hương, càng tinh túy chừng nào càng tốt chừng nấy. Trả lời phỏng vấn kênh truyền hình France 24, ông François Demachy, người từng chế tạo nhiều mùi nước hoa cho hãng Dior, xem hoa hồng centifolia là một trong những thành phần quan trọng hàng đầu : François Demachy : Tôi thường so sánh hương hoa centifolia với "viên gạch của người thợ nề", vì đó là nền tảng xây dựng giúp các nhà chế biến sáng tạo ra nhiều loại nước hoa mới. Hoa hồng Centifolia có hơn 450 phân tử hương thơm, được xem như là loài hoa có hương thơm tinh tế nhất trong các giống hoa hồng. Loại hồng Centifolia trở nên phổ biến vì chẳng những là thành phần cơ bản đầu tiên, mà còn dễ kết hợp với nhiều mùi hương khác như hoa lài, hoắc hương, gỗ trầm hoặc vani, để tạo ta các kiểu nước hoa phức hợp với nhiều nốt hương ngắn dài khác nhau. Để thực hiện điều này, các nhà chế biến nước hoa thường sử dụng tinh dầu nguyên chất, một loại chất thơm đặc quánh thu được sau một thời gian dài chưng cất. Ông Steve Pellegrin, giám đốc điều hành xưởng chiết xuất tinh dầu Robertet cho biết : Steve Pellegrin : Để có được một lọ chai tinh dầu khoảng 10ml, chúng tôi phải dùng hơn 10 kí lô hoa hồng Centifolia. Cánh hoa được ngâm với dung môi và sau đó đem chưng cất trong 24 giờ để thu được một "tinh dầu nguyên chất". Về hình dáng, loại tinh dầu này giống như một loại sáp mật ong, đậm đặc thơm ngát. Tinh chất này sau đó được trộn với nước cồn, tinh lọc nhiều lần để tạo thành một chất lỏng trong suốt, gọi là « absolu » dễ hòa quyện, khuấy tan hơn là chất sáp. Tại thành phố Grasse hầu hết các hiệu mỹ phẩm lớn như L'Oréal, Dior, Chanel và gần đây hơn nữa là Louis Vuitton đều lập chi nhánh hợp tác với các nhà trồng hoa địa phương để bảo đảm nguồn cung ứng hương liệu đắt tiền. Hầu hết các nông trại xung quanh thành phố Grasse hay ở miền Provence, đều có trồng hoa hồng Centifolia, hoa lài, huệ tây hay diên vĩ, chủ yếu là để bán cho các hãng nước hoa cao cấp của Pháp. Hiệu Lancôme từng mua lại vào năm 2020 một khu vườn rộng 7 hécta chỉ để trồng hoa hồng Centifolia, dùng để chế biến 14 loại nước hoa với phiên bản giới hạn, được bán với giá hơn 350 euro một chai. Điều này cũng dễ hiểu vì nhà chế biến cần đến 800 kí lô hoa hồng Centifolia để sản xuất một kílô tinh dầu nguyên chất. Đằng sau những bức tường đá vôi của các khu vườn trồng hoa tại Grasse, ẩn hiện những vườn hồng thuộc vào hàng "đắt" nhất thế giới. Hầu hết những tên tuổi lớn nhất trong ngành mỹ phẩm Pháp nếu muốn bảo đảm thương hiệu Made in France, khó thể nào dùng hoa hồng nhập từ Bulgary hay Kenya, cho nên tất cả đều tranh giành các giống hồng Centifolia trồng tại Grasse hay tại vùng Provence. Được phổ biến trong dòng nước hoa cao cấp, hương liệu Centifolia ngày càng đắt tiền, nguồn cung lại có nguy cơ bị khan hiếm.

    9 min
  7. JAN 9

    Cơn sốt tiêu dùng khiến bột trà xanh matcha trở nên khan hiếm

    Trong những tuần lễ đầu tháng Giêng, người Pháp thường có truyền thống ăn Bánh Ba Vua « Galette des Rois » nhân mùa lễ Hiển Linh « Épiphanie ». Năm nay, ngoài các hương bánh phổ biến như hạnh nhân, quả táo hay hồ trăn, còn bắt đầu xuất hiện loại bánh galette nhân trà xanh matcha. Thế nhưng, loại bánh này không hề rẻ, gần 60 euro một ổ bánh 8 phần, do trà xanh matcha đang rơi vào tình trạng khan hiếm nguồn cung. Matcha là loại bột trà xanh được làm bằng lá trà non (tencha) phơi khô, loại bỏ phần cuống và gân lá, rồi dùng cối đá để nghiền nhuyễn, xay mịn. Nổi tiếng là rất tốt cho sức khỏe, bột trà xanh matcha đã nhanh chóng trở thành biểu tượng của lối sống lành mạnh, được sử dụng rất nhiều trong ngành ẩm thực. Cô Andie Ella là một người gây ảnh hưởng ở Pháp với hơn nửa triệu người đăng ký theo dõi tài khoản trên mạng xã hội. Trên kênh truyền hình France 24, cô cho biết cơn sốt trà matcha không phải là điều mới mẻ, nhưng các trào lưu trong giới tiêu dùng đã tăng nhanh gấp bội, nhờ tốc độ lan truyền của các mạng xã hội : « Theo tôi, matcha trở nên thịnh hành phổ biến chủ yếu nhờ vào các mạng xã hội. Đầu tiên hết, màu sắc của matcha khá bắt mắt nên dễ thu hút giới thích chụp ảnh trên Instagram. Thật vậy, loại bột trà màu xanh nhuyễn mịn này, khi được khuấy đều hay được pha với sữa, tạo ra nhiều thức uống đẹp mắt, chỉ cần nhìn thoáng qua là người ta bỗng dưng thèm ngay, muốn uống thử loại trà này. Bên cạnh đó, Nhật Bản cũng là một điểm đến hấp dẫn trong mắt nhiều khách du lịch quốc tế. Hai hình ảnh bổ sung cho nhau, làm tăng thêm nét quyến rũ của matcha. Cuối cùng, matcha càng trở nên phổ biến vì thức uống truyền thống của Nhật Bản rất hợp với các xu hướng đề cao lối sống lành mạnh hiện thời : ẩm thực giúp nâng cao chất lượng cuộc sống, làm đẹp làn da, gìn giữ sức khỏe. Bột trà xanh của Nhật Bản đáp ứng các tiêu chuẩn này. » Sau vài chuyến đi Nhật Bản, cô Andie Ella đã cho ra mắt thương hiệu « Milia Matcha », sử dụng loại trà xanh Okumidori với nhiều mùi thơm tự nhiên và hầu như không có vị đắng, được sản xuất tại miền nam quần đảo Nhật Bản. Bột trà xanh matcha giờ đây được khai thác dưới nhiều hình thức : ngoài các thức uống pha sữa (matcha latte) hay trân châu (bubble tea) còn có nhiều món tráng miệng như mochi, bánh flan, kem trà xanh...  Giờ đây lại có thêm nhiều loại mỹ phẩm cũng như kem dưỡng da kết hợp với bột trà matcha. Theo nhà sản xuất người Nhật Masahiro Okutomi sống trong một gia đình trồng trà từ 15 đời qua, sự khai thác quá mức này có nguy cơ tạo ra tình trạng khan hiếm, do nguồn cung không đuổi kịp mức cầu. « Với tư cách là một người chế biến matcha, tôi rất vui mừng khi thấy bột trà xanh Nhật Bản thu hút được nhiều sự chú ý như vậy. Có thể nói là có rất nhiều người từ khắp nơi trên thế giới, dù không hẹn nhưng đều cùng quan tâm đến matcha của Nhật Bản. Tuy nhiên, mọi chuyện đang trở nên căng thẳng, nhu cầu của người tiêu dùng không ngừng gia tăng, tạo ra nhiều sức ép lên ngành sản xuất matcha : từ các nhà trồng trọt cho đến các gia đình thu hoạch trà xanh để sản xuất bột trà. Trước mắt, chuỗi cung ứng đang bị đe dọa, có nguy cơ bị thiếu hụt sản phẩm. Bản thân tôi cũng đang chịu nhiều áp lực và trong ngắn hạn, tôi cảm thấy dù có cố gắng cách mấy, tôi vẫn không thể đáp ứng nổi nhu cầu ngày càng lớn từ người tiêu dùng. » Theo ông Shigehito Nishikida, nhà quản lý tiệm trà Jugetsudo nằm tại khu phố trung tâm Tsukiji ở Tokyo, cửa hàng này đang tìm cách hạn chế lượng trà trong mỗi lần mua bán. Trong vài năm qua, cơn sốt ghiền matcha ngày càng tăng mạnh, do nhiều khách hàng muốn mua thêm matcha để tự pha ở nhà, sau khi xem các đoạn video trên TikTok. Theo kênh truyền hình France 24, thị trường toàn cầu đang bị ảnh hưởng vì người tiêu dùng đang thay đổi thói quen dùng trà matcha. Chỉ trong năm qua, mức sản xuất đã không theo kịp đà tăng của mức cầu, khiến giá matcha đã tăng hơn 170% tại Nhật Bản.  Nhật Bản : matcha chủ yếu được dành cho xuất khẩu Ông Zach Mangan, nhà sáng lập chuỗi quán trà « Kettl » ở Los Angeles và New York, giải thích trong số 25 loại matcha được bán ngoài tiệm, có đến khoảng 20 loại nay đã hết hàng. Bột trà xanh matcha thường được bán trong các gói 20 gram, giá cả tùy thuộc vào từng loại, từ 25 đến 140 euro, tức từ 1.250 đến 7.000 euro một kí lô. Vào đầu năm 2026, công ty Gozen Ui của Nhật Bản lập kỷ lục mới khi bán một túi trà 20 gram với giá 340 euro, tức gần 17.000 euro một kí matcha. Theo Bộ Nông nghiệp Nhật Bản, trong năm qua, hơn một nửa sản lượng trà matcha (gần 9.000 tấn) được dành cho xuất khẩu. Cho dù các hộ trồng trọt ở Nhật đã mở rộng thêm đất canh tác, nhưng quá trình sản xuất với nhiều khâu thủ công đòi hỏi khá nhiều thời gian, cho nên nguồn cung vẫn còn chậm so với mức cầu. Nhà sản xuất Masahiro Okutomi, điều hành nông trại ở Sayama, cho biết :  « Các nhà sản xuất trà ở Nhật Bản đang gặp nhiều khó khăn, công việc của họ bị quá tải khi nhu cầu tăng nhanh. Gia đình tôi vẫn nhận được nhiều tin nhắn mỗi ngày, cho dù trên trang web của công ty, chúng tôi đã thông báo với khách hàng rằng công ty không còn nhận thêm bất kỳ đơn đặt hàng matcha nào nữa. » Việc sản xuất bột trà xanh là một quá trình công phu và tỉ mỉ : lá trà non « tencha » được trồng trong bóng râm trong bốn tuần trước khi thu hoạch, sau đó được hái bằng tay, loại bỏ cuống trà và gân lá trước khi được cho vào cối đá xay mịn. Theo nhà sản xuất Masahiro Okutomi, quá trình thủ công này đòi hỏi thời gian và sự chịu khó, chưa kể đầu tư vào các loại máy móc dùng để sấy khô lá trà. Câu hỏi đặt ra là liệu các nhà chế biến có thể sản xuất trên quy mô lớn mà không làm giảm chất lượng của matcha hay không ? Dù muốn hay không, cơn sốt trên toàn thế giới khiến giá trà xanh matcha tăng nhanh trong một thời gian ngắn. Ông Fumi Ueki, nhà điều hành Leaf Brand Group, thuộc tập đoàn Ito En, công ty phân phối lá trà hàng đầu ở Nhật Bản cho biết, hiện giờ người Nhật nói chung không uống nhiều matcha, trong khi thế giới lại « nghiện » loại trà xanh này hơn bao giờ hết. Đôi khi người tiêu dùng muốn thưởng thức matcha mà lại quên xem xuất xứ rõ ràng của sản phẩm. Trên thị trường quốc tế, bắt đầu xuất hiện nhiều gói trà bán lẻ, trong đó người bán có thể độn thêm những loại bột trà khác kém chất lượng, trộn với nhiều chất tạo mùi, tạo màu sao cho gần giống với các loại matcha thượng hạng, được bán với giá cao hơn !

    9 min
  8. JAN 7

    Nhìn lại 60 năm đường hầm Mont-Blanc: Xuyên núi, bắc cầu tình hữu nghị Pháp - Ý

    Cách nay 60 năm, ngày 16/07/1965, tổng thống Pháp Charles de Gaulle và lãnh đạo Ý Giuseppe Saragat đã khánh thành tuyến đường hầm xuyên núi, dài 11,4km, bên dưới đỉnh Aiguille du Midi, trong dãy núi Mont Blanc. Giấc mơ xuyên núi kéo dài hai thế kỷ, không chỉ thể hiện những tiến bộ về kỹ thuật trong nửa đầu thế kỷ 19, mà còn phản ánh quan hệ Pháp – Ý trong chiều dài lịch sử đầy biến động. Vào năm 1787, nhà tự nhiên học người Thụy Sĩ Horace-Bénédict de Saussure từng tiên đoán: “Sẽ đến ngày người ta khoan một con đường dưới chân Mont-Blanc”, theo trích dẫn trong bài luận án của tiến sĩ lịch sử Stéphane Mourlane, trường đại học Nice Sophia - Antipolis. Lúc đó, vấn đề kỹ thuật là một thách thức lớn và giấc mơ này khó khả thi. Đến giai đoạn những năm 1840-1850, ý tưởng nối Chamonix và Courmayeur đã được nêu lại nhằm xóa bỏ sự cô lập của các thị trấn ven núi biên giới giữa hai nước. Năm 1844, luật sư Laurent Martinet đã mô tả một đường hầm dài 12 km, giữa Boissons (Pháp) và Entreves (Ý). Ý tưởng này đã được cụ thể hóa bởi kỹ sư Joseph Alby, thuộc trường Ecole Centrale de Paris, bảo đảm có thể thực hiện được, với các thiết bị khoan hiện đại hơn. Hai thế kỷ đầy khúc mắc chính trị Thế nhưng, phải mất gần hai thế kỷ sau đó, giấc mơ đó mới thành hiện thực bởi những rối ren chính trị. Vào tháng 07/1965, đường hầm xuyên dãy núi Alps dưới đỉnh Mont-Blanc, ngọn núi cao nhất châu Âu, mới chính thức được khánh thành, khép lại một trang sử đầy trắc trở trong lịch sử giữa Pháp và Ý. Cụ thể, dãy Mont-Blanc trở thành biên giới tự nhiên giữa Pháp và Ý ngay sau khi nước Ý thống nhất và vùng Savoie được sáp nhập vào Pháp vào năm 1860. Tuy nhiên, lúc đó, ý tưởng về việc khoan một đường hầm xuyên núi bị phe bảo thủ coi là một hành động « mở cửa biên giới », khó được chấp nhận. Trong khi đó, Ý lại tập trung vào dự án hầm Gothard để kết nối với Đức, thay vì hợp tác với Pháp. Vào năm 1882, khi Ý chính thức gia nhập liên minh quân sự với Đức và Áo-Hung, quan hệ Pháp - Ý bước vào giai đoạn căng thẳng, khiến mọi kế hoạch hợp tác đều bị đình trệ. Phải đến cuối thế kỷ 19, quan hệ hai nước được cải thiện mới tạo điều kiện để tái khởi động ý tưởng xây hầm. Các cuộc gặp ngoại giao cấp cao và đề xuất kỹ thuật khả thi từ kỹ sư Monod đã mở ra hy vọng. Tuy nhiên, mâu thuẫn ngân sách, tranh chấp thương mại và chiến dịch quân sự của Ý tại Libya lại khiến dự án rơi vào bế tắc. Chiến tranh thế giới lần thứ nhất tiếp tục làm đình hoãn mọi tiến trình. Giai đoạn giữa hai cuộc đại chiến thế giới, ý tưởng về đường hầm Mont-Blanc gần như bị lãng quên bởi sự trỗi dậy của chủ nghĩa phát xít và căng thẳng Pháp - Ý dưới thời Mussolini. Khi Ý tuyên chiến với Pháp năm 1940, hy vọng về một dự án chung hoàn toàn tan vỡ. Chỉ sau Đệ Nhị Thế Chiến, trong bối cảnh châu Âu tái thiết, dự án này dần trở lên khả thi hơn. Từ năm 1946, doanh nhân Ý Dino Lora Totino cùng các đội ngũ chuyên môn về kỹ thuật của hai nước khởi động lại nghiên cứu dự án hầm xuyên núi. Dù vẫn gặp trở ngại tài chính, một hội nghị liên chính phủ năm 1949 đã thống nhất chọn Mont-Blanc làm vị trí khoan hầm. Trả lời trang RCF, nhà sử học Stéphane Mourlan nhấn mạnh rằng “đòn bẩy thực sự để thực sự để triển khai dự án là việc Hiệp ước Roma được ký vào ngày 25/03/1957, thiết lập thị trường chung châu Âu, tạo điều kiện thúc đẩy trao đổi thương mại Pháp Ý.” Trong bối cảnh châu Âu thúc đẩy xây dựng một khối thống nhất, công trình đã được khởi công vào ngày 08/01/1959. Tổng thống Pháp lúc đó, Charles de Gaulle, coi dự án Mont-Blanc là biểu tượng của “tình hữu nghị đặc biệt” giữa hai dân tộc và là điểm tựa để đẩy mạnh liên kết chính trị châu Âu. Trong buổi lễ khánh thành, tổng thống Ý Giuseppe Saragat khẳng định : Đường hầm này thống nhất hai dân tộc chúng ta và quan trọng hơn là hiệp ước hữu nghị, liên minh hoặc cam kết về một cộng đồng chung vận mệnh”. Tướng De Gaule thì nhấn mạnh đến một “bữa tiệc chính trị”, đã làm trì hoãn công trình mang tính lịch sử này trong nhiều năm, theo trích dẫn từ Viện nghe nhìn quốc gia Pháp (INA). Nhà sử học Stéphane Mourlane cho rằng “đây là thời khắc lịch sử, bởi vì khi xét đến quan hệ Pháp - Ý, Tướng De Gaulle vẫn luôn bị nghi là có ý định sáp nhập vùng Val d’Aouste của Ý”. Trước khi đường hầm được hoàn thành vào năm 1965, việc đi lại, vượt dãy núi Alpes là một thách thức lớn, thậm chí là nguy hiểm, do thời tiết thất thường và đường núi hiểm trở, đôi khi phải mất hàng tuần để vượt qua tuyến đường quan trọng này giữa Pháp và Ý. Việc xây dựng đường hầm dài 11,6 km đã tạo nên một cuộc cách mạng trong giao thông vận tải, rút ngắn đáng kể thời gian di chuyển và thúc đẩy kinh tế khu vực. Thách thức về khoa học kỹ thuật Để hoàn thành công trình được cho là một kỳ tích. Đường hầm được xây dựng trong vòng 6 năm. Mỗi ngày, các công nhân đào xuyên đá, với tốc độ 7 đến 8 mét từ cả hai đầu núi Alpes, Ý và Pháp. Các cỗ máy đào khoan đá khổng lồ được đặt tên là Jumbo. Hơn 700 tấn thuốc nổ đã được sử dụng. Theo tư liệu của Viện nghe nhìn quốc gia Pháp (INA), 15 máy khoan đào 120 hoặc 150 lỗ rộng khoảng 4 mét, sau đó lấp đầy bằng 500 kg thuốc nổ. Tổng cộng, 1 triệu mét khối đá đã được đưa ra để xây dựng đường hầm. Nhà sử học Stéphane Mourlane cho biết công việc này vào lúc đó không dễ dàng. Bụi được sản sinh trong quá trình đục và khoan, đá thường xuyên rơi xuống, đặc biệt là ở phía Ý. Tại Mont-Blanc, có nhiều loại đá phong hoá, với độ cứng và tính thấm nước khác nhau, do đó không thể ứng dụng một phương pháp cố định, mà phải thay đổi liên tục cách khoan tùy theo từng lớp đá. Đường hầm dài 11,6 km, khiến áp lực đá (lithostatique) gia tăng theo độ sâu, cần hệ thống chống đỡ vách chịu lực lớn như bệ kim loại, tấm bê tông, theo trang construmat.ch. Thêm vào đó, nước ngầm, hơn 10 triệu m³, phải được bơm và xử lý trong suốt quá trình đào. Khí độc như méthane cũng là thách thức lớn trong quá trình xây dựng, đòi hỏi hệ thống thông khí và giám sát liên tục môi trường không khí tại công trường. Theo INA, trong suốt 44 tháng xây dựng, 21 công nhân đã thiệt mạng: 14 người Ý và 7 người Pháp. Khi hai đội cuối cùng gặp nhau vào ngày 14 tháng 8 năm 1962, sau một vụ nổ cuối cùng, đường hầm đã hoàn thành. Với chiều dài 11,6 km, đây là hầm đường bộ dài nhất thế giới vào thời điểm đó. Năm 1965, Charles de Gaulle và tổng thống Ý đã khánh thành đường hầm với sự chào đón nồng nhiệt, sáu năm sau khi bắt đầu xây dựng. Những ngày sau đó, nhiều người đã lái xe đã đổ xô đến, tò mò và háo hức đi qua đường hầm dài này. Trong tư liệu của INA, một lái xe người Ý thốt lên : “Đây là một thành tựu tuyệt vời”. Một người phụ nữ thì hết lời khen ngợi chiều dài của đường hầm và các trang thiết bị, như hệ thống đèn cảnh báo, và tốc độ.  Lúc đó, đường hầm Mont-Blanc được coi là một trong số các trục giao thông chính tại châu Âu. Vào năm 1966, một năm sau khi đường hầm đi vào hoạt động hoàn toàn, 600 000 xe đã đi qua tuyến đường này. Vào năm 2024, con số này lên đến 1,4 triệu lượt qua lại, dù đường hầm đã đóng cửa một thời gian để tu bổ. Cột mốc về tiêu chuẩn an toàn xây đường hầm Tuy nhiên, hình ảnh về đường hầm “lịch sử” đã bị hoen ố bởi vụ hoả hoạn năm 1999, khiến 39 người bỏ mạng. Theo điều tra, hệ thống thông gió trong đường hầm không đủ để thoát khói và khí độc, thiếu lối thoát hiểm và đội ngũ cứu hộ ít ỏi, không được đào tạo bài bản. Đường hầm phải đóng cửa để tu bổ trong 3 năm và thực hiện một số chỉnh sửa. Ví dụ như xây các hốc tường cách nhau 100 mét, một trạm cứu hộ được bố trí ở giữa hầm. Các lối thoát hiểm được kết nối với một hành lang sơ tán. Vụ tai nạn được cho là một bước ngoặt khiến châu Â

    9 min

About

Sinh hoạt văn hóa, nghệ thuật, đặc biệt là tại Pháp và Việt Nam

More From RFI Tiếng Việt

You Might Also Like