Tạp chí văn hóa

Sinh hoạt văn hóa, nghệ thuật, đặc biệt là tại Pháp và Việt Nam

  1. 2d ago

    Ca nhạc sĩ Bob Dylan : Tình yêu và nước Pháp

    Nếu có một nhịp cầu giữa huyền thoại Bob Dylan với quê hương của Victor Hugo chắc chắn cây cầu đó phải là nhạc sĩ người Pháp Hugues Aufray. Văn chương, thi ca, điện ảnh, phong cách của người dân Pháp đều có sức thu hút rất lớn và Bob Dylan còn bị tiếng hát của tác giả Tous les garcons et les filles làm mê hoặc. Đầu thập niên 1960 tình cờ trên đường phố New York, chính xác hơn là tại khu Greenwich Village, Aufray đã trông thấy một nhạc sĩ gầy gò với cây đàn ghi ta, trong một quán bar. Hàng thập niên sau danh ca người Pháp này kể lại : « Người ta thường nói tiếng sét ái tình mà quên mất rằng trong tình bạn cũng có thể những cú sét đó. Chỉ lướt qua nhau tôi đã trông thấy một nghệ sĩ tài hoa. Lần đầu hội ngộ tôi ngỡ đã gặp được thi sĩ Rimbaud ». Ngôn ngữ của văn thơ và sự đồng điệu Điều kỳ diệu là Dylan và Aufrey đã vượt lên được những rào cản về ngôn ngữ, họ « kể chuyện cho nhau nghe » bởi có lẽ cả hai cùng nói chuyện với nhau bằng ngôn ngữ của thơ, của nhạc và của tâm hồn … Aufray một nhà soạn nhạc, được biết đến nhiều với những ca khúc như Santiano và Céline. Ông cũng là người sau này đã dịch sang ngôn ngữ của Molière biết bao tác phẩm của Bob Dylan … Hugues từ hơn 6 thập niên qua luôn là nhịp cầu đưa những ca khúc của danh ca người Mỹ này đến với công chúng Pháp qua phần trình bảy của rất nhiều thế hệ ca sĩ Pháp như Francis Cabrel, Johhny Hallyday … hay Alain Bashung Vào năm 1961, Robert Zimmerman chân ướt chân ráo đến New York lập nghiệp, trước khi tìm được cho mình một nghệ danh ưng ý. Khi biết người bạn mới quen từ Kinh Đô Ánh Sáng đổ bộ lên đất tự do Hoa Kỳ, Zimmerman như thể « buồn ngủ mà gặp chiếu manh », vồ vập hỏi thăm về những Apolinaire, Mallarmé…, về Nhà Thờ Đức Bà Paris. Anh muốn tận tai nghe một người Pháp nói về Les Misérables của Victor Hugo … Trước khi trở thành huyền thoại Bob Dylan, Zimmerman đã lấy nguồn cảm hứng từ những áng thơ của Baudelaire, từ những lý tưởng về một xã hội công bằng và bác ái qua nhân vật Jean Valjean, từ những suy ngẫm về cuộc đời chắt lọc từ tuyển tập thơ Les Contemplations ..  Hugues Aufray là nhạc sĩ Pháp tận mắt trông thấy sự hình thành của huyền thoại Dylan. Những năm đầu, Dylan mỗi lần đến Paris, không một đồng xu dính túi, đều tá túc trong căn hộ của « Hug’ » đường Saint Médard, ở quận 5. Họ thức trắng đêm để nói chuyện văn, thơ...  Năm 1963, nhạc sĩ người Mỹ cùng Hugues Aufray khám phá Paris, lần theo dấu chân của những Rimbaud và Verlaine, để đưa những tên tuổi ấy vào chính những tác phẩm của mình sau này. Ca khúc You’re Gonna Make Me Lonesome When You Go phảng phất câu thơ của Paul Verlaine « Il pleure dans mon cœur comme il pleut sur la ville – Nước mắt trong lòng, như mưa trên phố » và ý tưởng chỉ cần « thiếu vắng một người, cả thế giới trở nên vô nghĩa » từng được Lamartine đưa vào thi ca … Like a Rolling Stone  Đâu chỉ có Bob Dylan ngưỡng mộ văn chương Pháp. Một trong những cây bút nổi tiếng nhất trên văn đàn Pháp, nữ sĩ Marguerite Yourcenar (1903-1987) trong một cuộc trả lời phỏng vấn trên đài truyền hình đã hết lời khen ngợi Bob Dylan. Bà nói « Bob Dylan là đỉnh cao trong thi ca, ý thơ của anh là hơi thở của thời đại. Những lời thơ của anh luôn ẩn chứa những phẩm giá cao quý. Dylan có cách diễn đạt tinh tế và giọng hát thiên thần ». Không chỉ yêu văn chương và thi ca của Pháp, ông còn bị choán ngợp bởi tinh thần dấn thân trước thời đại của các đại văn hào của Pháp từ thế kỷ 17- cho đến tận ngày hôm nay… Tác giả của những The Time They Are A Changin’ hay Like a Rolling Stone còn rất say mê điện ảnh Pháp.  Một trong những bộ phim có giá trị nhất trong mắt ông là Les Enfants du Paradis - Những đứa trẻ trên thiên đường của Marcel Carné. Kịch bản và lời thoại trong bộ phim đen trắng ra mắt công chúng năm 1945 này do nhà thơ Jacques Prévert biên soạn…   Les Enfants du Paradis đã thôi thúc nhạc sĩ Dylan bước vào nghệ thuật thứ Bảy. Ông cùng biên soạn kịch bản và tham gia bộ phim Renaldo và Sarah… mà trong đó, nhân vật ông thủ vai giống Bob Dylan ở ngoài đời như hai giọt nước. Tình yêu một chiều   Văn chương, thi ca, điện ảnh, phong cách của người dân Pháp ...đều có sức thu hút rất lớn đối với nhạc sĩ Bob Dylan. Sự nghiệp của Bob Dylan bắt đầu cất cánh. Những năm 1961-1965 được xem là giai đoạn mà hầu hết mỗi sáng tác của ông đều là « một tượng đài » trong âm nhạc. Bắt đầu nổi tiếng trên thế giới « Bob » vẫn trung thành với nước Pháp và gắn bó với người bạn thuở ban đầu là Aufray…   danh ca người Mỹ này rất thường xuyên sang Pháp. Lúc thì ở Paris, khi thì tìm đến nắng ấm của đảo Corse, liếc mắt đưa tình với những cô gái nhỏ ở thị trấn Saintes Marie de la Mer, vùng Camargue, miền nam nước Pháp… để rồi bị một tiếng hát thôi miên, một đôi gò má cao và gương mặt hơi « xương xẩu » xương xẩu của Françoise Hardy làm mê hoặc. Bob Dylan đã viết hàng chục bức thư tình nhưng chẳng bao giờ dám gửi đến tác giả ca khúc Tous les garçons et les filles …. Mãi đến vòng lưu diễn ở Paris, năm 1966, tại rạp hát Olympia, tình cảm dành cho Françoise Hardy dâng cao như thủy triều … Đêm biểu diễn hôm đó, giữa chừng Bob Dylan thực sự « phát điên ». Anh  đòi phải mời cho bằng được Françoise Hardy đến gặp mình. Gặp được người trong mộng, trong phòng nghỉ, nghệ sĩ người Mỹ này chỉ cầm lấy cây đàn ghi tả và hát cho cô nghe hai ca khúc Juste Like a Woman và I want You … Nhiều năm sau khi tóc đã nhuộn màu  thời gian, Françoise Hardy tâm sự : « Lần đó là cuộc hội ngộ duy nhất ». Bob Dylan « gầy như que củi, xấu xí, tóc tai bù xù, móng tay để dài như phù thủy ... ». Françoise Hardy khi đó không hào hứng với lời tỏ tình của Dylan … Bà thú nhận, từng « ngây thơ đến dại khờ » chẳng hiểu vì sao Bob Dylan lại chọn hai nhạc phẩm nói trên để hát tặng mình. Mãi sau này Françoise Hardy mới hiểu thêm một chút về Bob Dylan : « Thật đau lòng khi anh ấy đề cập đến mối tình nghìn trùng xa cách giữa hai người yêu nhau, không thể ngờ rằng tình yêu có thể nảy sinh từ một bức ảnh, và chỉ một bức ảnh là đủ để anh ấy hiểu thật nhiều về tôi  ».  Mãi sau này Françoise Hardy mới đọc được những bài thơ Bob Dylan đã sáng tác để tặng riêng cho bà.

    10 min
  2. Jul 4

    Nhạc Nhật lời Việt : Mayumi Itsuwa, trời còn mưa mãi

    Trong số các nhạc sĩ nổi tiếng ở Nhật Bản, Mayumi Itsuwa có lẽ là một trong những tác giả được dịch nhiều nhất sang tiếng Việt. Nhắc tới các bản phóng tác với nhiều lời khác nhau, được nhiều thế hệ nghệ sĩ ghi âm lại, phải kể đến hai bản nhạc nổi tiếng nhất là "Người yêu dấu ơi" và "Trời còn mưa mãi". Sinh trưởng tại quận Nakano, Tokyo, Mayumi Itsuwa là một trong những phụ nữ đầu tiên theo đuổi sự nghiệp ca hát nhưng đồng thời muốn trở thành một tác giả thực thụ. Thời còn nhỏ, Mayumi Itsuwa đã có nhiều năng khiếu âm nhạc. Bắt chước thân phụ, Mayumi tự học chơi đàn ghi ta những bản nhạc cô hằng yêu thích. Sau khi tốt nghiệp tú tài, Mayumi bắt đầu đi hát trong các quán cà phê gần nhà, đồng thời sáng tác những bài hát đầu tay. Vào năm 1972, ở tuổi 21, Mayumi ký hợp đồng ghi âm và cho ra mắt album đầu tay mang tựa đề "Shōjo" (Thiếu nữ). Tuy album phòng thu đầu tiên của cô được thực hiện tại Los Angeles, với sự tham gia của nhiều nhạc sĩ nổi tiếng như nhà hoà âm Canada David Campbell và tác giả người Mỹ Carole King, nhưng có lẽ cũng vì trong thời gian khởi nghiệp, cô theo đuổi dòng nhạc folk, lối sáng tác mộc theo phong cách dân ca, cho nên giọng ca này lại ít được công chúng Nhật Bản quan tâm đến. Mayumi trau dồi sáng tác và tự ghi âm các bản nhạc của mình. Mãi đến năm 1980 (8 năm sau khi khởi nghiệp) cô mới lập kỷ lục số bán với album phòng thu thứ 9. Đĩa đơn "Koibito yo" (Người yêu dấu ơi) được xem là giai điệu làm nên tên tuổi của Mayumi, nâng sự nghiệp của tác giả này lên một tầm cao mới. Bài hát đứng đầu bảng xếp hạng thị trường Nhật Bản trong nhiều tuần liên tục và giành được giải nhất của hiệp hội các nhà sáng tác Nhật Bản. Bài hát này cũng đã được nhiều giọng ca huyền thoại xứ Phù Tang như Hibari Misora, Noriko Awaya hay Akira Fuse ghi âm lại trong những năm sau đó, trở thành giai điệu gắn liền với tên tuổi của tác giả Mayumi Itsuwa. Trên album này, còn có một bài hát khác đáng chú ý : nhạc phẩm "Ai no sinkirou" có nghĩa là lâu đài cát, một bài hát ban đầu được viết cho Nana Kinomi vào năm 1980, sau đó được Mayumi thu âm một phiên bản thứ nhì. Bài này từng được đặt lời Việt thành nhạc phẩm "Sa mạc tình yêu". Vào năm 1981, Mayumi vừa tròn 30 tuổi, khẳng định tài nghệ sáng tác của mình với nhạc phẩm "Ribaibaru" (Revival / Hồi sinh) mở đường cho cô chinh phuc các thi trường ngoài Nhật Bản. Nhờ các bản phóng tác, Mayumi thành công tại nhiều nước châu Á, kể cả Đài Loan, Hồng Kông, Singapore, Philippines hay Indonesia. Riêng ở Việt Nam, giới yêu nhạc rất quen thuộc với những giai điệu phóng tác sang lời Việt. "Koibito yo" trở thành "Hận tình trong mưa" theo cách đặt lời của nhạc sĩ Phạm Duy. "Người yêu dấu ơi" theo tác giả Nhật Ngân. Nhạc phẩm "Ribaibaru" theo tác giả Nguyễn Duy là "Tiễn anh trong mưa", còn theo tác giả Nhật Ngân là "Trời còn mưa mãi". Nhiều giai điệu khác của Mayumi cũng được nhiều lần chuyển sang lời Việt : Kokoro no Tomo trở thành "Khi cô đơn em gọi tên anh", Nokoribi là "Tàn tro", Aikagi là "Chìa khóa tình yêu", Dakishimete" là Ngàn năm vẫn đợi.  Nổi tiếng nhờ chất giọng mượt trầm truyền cảm, Mayumi Itsuwa còn được nhiều người yêu mến nhờ biết sáng tác những giai điệu trữ tình, trau chuốt trong sáng. Nhờ những sáng tác mang tính nội tâm, Mayumi Itsuwa trở thành cánh chim đầu đàn cho phong trào tác giả "trẻ" khác với dòng nhạc enka (diễn ca). Trào lưu này bao gồm những ca sĩ kiêm tác giả như Yumi Matsutouya, Miyuki Nakajima hay Mariya Takeuchi vừa có khả năng diễn đạt, vừa có tài sáng tác những ca khúc có chiều sâu trong hai thập niên 1970 và 1980. Mayumi Itsuwa còn thường được mệnh danh là "Carole King của Nhật Bản", chuyện sáng tác những giai điệu sâu lắng nội tâm, phản ánh những trăn trở suy ngẫm, khi trong tim mối tình chỉ còn bao kỷ niệm vương vấn. *** Trong cơn mưa rào xối xả Bước chân qua đường hối hả Kỷ niệm tia chớp đầu hạ In hằn hình bóng ngày qua   Biết bao truyền thuyết quá khứ Cũng chỉ còn trong giai thoại  Dù có bao lần lặp lại  Nhưng hồn quên vội ngày mai   Còn đâu chuyện tình đôi ta  Cháy bùng những chặng đời qua Dưới mưa, trái tim câm nín Mong thành đá lửa hồi sinh

    9 min
  3. Jul 3

    Mì ăn liền Hàn Quốc chinh phục nước Pháp

    Trên các quầy siêu thị tại Pháp chuyên bán mì ăn liền, người tiêu dùng có thể tìm thấy các loại mì gói của Nhật Bản (ramen), Thái Lan (mà-ma), Indonesia (mi goreng) ….. nhưng loại bán chạy nhất trong thời gian gần đây vẫn là mì ăn liền (ramyun) của Hàn Quốc. Trong số các hiệu phổ biến nhất có NongShim, SamYang và gần đây hơn nữa là Choi's Company, do công ty này vừa khánh thành cách đây 6 tháng một nhà máy sản xuất mì gói tại vùng Alsace, miền đông nước Pháp. Sau phim ảnh, âm nhạc hay mỹ phẩm, ẩm thực Hàn Quốc (K-Food) là dấu hiệu gần đây nhất cho thấy làn sóng văn hóa Hàn Quốc (hallyu) đang chinh phục toàn cầu. Riêng tại Pháp, giới trẻ thích ăn loại mì cay hiệu NongShim. Tập đoàn mì gói số một của Hàn Quốc, trụ sở tại Seoul, đã thành công trong việc xuất khẩu ra khắp thế giới hơn 40 hiệu mì ăn liền khác nhau nhờ mô hình sản xuất và chế biến hiệu quả. Tại thủ đô Seoul, có hẳn một cửa hàng tên là Ramyun Library chỉ chuyên bán mì ăn liền. « Thư viện mì gói » này có đến hàng trăm hiệu mì khác nhau, khách tham quan có thể đun nước sôi để dùng thử mì gói ngay tại chỗ và nếu thích có thể mua đem về nhà. Được khai trương vào cuối năm 2023, cửa hàng mì gói này đã thu hút sự tò mò của khá nhiều khách nước ngoài, trong đó có cô Amy, một du khách người Mỹ : Tôi thật thích thú ngạc nhiên vì không ngờ rằng ở đây có nhiều loại mì đến như vậy. Dùng thử mì gói ngay tại Seoul thực sự là một trải nghiệm độc đáo khác thường. Trước đây, tôi đã từng nghe nói tới mì ăn liền qua các chương trình truyền hình hay qua phim ảnh. Trong phim thường có cảnh nhân vật đang ăn mì gói, cho thấy đó là một thói quen trong đời sống thường ngày tại Hàn Quốc. Nhưng vì tôi sinh sống tại một thị trấn nhỏ ở Hoa Kỳ, cho nên tôi không dễ tìm mua mì gói trong siêu thị. Có lẽ cũng vì thế tôi thực sự cảm thấy thích thú khi có cơ hội khám phá tại chỗ những gì mình đã từng xem trên tivi. Để hiểu rõ hơn về sự thành công của mì ăn liền Hàn Quốc trên thị trường quốc tế, ta nên ghé thăm thành phố Gumi, cách thủ đô Seoul khoảng 200 cây số. Mỗi ngày, 6 triệu rưỡi gói mì được sản xuất tại nhà máy NongShim, công ty hàng đầu chuyên về mì ăn liền tại Hàn Quốc. Trên một diện tích rộng 62.000 mét vuông, nhà máy NongShim tuyển dụng 600 nhân viên để giám sát hệ thống sản xuất dây chuyền khổng lồ, trong xưởng máy có đến 95% đã được tự động hóa. Để đẩy mạnh doanh thu trên thị trường quốc tế, hiệu mì gói NongShim tận dụng « Hàn lưu », làn sóng văn hóa từ Hàn Quốc đang chinh phục thế giới. Trả lời phỏng vấn ban Pháp ngữ RFI ông Choi Youngkab, giám đốc tiếp thị của công ty NongShim, giải thích: Chiến lược toàn cầu của Nongshim chủ yếu dựa vào việc cài đặt sản phẩm vào phim ảnh. Lối tiếp cận này giúp thương hiệu trở nên hấp dẫn hơn, nhất là trong mắt những bạn trẻ nào rất yêu thích các sản phẩm văn hóa phổ thông đến từ Hàn Quốc. Trường hợp gần đây nhất là qua bộ phim « Kpop Demon Hunters » (Thợ săn quỷ Kpop), bộ phim này đã đẩy mạnh doanh thu, giúp phổ biến thương hiệu của chúng tôi, vì trong phim các nhân vật chính thường ăn mì hiệu NongShim. Công ty chúng tôi sẽ duy trì chiến lược này và trong tương lai sẽ có những quan hệ hợp tác tương tự qua việc cài đặt sản phẩm quảng cáo vào trong phim ảnh hay video clip ca nhạc. Chiến lược này đang đem lại nhiều thành quả , hơn 40% doanh thu hàng năm của NongShim đến từ thị trường quốc tế. Vì vậy, ban lãnh đạo công ty tin rằng cần phải khai thác nhiều hơn nữa đà thành công của Hàn lưu. Pháp : 150 triệu gói mì được tiêu thụ hàng năm Chỉ cần mở một gói mì khô, đổ gói bột gia vị rồi cho thêm vào nước sôi, vài phút sau là đã có sẵn một tô mì nóng hổi. Công thức vô cùng đơn giản này, không đòi hỏi thời gian chế biến, khiến mì ăn liền trở thành một món ăn không thể thiếu trong ngăn tủ nhà bếp. Riêng tại Pháp, lượng tiêu thụ mì gói đã phát triển nhanh chóng trong thời hậu Covid, nhờ vào chế độ làm việc từ xa. Cô Marianne, một nhân viên văn phòng ở Paris, cho biết : Đối với tôi, không gì đơn giản hơn là ăn mì gói, chỉ cần đổ nước sôi vào là có ngay. Tôi luôn có sẵn các gói mì ăn liền ở trong bếp, chủ yếu dành cho những ngày tôi làm việc ở nhà, chứ không cần vào cơ quan và thường là một hoặc hai ngày trong tuần. Mì ăn liền chẳng những rất rẻ, chưa đầy một euro một gói, nhưng lại còn giúp tôi tiết kiệm thời gian, đỡ phải nấu nướng nhiều ở nhà. Điều tôi thích nhất là các gói gia vị nho nhỏ, để tạo ra các mùi vị khác nhau. Chính các gói gia vị tạo nên sự khác biệt giữa hàng loạt nhãn hiệu được bán trong siêu thị. Mì ăn liền đối với tôi có hương vị khá đậm đà, tôi thích dùng loại mì có độ dai và hơi cay cay, và tôi thấy mì gói dễ ăn và ngon hơn nhiều so với mì luộc spaghetti trộn xốt cà chua theo kiểu Ý. Trên thị trường Pháp, doanh thu thường niên mì ăn liền đạt mức 140 triệu euro, tăng đều đặn 3% mỗi năm tính từ năm 2022. Trong số các công ty Hàn Quốc muốn mở rộng thêm thị trường châu Âu, có tập đoàn thực phẩm SIAS vừa khánh thành hồi đầu năm 2026 một nhà máy sản xuất mì ăn liền đầu tiên tại châu Âu. Với mức đầu tư 28 triệu euro, xưởng sản xuất  này nằm tại Wisches, một thị trấn nhỏ thuộc vùng Alsace, cách thành phố Strasbourg một giờ lái xe. Theo giám đốc điều hành Patrick Hennion, nhà máy hiện tuyển dụng 50 nhân viên và có khả năng sản xuất hơn 100.000 gói mì mỗi ngày tức 200 gói mỗi phút. Tập đoàn SIAS sản xuất mì gói hiệu « Choi's Company » thường được gói trong tô nhựa, mỗi phần có giá 2,50 euro, tức cao hơn những gói mì thông thường, một phần vì mỗi tô mì có khẩu phần lớn hơn. Cách đóng gói cũng như màu sắc logo đặc biệt nhắm vào giới trẻ, vốn có sức ăn mạnh hơn : khi dùng mì gói thông thường, mỗi lần các bạn trẻ thường phải ăn hai gói. Việc khai trương nhà máy sản xuất mì ăn liền đầu tiên tại Pháp cho thấy châu Âu đang trở thành một thị trường quan trọng đối với các tập đoàn Hàn Quốc. Hiệu Choi's Company đã hoàn chỉnh một công thức mì ăn liền dành riêng cho thị trường châu Âu, mì có độ dai hợp với khẩu vị của thực khách Pháp, những gói tạo mùi được sản xuất tại vùng Alsace kết với 15 loại gia vị khác nhau, trong đó có các gói màu xanh dành cho những người thích ăn mì với vị truyền thống, hoặc gói màu đỏ dành cho những người thích ăn cay hơn. Trong năm qua, hơn 160 triệu gói mì đã được bán tại Pháp. Khai thác đà thành công này, hiệu Choi's Company tung ra 6 hương vị mì ăn liền khác nhau, có cả mì gà, mì bò và mì trộn xốt carbonara. Các sản phẩm này có thể được tìm thấy tại các siêu thị vùng Alsace trước khi được mở rộng ra khắp nước Pháp. Sự phát triển nhanh chóng của mì ăn liền tại Pháp khiến một số chuyên gia y tế lo ngại. Mỗi gói mì có gần 1 gram muối, chưa kể đến việc sợi mì ăn liền thường được tẩm thêm nhiều chất phụ gia, cho nên các nhà dinh dưỡng học khuyên người tiêu dùng chỉ nên ăn tối đa hai hoặc ba tô mì gói mỗi tuần.

    9 min
  4. Jun 26

    K-Beauty : Vẻ đẹp Hàn đến Pháp

    K-Pop, K-Beauty, K-Dramas, ẩm thực Hàn, cuối cùng làn sóng Hàn Lưu (Hallyu) cũng làm mưa làm gió tại Pháp. Tại sao Hallyu vẫn là trào lưu từ nhiều năm nay? Thế nào thì được coi là đẹp ở Hàn Quốc? Bí mật là gì? Triển lãm K-Beauty. Vẻ đẹp Hàn Quốc, lịch sử của một hiện tượng tại Bảo tàng Guimet, Paris đưa khán giả xuyên suốt 300 năm lịch sử của trào lưu này thông qua lịch sử nghệ thuật, lịch sử thời trang, nghiên cứu văn hóa, khía cạnh xã hội học về vẻ đẹp ở xứ Hàn. Sau gần hai năm chuẩn bị, triển lãm (từ ngày 18/03 đến 06/07/2026) được tổ chức đúng Năm Hàn Quốc tại Pháp nhân kỉ niệm 140 năm thiết lập quan hệ ngoại giao song phương. Vẻ đẹp Hàn được định nghĩa như thế nào ? Được dựa theo những tiêu chí nào ? Bà Claire Bettinelli, đồng giám tuyển của triển lãm, lần lượt giải thích với RFI Tiếng Việt từng giai đoạn lịch sử của Hàn Quốc từ cuối triều đại Joseon (1392-1910) cho đến ngày nay để hiểu được khái niệm về vẻ đẹp đã được thay đổi như thế nào tại Hàn Quốc. Đẹp từ phong thái Trong xã hội bị ảnh hưởng bởi Tân Nho giáo, “nam nữ thụ thụ bất thân”, nét đẹp của người phụ nữ được dựa trên đức hạnh thể hiện qua trang sức và trang phục. Trang phục thướt tha, làn da trắng mịn, trang điểm nhẹ nhàng và kiểu tóc tinh tế phản ánh cho vẻ đẹp bên trong và nghệ thuật chăm sóc bản thân. Nét đẹp này được thể hiện rất rõ trong bức bình phong - được trưng bày ngay gian đầu tiên của triển lãm - gồm 8 bức tranh của Kim Hong Do (1745-1815) khắc họa tinh tế những cảnh sinh hoạt thường nhật của giới quý tộc thời Joseon, cũng như những tác phẩm hội họa của Shin Yun Bok, theo giải thích của Claire Bettinelli : “Shin Yun Bok (1758-sau 1813) tập trung vào vẻ đẹp thời Joseon. Vẻ đẹp này có những đặc điểm gì ? Một khuôn mặt trái xoan hoàn hảo, theo quy tắc ba màu : tóc đen, lông mày đen, con ngươi đen, làn da trắng, bọng mắt trắng, răng trắng, còn má, môi và móng tay hơi hồng. Đây là ba màu sắc mà chúng tôi tìm thấy trong hình ảnh đại diện cho phụ nữ của Shin Yun Bok. Đó là những “kisaeng” - kỹ nữ, là những nguyên mẫu của cái đẹp. Sang thế kỷ 20, Hàn Quốc bị Nhật Bản chiếm đóng, sau đó Mỹ xuất hiện mạnh mẽ kể từ năm 1953. Điều này thực sự ảnh hưởng đến cách người Hàn Quốc thể hiện bản thân, khuôn mặt, thể hiện cái đẹp, trang phục và tìm tòi trong những nguyên mẫu của cái đẹp. Nét đẹp này cũng được thể hiện qua những trang phục hanbok được may theo mẫu vẽ của họa sĩ Sin Yun Bok, đặc biệt là của nhà tạo mẫu Lee Young Hee (1936-2018) và được giới thiệu tại triển lãm. Trong những năm 2010, nhiều nhiếp ảnh gia thời trang, trong đó có Kim Jung Man, lấy cảm hứng từ hanbok và vẻ đẹp từ những tác phẩm của Sin Yun Bok. Có thể thấy rằng vẻ đẹp đó vẫn tồn tại đến ngày nay và vẫn dựa vào những tiêu chuẩn khá cổ điển về vẻ đẹp Hàn Quốc”. Đẹp nhờ mỹ phẩm tự nhiên “Đẹp tự nhiên nhưng không tự nhiên mà đẹp”, đó là cả một bí quyết, một hành trình chăm sóc tỉ mỉ, qua nhiều công đoạn rất nổi tiếng trong K-Beauty. Bảo tàng Guimet đã kết hợp nhiều bảo tàng tại Hàn Quốc (Bảo tàng Quốc gia Hàn Quốc, Bảo tàng Mỹ phẩm Hàn Quốc, Bảo tàng Cung điện Quốc gia Hàn Quốc, Bảo tàng Nghệ thuật Quốc gia hiện đại và đương đại Seoul) để giới thiệu với công chúng những dụng cụ làm đẹp có từ thế kỷ 18 và 19, nghi lễ làm đẹp thường nhật và những loại mỹ phẩm giúp Hàn Quốc nổi danh. Bà Claire Bettinelli giải thích : “Mỹ phẩm được làm thủ công từ các loại thảo dược tự nhiên, dựa trên công thức được ghi trong các cẩm nang về sức khỏe và y học. Theo quan niệm truyền thống, vẻ đẹp bên ngoài phản ánh thể trạng và sự hài hòa bên trong cơ thể. Nhiều thành phần được sử dụng trong cả thực phẩm và mỹ phẩm, ví dụ đậu đỏ, mầm gạo và cả nhân sâm. Từ lâu ở châu Á, nhân sâm không những được dùng để bồi bổ cơ thể mà còn được tin là giúp cải thiện và làm săn chắc làn da. Tư tưởng này tiếp tục được kế thừa trong K-Beauty ngày nay. Các thương hiệu thường nhấn mạnh đến nguồn gốc truyền thống của các công thức làm đẹp được lưu truyền hàng nghìn năm và hiệu quả đã được kiểm chứng theo thời gian. Đó chính là một trong những giá trị cốt lõi mà K-Beauty đang đề cao. Ví dụ hình ảnh nhân sâm được sử dụng để làm nổi bật thành phần của một loại nước hoa hồng. Bên cạnh đó, bao bì của các sản phẩm K-Beauty ngày nay cũng lấy cảm hứng từ lịch sử nghệ thuật, đặc biệt là từ họa sĩ Shin Yun Bok, và hiện vật truyền thống. Cách làm này tạo nên sự kết nối giữa mỹ phẩm đương đại với di sản văn hóa Hàn Quốc”. K-Beauty thành tiêu chuẩn trên thế giới K-Beauty là thuật ngữ miêu tả toàn bộ hệ sinh thái làm đẹp chuẩn Hàn, từ quy trình dưỡng da phức tạp, sản phẩm mỹ phẩm đa dạng đến các dịch vụ làm đẹp công nghệ cao và phẫu thuật thẩm mỹ tiên tiến. Bà Claire Bettinelli cho biết đã nghe nhiều YouTuber nói đến quy trình làm đẹp nhiều bước, lấy cảm hứng từ mỹ phẩm Hàn Quốc, khi quảng cáo cho một số thương hiệu mỹ phẩm Hoa Kỳ ngay những năm 2008-2010. “K-Beauty là một thành phần của làn sóng quyền lực mềm trong Hallyu. Hàn Quốc đăng cai Thế vận hội năm 1988 và sự kiện này đã tác động rất lớn đến việc Hàn Quốc mở cửa ra thế giới. Họ có cả một chiến lược quyền lực mềm nhằm mở rộng sự hiện diện trên trường quốc tế, trước sự cạnh tranh từ Bắc Triều Tiên. Họ cố gắng bảo tồn và xuất khẩu văn hóa truyền thống. Ban đầu, việc này được thực hiện thông qua các sản phẩm phi vật thể, ví dụ xuất khẩu âm nhạc K-Pop, điện ảnh, phim truyền hình… Những nội dung này được tiếp cận dễ dàng hơn từ những năm 2010 nhờ các nền tảng trực tuyến. Tìm K-Pop hoặc phim truyền hình Hàn Quốc dễ hơn là tìm J-Pop (nhạc Nhật Bản) hoặc phim truyền hình Nhật Bản. Các mạng xã hội như YouTube, Instagram, TikTok, X đều nói về K-Beauty và hình ảnh Hàn Quốc. Nhưng phải nói rằng trước khi những sản phẩm phi vật thể này trở nên phổ biến thì đã xuất hiện hình ảnh của những người nổi tiếng, với làn da và khuôn mặt hoàn hảo. Và người ta muốn giống họ, hoặc ít nhất là có công thức thần kỳ cho làn da hoàn hảo đó, mái tóc mềm mượt và óng ả đó. Và đó là cách K-Beauty đến phương Tây. Vẻ đẹp Hàn trong thời trang cao cấp Vẻ đẹp Hàn Quốc trở thành hiện tượng K-Beauty được thể hiện trong phần cuối của triển lãm. Ngay những năm 2010, chữ “K” được gắn với những xuất khẩu văn hóa của Hàn Quốc : K-Pop, K-Dramas, K-Beauty… Những bộ hanbok truyền thống trở thành nguồn cảm hứng cho nhà tạo mẫu nổi tiếng Karl Lagerfeld của Chanel để thiết kế những chiếc áo khoác có tay áo rộng, vai tròn, có hai hàng cúc hoặc xẻ. “Phiên bản Hàn Quốc của áo khoác Chanel” được giới thiệu trong bộ sưu tập Croisière 2015/16 tại trung tâm Dongdaemun Design Plaza ở Seoul ngày 04/05/2015. Theo bà Claire Bettinelli, đây là đầu tiên một bộ sưu tập Croisère được giới thiệu ở nước ngoài và cho thấy chuyên môn nghề dệt may Hàn Quốc : “Các bộ trang phục sử dụng kỹ thuật patchwork, ghép những mảnh vải nhỏ với nhau, kết hợp hình dáng của hanbok và đặc biệt là những điểm đặc trưng của Chanel, ví dụ chiếc nơ nhung đen lớn là một đặc trưng của Chanel hoặc phần cổ áo cũng là kiểu may đo đặc trưng của Chanel, nhưng kiểu dáng của chiếc váy lại là hanbok. Có thể thấy rằng thời trang cao cấp có sự quan tâm đặc biệt ở ngoài khu vực phương Tây và quan tâm đến thời trang Hàn Quốc. Đây là điều vô cùng thú vị”. Những thần tượng K-Pop (BTS, Blackpink…) trở thành sứ giả của vẻ đẹp được chuẩn hóa và dễ nhận biết. Có thể thấy rõ ảnh hưởng của làn sóng Hàn tại Pháp trong phần đương đại ở gian triển lãm cuối, gồm rất nhiều kỷ vật cá nhân, dụng cụ liên quan đến K-Beauty. Bà Claire Bettinelli cho biết ban tổ chức đã kêu gọi công chúng tham gia “và chiến dịch thành công ngoài mong đợi” : “Chúng tôi dựng một bức tường, được gọ

    11 min
  5. Jun 19

    Phô mai Comté, truyền thống Pháp cả ngàn năm tuổi

    Dãy núi Jura, nằm giữa những khu rừng thông và đồng cỏ mênh mông, là nơi khai sinh ra Comté, một trong những loại phô mai lâu đời của Pháp. Văn bản xưa nhất có từ thế kỷ XII là một hợp đồng mua bán bò sữa để làm phô mai tại làng Poligny, nằm cách hai thành phố Dole và Besançon khoảng 50 cây số. Với thời gian, phô mai Comté cũng như Morbier trở thành đặc sản nổi tiếng hàng đầu của vùng Bourgogne Franche-Comté. Vào thời Trung cổ, nhiều gia đình nông dân đã hợp sức với nhau trong quá trình sản xuất. Sữa tươi khó giữ được lâu, sản lượng của mỗi gia đình cũng không được nhiều, nhưng khi thu gom lại thì vẫn đủ sữa để sản xuất một loại phô mai có thể giữ được lâu (gọi là fromage de garde). Mô hình sản xuất theo kiểu gom góp này đã khai sinh các hợp tác xã phô mai đầu tiên ở miền trung nước Pháp (thuật ngữ địa phương gọi là fruitière). Có thể nói Comté phản ánh tình đoàn kết trong giới nông dân thời xa xưa, nhiều thế kỷ trước khi các loại máy móc cũng như khái niệm sản xuất công nghiệp ra đời. Theo đầu bếp Pháp Emmanuel Perrodin, tác giả của quyển sách « Le Comté, 10 façons de le préparer » (Mười cách chế biến món ăn với Comté) thực khách Pháp yêu chuộng loại phô mai này trước hết là vì Comté có hương vị đa dạng, phong phú. Phô mai Comté cũng nhẹ nhàng,dễ ăn hơn  nhiều so với các loại phô mai đậm mùi hơn như Camembert, Maroilles, Roquefort hay Morbier : Trên thực tế, điều làm nên nét độc đáo của Comté nằm trong sữa tươi, thành phần quan trọng đầu tiên để chế biến phô mai. Hương vị tinh tế và phong phú của phô mai Comté tùy thuộc vào khí hậu, môi trường tự nhiên cũng như thời điểm thu gom sữa tươi. Các đàn bò sữa (giống bò Montbéliarde) được thả ở ngoài đồng, vào mùa xuân nhều mưa được ăn nhánh cỏ xanh non, vào mùa hè nhiều nắng được ăn thêm nhiều luống hoa dại, vào mùa đông đàn bò sữa chủ yếu ăn cỏ khô. Các loại thức ăn này đều ảnh hưởng tới sữa : do vậy, phô mai Comté (làm với sữa bò) mùa đông không giống với phô mai mùa hè, phô mai được sản xuất với sữa bò ở vùng đồng bằng thung lũng cũng sẽ khác với vùng cao nguyên Haut-Jura. Ngoài hương vị, phô mai Comté còn phản ánh một mô hình sản xuất lâu dài về mặt truyền thống và « bền vững » nhờ tình đoàn kết. Các yếu tố này làm cho phô mai Comté trở nên độc đáo, khiến người dân địa phương cảm thấy tự hào. Với hơn 60.000 tấn được bán ra hàng năm, Comté thuộc vào hàng phô mai được người tiêu dùng yêu chuộng nhất. Được chế biến từ sữa tươi, ép chắc và nấu chín, Comté là một trong những loại phô mai đầu tiên của Pháp được chứng nhận vào năm 1958 về nguồn gốc, xuất xứ cũng như quy trình chế biến. Để mang nhãn hiệu cầu chứng Comté, phô mai phải được sản xuất trong các vùng xung quanh dãy núi Jura (Ain, Doubs và Jura). Anh Sébastien Ozérée, nhà sản xuất phô mai Comté thuộc hợp tác xã Plasne-Barretaine cho biết : Hợp tác xã của chúng tôi gồm 21 nhà sản xuất, trong đó có 7 nhà sản xuất hữu cơ (bio) và 14 nhà sản xuất theo phương pháp thông thường. Chúng tôi sở hữu toàn bộ các cơ sở và thiết bị để chế biến gần 7 triệu rưỡi lít sữa tươi mỗi năm. Chúng tôi có một chiếc xe tải riêng với dung lượng 15.000 lít, để thu gom sữa tươi từ các nông trại thành viên của hợp tác xã. Mỗi ngày, sữa tươi được thu gom từ các nông trại gần kề, trong bán kính không quá 25 cây số. Từ xe bồn, sữa tươi thu gom được chuyển trực tiếp vào các thùng lớn bằng đồng, để được chế biến ngay trong vòng 24 tiếng. Tùy theo mỗi mùa, đúng là hương vị của Comté đều có sự thay đổi. Chế độ ăn uống của đàn bò sẽ ảnh hưởng tới chất lượng của phô mai : kết cấu, màu sắc hay hương vị sẽ không giống nhau. Chẳng hạn như, vào mùa xuân khi hoa bồ công anh nở đầy trên các cánh đồng cỏ, ta có cảm tưởng chân núi vùng Jura được trải thảm vàng. Khi được thả ở ngoài đồng, đàn bò tha hồ mà ăn cỏ thơm hoa dại, điều đó rất tốt cho sữa, và ta có thể thấy ngay sự thay đổi này : màu sắc của sữa chuyển sang trắng ngà đậm chất hơn, chứ không hoàn toàn trắng bạch như trước. Chính những yếu tố này giúp nâng cao chất lượng của Comté và loại phô mai còn theo truyền thống lâu đời này rất khác so với các loại pho mát sản xuất theo kiểu công nghiệp. Phô mai Comté cần được ủ tối thiểu trong bốn tháng (120 ngày), loại rất ngon có thể được giữ lâu hơn nữa. Nếu muốn ăn Comté có nhiều mùi hương « hoa đồng cỏ nội », thì nên mua vào tháng 7 hoặc tháng 8, nhưng cũng có người thích ăn Comté chế biến với sữa mùa đông. Nhìn chung, ngànhsản xuất Comté có đến gần 2400 nông trại trong 150 hợp tác xã (fruitières) và mỗi hợp tác xã đều mang đến một nét riêng trong cách chế biến phô mai. Theo bộ Nông Nghiệp Pháp, hàng năm có tới hơn một triệu rưỡi ổ phô mai Comté được sản xuất (mỗi ổ nặng 40 kí lô), tương đương với 61.000 tấn. Thời gian trung bình ủ phô mai Comté là 8 tháng (mức quy định tối thiểu là 4 tháng) nhưng có thể kéo dài đến 12, 15, 18 hoặc thậm chí 24 tháng. Để làm ra một ổ phô mai với 60 cm bề ngang và 10 cm bề dày, các nhà sản xuất cần hơn 400 lít sữa bò Montbéliarde. Anh Sébastien Ozérée cho biết những công đoạn chính trong quá trình chế biến phô mai Comté. Trong bước đầu, sữa được đổ vào các thùng đồng, rồi cho thêm men lactic để làm đông sữa. Vài giờ sau khi sữa tụ đặc lại thành một khối, đông, người ta dùng máy để cắt sữa đông thành muôn vàn hạt sữa có kích thước nhỏ hơn. Bước kế tiếp là quá trình đun nóng sữa đông không quá 56°C. Hỗn hợp này sau đó được cho vào khuôn, rồi sau đó được ép chặt bằng ván gỗ trong 20 giờ. Đến ngày hôm sau, phô mai ép được lấy ra khỏi khuôn, rồi được ướp muối, để giúp cho phô mai nấu chín được giữ lâu một cách tự nhiên. Ở giai đoạn này, Comté còn là một loại phô mai non, chưa dậy mùi. Pho mai được cất giữ trong hầm hợp tác xã khoảng ba tuần trước khi được gửi đến xưởng ủ phô mai trong thời gian tối thiểu là 120 ngày (bốn tháng). Quá trình ủ phô mai được tiến hành trên những tấm ván bằng gỗ thông miền núi Jura. Đây là một loại gỗ địa phương, có lợi thế là gỗ thông không có chất tannin, nên không tác động đến quá trình tạo mùi cho Comté. Ba tuần một lần, bề mặt của phô mai được xoa bằng nước muối có trộn với men vi sinh, điều này giúp cho vỏ phô mai có được một lớp vỏ dày tự nhiên. Phô mai còn non thường có màu lợt nhưng sau đó, nó sẽ chuyển sang màu ngà, màu vàng, màu cam và cuối cùng là màu nâu đối với những ổ pho mai nhiều tuổi nhất. Nhiều người không thích lớp vỏ dày của Comté, nhưng ta hoàn toàn có thể ăn được. Theo tôi nghĩ, đó chỉ là một vấn đề về sở thích hay khẩu vị : lớp vỏ cứng dày thường có mùi vị đậm đà hơn. Dù gì đi nữa, sau khi được ủ bốn tháng, phô mai có thể được bán trên thị trường. Giá cả dĩ nhiên tùy theo chất lượng : nếu phô mai không có khuyết điểm về hình dạng cũng như mùi vị, nhà sản xuất có thể bán với giá cao hơn. Hiện tại, loại Comté phổ biến chính là loại phô mai được ủ từ 6 đến 8 tháng, ngon hơn nữa có loại 12 tháng. Nhiều ổ phô mai Comté lại càng có giá cao hơn vì được ủ lâu hơn từ hai năm (24 tháng) cho đến gần ba năm rưỡi (40 tháng). Hương vị của Comté lại càng phong phú tuyệt vời. Một số thực khách thích dùng phô mai còn non, chưa đầy 12 tháng, nhưng cũng có nhiều người thích ăn loại Comté chín muồi, với nhiều năm tuổi. Đó là trường hợp của đầu bếp Emmanuel Perrodin, tác giả quyển sách «Mười cách chế biến món ăn với Comté » : Tôi đã có dịp nếm thử một miếng Comté 40 tháng tuổi do một bậc thầy chuyên ngành phô mai chế biến. Lúc đầu, tôi nghĩ là mình không thích phô mai được ủ nhiều năm, nhưng khi nếm thử loại Comté 40 tháng tuổi của ông Marc Janin, tôi mới khám phá ra mùi vị cũng như một kết cấu mà tôi chưa từng trải nghiệm. Loại Comté này có nhiều hương thơm mềm mại nồng nàn gần giống như vani. Trong khi các loại non hơn thường có mùi hạt dẻ với những nố

    9 min
  6. Jun 12

    "Kẻ trộm nghệ thuật" - Một góc nhìn khác lạ về tội phạm

    Cuốn sách Kẻ trộm nghệ thuật (The Art Thief: A True Story of Love, Crime, and a Dangerous Obsession) khám phá cuộc đời tên trộm kỳ lạ nhất trong lịch sử tội phạm nghệ thuật. Hơn 200 vụ trộm, Stéphane Breitwieser cùng bạn gái trót lọt đánh cắp bộ sưu tập trị giá gần 2 tỷ đô la chỉ để ngắm. Qua lời kể của nhà báo Michael Finkel, độc giả đắm chìm trong thế giới của những kỳ tích phạm tội, tình yêu cay đắng, sự ám ảnh khó tin. Động cơ của tên trộm khét tiếng Các tạp chí hàng đầu như New York Times, Wall Street Journal bình chọn tác phẩm này là cuốn sách của năm 2023. Michael Finkel dẫn dắt đưa độc giả ngược dòng thời gian của nhân vật chính Stéphane Breitwieser từ lúc nhỏ tới hiện tại (52 tuổi tại thời điểm xuất bản sách). Mặc dù thuộc thể loại phi tiểu thuyết, cuốn sách như truyện trinh thám hồi hộp, gay cấn nhờ tiết tấu nhanh và khai thác tâm lý nhân vật đa chiều. Kẻ trộm nghệ thuật kể về cuộc đời thực của Stéphane Breitwieser, người Pháp trầm lặng và say mê nghệ thuật điên cuồng. Hắn ưa thích đặc biệt nghệ thuật Phục Hưng (Renaissance) và Baroque từ nhỏ. Cha mẹ ly hôn để lại vết sẹo trong tâm hồn đứa trẻ yêu nghệ thuật vì bố của Stéphane được quyền sở hữu hết các tác phẩm trong nhà. Hắn chuyển sang sống với mẹ trong căn hộ tằn tiện, khác hẳn căn nhà rộng rãi với bộ sưu tập đồ cổ lúc cha mẹ còn hạnh phúc. Cú sốc tâm lý tuổi vị thành niên đã nung nấu động cơ một đứa trẻ mang tâm trạng bất mãn và hụt hẫng. Hắn khát khao xây dựng bộ sưu tập nghệ thuật cho riêng mình như viện bảo tàng thu nhỏ. Stéphane đồng hành cùng bạn gái Anne-Catherine thực hiện hàng loạt vụ trộm táo tợn trong các bảo tàng vừa và nhỏ trên khắp Châu Âu. Giá trị tài sản tác phẩm nghệ thuật hắn đánh cắp trong giai đoạn 1995 tới 2001 ước tính gần 2 tỷ đô la. Đáng ngạc nhiên là Stéphane không bán, mà lưu giữ chúng tại phòng ngủ áp mái vì tình yêu nghệ thuật điên rồ. Tác giả cân bằng được không khí hành động, hồi hộp đột nhập các viện bảo tàng và mổ xẻ được tâm lý chi phối nhân vật. Hắn say mê với cái đẹp hiện hữu, mắc chứng ái kỷ (yêu bản thân quá mức) và cơn nghiện (ăn cắp) khó thể từ bỏ. Tổng quan nửa đầu cuốn sách, phi vụ của Stéphane và bạn gái có thể ví von như cặp bài trùng Bonnie và Clyde, cặp đôi cướp táo tợn người Mỹ nổi danh từ thời kỳ Đại suy thoái (1932-1934). Bí kíp thành công của bộ đôi  “Bonnie và Clyde” Xuyên suốt cuốn sách, người đọc thâm nhập vào hàng trăm phi vụ trộm của cặp tình nhân trong các viện bảo tàng. Đâu là bí mật sau chuỗi dài thành công của Stéphane và Anne ? Chiến lược của hắn và bạn gái nhắm vào các bảo tàng địa phương quy mô nhỏ và vừa, an ninh kém như Gruyeres Castle, Thụy Sỹ (1995). Khá thú vị, họ chọn thời điểm ban ngày để trà trộn vào đám đông du khách. Stéphane chỉ lấy tranh, bỏ lại khung và những tác phẩm có kích thước nhỏ gọn, không bị gắn hệ thống báo động. Hắn thường giấu tranh dưới áo khoác hay túi hộp trong khi bạn gái đảm nhiệm vai trò quan sát, báo hiệu nếu ai đó tiếp cận. Hắn khôn ngoan chọn những bảo tàng không kiểm soát lối ra, không an ninh, do vậy tên trộm láu cá dễ dàng tẩu thoát như khách thăm quan. “Bộ đôi Bonnie và Clyde” của Pháp đã tung hoàng ngang dọc khắp bảo tàng tại khối Schengen như Đức, Áo, Bỉ, Thụy Sỹ, Hà Lan và Đan Mạch từ năm 1995 tới 2001. Đáng chú ý, Stéphane kiếm sống nhờ công việc bồi bàn tại Thụy Sỹ trong khi vẫn ở tại Pháp. Công việc có thu nhập khiêm tốn, bù lại lịch làm việc linh hoạt, di chuyển dễ dàng. Do vậy, việc đi lại xuyên biên giới của hắn không gây nghi ngờ cho cảnh sát biên giới. Chuỗi ngày thành công chính thức khép lại vào tháng 11 năm 2001 khi bộ đôi bị tóm gọn tại bảo tàng Richard Wagner ở Thụy Sỹ. Không như các phi vụ trước thực hiện trong ngày, Stéphane quay trở lại bảo tàng sau hai ngày, do vậy an ninh và nhân viên bảo tàng phát hiện, báo cảnh sát. Mổ xẻ tâm lý “ái kỷ” Dưới ngòi bút của Michael, nghệ thuật như một chiếc ô rộng lớn, che chắn cho tuổi thơ dữ dội của Stéphane. Hắn cô đơn, lạc lõng trong thế giới người trưởng thành cho nên nghệ thuật chính là bạn đồng hành về tinh thần. Tác giả mổ xẻ khá kỹ tâm lý nhân vật cho rằng Stéphane am hiểu nghệ thuật sâu sắc hơn cả các viện bảo tàng ! Chứng bệnh “ái kỷ” thúc đẩy suy nghĩ có quyền lấy những gì hắn thích và trở thành người hùng sau những vụ trộm. Thú vị hơn, sự đồng hành của bạn gái lâu năm lại là chất xúc tác mạnh cho bệnh ái kỷ. Hắn cho rằng mình tài năng và được bạn gái công nhận, trợ giúp tối đa. Sự ám ảnh nghệ thuật của Stéphane trở thành cơn nghiện khó cưỡng, với cấp độ rủi ro tăng cao dần. Hắn đạt được cảm xúc thăng hoa và nhẹ nhõm sau mỗi vụ trộm. Tuy nhiên, Stéphane không thể ngờ rằng điểm tựa tinh thần vào bạn gái chính là “gót chân Achilles”. Sau vụ bắt giữ năm 2001, họ đối mặt thực tế khắc nghiệt do bị truy tố, liên đới gia đình, sụp đổ ảo mộng. Michael lột tả sự tổn thương tột độ trong con người Stéphane khi Anne chia tay, giũ bỏ mọi trách nhiệm liên đới trong các vụ trộm của bộ đôi. Trong khoảng thời gian ngắn, hắn đánh mất tất cả : sự tự do, bạn gái, bộ sưu tập quý giá, danh tính kẻ sưu tập cổ vật. Theo cuốn sách, Stéphane còn không hề được biết vụ phá thai do Anne và mẹ hắn tiến hành một cách kín đáo. Ở góc độ nào đó, hắn vẫn là một đứa trẻ đầy mơ mộng, thiếu sự chăm sóc, dễ dàng bị người thân qua mặt. Bi kịch cuộc đời kẻ ám ảnh nghệ thuật Cuốn sách dần khép lại với cảm xúc hỗn độn về thế giới sụp đổ của Stéphane. Hương vị cay đắng, chua xót khi Anne bỏ rơi hắn, đặt dấu chấm hết cho thế giới ảo vọng bao bọc trong niềm vui chiến thắng, bảo tàng nghệ thuật và người tình. Hắn không thể chấp nhận thực tế rằng Anne có quyền lựa chọn tương lai khác mà không có hắn ! Đau đớn hơn, bảo tàng cá nhân dày công sưu tập đã chính thức “vô chủ” vì mẹ của Stéphane phi tang toàn bộ chiến tích nhằm cứu con mình khỏi bị truy tố. Sự mâu thuẫn, giằng xé tâm lý giữa hai mẹ con lên tới đỉnh điểm do động cơ khác biệt. Đây là bài học đắt giá về nuông chiều con cái, buông lỏng quản lý dẫn đến kết cục đáng thương của số phận con người. Sau khi ra tù, Stéphane có cơ hội gột rửa vết nhơ với nhiều lời đề nghị xuất bản sách hay bước sang truyền thông về thời trai trẻ “khét tiếng”. Tuy nhiên, sự ám ảnh nghệ thuật và bệnh ăn cắp lại hủy hoại giấc mơ làm lại cuộc đời. Năm 2011, cảnh sát khám xét nhà Stéphane, phát hiện thêm 30 tác phẩm nghệ thuật ăn cắp. Hắn tiếp tục kết án tù vào năm 2013 như vòng xoáy không thể dừng lại. Cuốn sách có những hạt sạn nhỏ như thời gian không khớp giữa những bộ phim tội phạm nổi tiếng Hollywood tương tự với những vụ trộm Stéphane tiến hành. Michael Finkel đã pha trộn tài tình giữa một cuốn hồi ký, tiểu sử, bi kịch, tâm lý tội phạm và bài học giáo dục sâu sắc chỉ trong 240 trang sách. (Theo Wikipedia, Guardian, New York Times, GQ) Michael Finkel, The Art Thief: A True Story of Love, Crime, and a Dangerous Obsession (Kẻ trộm nghệ thuật: Câu chuyện chân thực về tình yêu, tội phạm và sự ám ảnh nguy hiểm), NXB Knopf Publishing Group, 27/06/2023, 240 trang.

    9 min
  7. Jun 5

    Pháp : Công nghệ số đưa bảo tàng, di tích đến gần hơn với công chúng

    Làm thế nào để thu hút khách tham quan đến một di tích lịch sử, “giữ chân” họ trước một kiệt tác nghệ thuật từ những thế kỷ trước ? Làm thế nào để những sự kiện lịch sử đọng lại trong tâm trí khán giả ? Từ nhiều năm gần đây, kỹ thuật số trở thành công cụ không thể thiếu giúp các bảo tàng, di tích tại Pháp thay đổi cách tham quan và từng bước “dân chủ hóa” văn hóa, đặc biệt là từ đại dịch Covid-19. Mối quan hệ giữa giới trẻ và bảo tàng đã thay đổi từ gần 20 năm qua nhờ cách mạng kỹ thuật số. Nhưng hiện nay, quá trình chuyển đổi số các bảo tàng không còn là một lựa chọn mà là điều thiết yếu. Song song với những chuyến tham quan có hướng dẫn viên, bị khống chế thời gian, công chúng hoàn toàn có thể tự do khám phá bảo tàng, các tác phẩm, theo nhịp độ riêng nhờ “hướng dẫn viên ảo”. Sống trong lịch sử nhờ công nghệ Thiết bị nhỏ như băng cát-sét hoặc máy tính bảng được cung cấp kèm với tai nghe đưa người xem trở lại thời xưa với những âm thanh, tiếng ngựa, lời thoại. Đây là loại hình tham quan trải nghiệm (visite immersive), hướng dẫn dưới dạng ứng dụng. Người xem sẽ nhấn theo số được ghi cạnh một bức tranh hoặc một gian trừng bày. Hiện đại hơn sẽ là những bộ cảm biến trong phòng sẽ tự động đưa khách tham quan đến lời giới thiệu cần thiết. Lời giới thiệu thường khoảng một phút để khách tham quan không bị mất tập trung. Đọc thêmĐắm chìm trong "Đêm đầy sao" của Van Gogh nhờ công nghệ số Loại hình thứ hai là trải nghiệm ảo và tương tác (expériences virtuelles et interactives), “thật hơn” và hấp dẫn hơn. Các địa điểm du lịch đã thấy được hiệu quả của loại hình trải nghiệm này, rất thành công trong trò chơi thoát hiểm (Escape Game) và muốn áp dụng để đổi mới bản thân. Đây là nhận định của Antoine Hubart, phụ trách thương mại của công ty John Doe. Immersive Game, trụ sở tại Lille, khi trả lời RFI Tiếng Việt tại Hội chợ Du lịch Quốc tế Paris ngày 12/03/2026. “Họ muốn cung cấp những trải nghiệm mới cho những đối tượng hoàn toàn khác, những mục tiêu mà ban đầu họ không thể tiếp cận. Ví dụ, giới trẻ quan tâm nhiều hơn đến việc xem truyền hình hoặc sử dụng điện thoại, họ không hẳn thấy cần phải đến bảo tàng, thăm lâu đài, hoặc là đi bộ đường dài. Công ty chúng tôi cung cấp trò chơi, những trò chơi ít nhiều mang tính văn hóa, tùy thuộc vào địa điểm. Ví dụ, trong một lâu đài tập trung vào lịch sử Pháp, vào một vị vua cụ thể, chúng tôi sẽ tạo ra một trò chơi dựa trên vị vua đó, sử dụng các sự kiện lịch sử có thật, để khuyến khích giới trẻ đến chơi trò chơi đồng thời khám phá lịch sử của địa điểm, lịch sử của lâu đài. Chúng tôi cũng làm điều này trong hang động, trong hầm mỏ, trong bảo tàng. Kinh nghiệm này đã được chúng tôi làm với Bảo tàng xe bọc thép, liên quan đến vũ khí chiến tranh”. Hình thức tham quan trải nghiệm và thực tế ảo mang đến cho công chúng một môi trường hoành tráng, tạo cho trải nghiệm sâu sắc hơn, phong phú hơn và đã định hình lại kiểu tham quan bảo tàng, theo nhận định trong một bài viết của Solveig Tiby trên trang les-enovateurs ngày 20/09/2024. Công nghệ kết nối bảo tàng với thanh niên Năm 2025 đánh dấu năm kỷ lục về số lượng khách tham quan các bảo tàng và 100 di tích và khu vườn thuộc Trung tâm Di tích Quốc gia (CMN). Bảo tàng Louvre tại Paris tiếp tục phá vỡ kỷ lục số lượt khách tham quan (hơn 9 triệu lượt), theo tạp chí Le Quotidien de l’Art ngày 05/01/2026. Trong số này, tỷ lệ người trẻ dưới 26 tuổi tăng từ 41% lên 44%. Đây là xu hướng được tiếp nối từ những năm trước, giới trẻ quan tâm đến bảo tàng nhiều hơn nhờ mạng xã hội, muốn trải nghiệm từ trực tuyến đến xem thật. “Đó là một kiểu tham quan có hướng dẫn, ở bảo tàng chẳng hạn. Chúng tôi sẽ biến chuyến tham quan đó vui nhộn hơn nhờ điện thoại di động, biến khám phá thành một trải nghiệm theo cách khác, độc đáo hơn một chút, với những thông tin mà ban đầu chưa có. Khi tiến dần trong bảo tàng, điện thoại sẽ hướng dẫn chúng ta dừng lại ở một điểm cụ thể. Ứng dụng tải trước sẽ kể cho chúng ta một chút về lịch sử hoặc một vài giai thoại thú vị và đưa ra cả câu đố. Phải giải được câu đố đó để chuyển sang điểm tiếp theo. Lúc đó, điện thoại sẽ nói “Giờ thì bạn có thể đi tiếp” và tiếp tục từng điểm một. Sau khi tham quan xong, tất cả thông tin vẫn còn trên điện thoại. Khách tham quan có thể lưu lại hoặc nếu muốn tìm hiểu thêm, họ sẽ liên lạc với bảo tàng vì bảo tàng có tài liệu riêng”. Điện thoại, vật bất ly thân của giới trẻ, trở thành “hướng dẫn viên” và khi “vừa học vừa chơi”, họ sẽ cảm nhận, tiếp thu dễ dàng hơn, theo giải thích của Antoine Hubart : “Khách tham quan không cần thiết bị gì hết. Thiết bị sẽ được điều chỉnh tùy thuộc vào địa điểm. Dĩ nhiên nếu đi vào hang động, chúng tôi sẽ cung cấp mũ bảo hiểm để bảo đảm an toàn. Tùy thuộc vào địa điểm và mức độ an toàn, sẽ luôn có một số thiết bị tối thiểu. Nhưng nhìn chung, các trò chơi của chúng tôi được thiết kế dựa trên chính khung cảnh đó. Đa số trường hợp, khách tham quan chỉ cần điện thoại di động vì trò chơi được tải trước trên điện thoại, và họ có thể tiến được nhờ điện thoại. Hoặc một số trò chơi thì cần một cuốn sổ tay để giúp giải câu đố, khám phá mọi thứ để đi tiếp và đơn giản là vui chơi”. Đắm chìm trong dòng chảy nghệ thuật nhờ công nghệ kỹ thuật số Một ví dụ khác giải thích cho thành công của công nghệ kỹ thuật số trong hành trình đưa nghệ thuật, lịch sử đến với đông đảo công chúng là Trung tâm Nghệ thuật số Ateliers des Lumières tại Paris (thành lập năm 2018). Chủ trương của công ty chủ quản Culturespace (có 12 địa điểm trên thế giới) là giới thiệu các trào lưu nghệ thuật hoặc những nghệ sĩ nổi tiếng trong lịch sử nghệ thuật nhờ công nghệ AMIEX (Art, Musique Immersive Experience). Cùng một tác phẩm, khách tham quan sẽ có những góc nhìn khác nhau từ những vị trí khác nhau trong phòng triển lãm nhờ 140 máy chiếu chiếu lên tường và nền nhà. Ông Michael Couzigou, giám đốc Atelier des Lumières, giải thích với RFI tiếng Việt trong buổi khai mạc triển lãm Van Gogh, Đêm đầy sao (Van Gogh, La Nuit étoilée) ngày 22/02/2019 : “Ý tưởng của chúng tôi là kết hợp sự sáng tạo bằng hình ảnh, được thực hiện từ ảnh chụp các tác phẩm nghệ thuật, sau đó được số hóa, đi kèm với âm nhạc - được chọn lọc cho phù hợp hoặc được soạn riêng cho triển lãm - để tạo cảm xúc cho người xem và khiến họ đắm chìm trong dòng chảy nghệ thuật của triển lãm đó. Đây là một phương pháp khác lạ mà chúng ta không thể thấy được trong những bảo tàng truyền thống. Thêm vào đó, nhiệm vụ của Culturespace là cố gắng tiếp cận được với đông đảo công chúng nhất. Có nghĩa là chúng tôi muốn họ đến xem với cả gia đình, với con cháu để giúp các em khám phá nghệ thuật theo cách mới, có thể hiện đại hơn, năng động hơn”. Một ví dụ khác là chương trình AURA Invalides dưới mái vòm điện Invalides (Dôme des Invalides), nơi đặt quan tài của Napoléon, kéo dài 50 phút vào buổi tối, sau khi đóng cửa với công chúng. Trải nghiệm đa phương tiện sống động kết hợp  ánh sáng, nhạc giao hưởng và video mapping (kết hợp giữa công nghệ 3D và công nghệ làm phim) để tạo nên những hiệu ứng về hình ảnh, ánh sáng, âm thanh, kích thích tất cả các giác quan của người xem. Kỹ thuật số đã thay đổi sâu sắc sự tiếp cận, sản xuất và việc phổ biến văn hoá. Nó có thể giúp một tác phẩm được phổ biến ngoài biên giới địa lý. Một số nền tảng trực tuyến, như Google Art & Culture, Europeana, Gallica..., tham gia phổ biến văn hóa, cho phép công chúng được truy cập miễn phí vào nhiều tác phẩm. Hình thức này được thúc đẩy mạnh trong giai đoạn đại dịch Covid-19 khi cả thế giới bị phong tỏa, mọi hoạt động lưu thông gần như đình trệ. Nhiều bảo tàng đã tổ chức các triển lãm “ảo”, mở rộng thư vi

    10 min
  8. May 30

    Roch Voisine : 40 năm sự nghiệp sân khấu

    Trong năm 2026, Roch Voisine trở lại dưới ánh đèn sân khấu với chuyến lưu diễn ban đầu tại Canada rồi sau đó trên khắp nước Pháp, nơi anh vẫn có nhiều người hâm mộ trung thành. Đợt lưu diễn này cũng đánh dấu 40 năm sự nghiệp ghi âm của nam danh ca người Canada, album phòng thu đầu tiên của anh mang tựa đề "Sweet songs" từng được phát hành vào năm 1986.  Sinh trưởng tai bang Nouveau Brunswick, miền duyên hải phía đông Canada, Roch Voisine ban đầu nuôi mộng trở thành vận động viên (hockey) chuyên nghiệp, nhưng sau khi bi chấn thương, anh buộc phải chuyển hướng sang ngành truyền hình, rồi sáng tác âm nhạc.  Đối với những người hâm mộ Roch Voisine, đây là cơ hội để gặp lại nghệ sĩ người Canada. Tên tuổi của anh luôn được gắn liền với bản nhạc kinh điển "Hélène" phát hành vào năm 1989. Đây là ca khúc chủ đạo trich từ album phòng thu thứ ba của anh. Trong tiếng Việt, bản nhạc này từng được tác giả Khúc Lan đặt lời thành "Hélène (Khi em rời xa)". Bài này còn có một lời thứ nhì là "Tình theo gió bay" qua phần ghi âm của Khánh Dung. Quả thật, Roch Voisine đã để lại dấu ấn sâu đậm trong lòng nhiều thế hệ thính giả với ca khúc nổi tiếng này. Nhưng đằng sau thành công vượt bậc ấy cũng có phần nào một chút thất vọng, như anh từng chia sẻ với báo chí Pháp. Theo Roch Voisine, vào năm 1989, bài hát "Hélène" đã đưa tên tuổi của anh lên đỉnh cao và kể từ đó đã thay đổi nhiều thứ đối với ca sĩ trẻ tuổi. Gần bốn thập niên sau, chỉ cần vài nốt nhạc dạo đầu bằng tiếng đàn ghi ta, cũng đủ để khơi gợi lại nhiều kỷ niệm cho giới hâm mộ. Tuy nhiên, bài hát này lại có tác động bất ngờ mà chỉ có người trong cuộc mới nhin thấy. Thành công rực rỡ của bài hát che khuất phần còn lại sau này trong sự nghiệp của Roch Voisine. Mặc dù đã phát hành 22 album và thu âm hơn 250 bài hát trong 4 thập niên qua, nhưng Roch Voisine thường bị đánh giá thấp, như thể suốt đời, anh chỉ được biết đến nhờ một bài hát duy nhất. Với  thời gian, Roch Voisine dường như đã chấp nhận cách nhìn hơi đơn giản này. Dẫu sao, anh cũng may mắn khi có ít nhất một bài hát thành công vượt bực trên thị trường quốc tế. Anh dành nhiều thời gian hơn để trao dồi sáng tác, khám phá những khía cạnh khác trong nghề biểu diễn, đặc biệt ngày trở lại dưới ánh đèn sân khấu trong năm 2026 cũng là dip để Roch Voisine tôn vinh tác giả Gordon Lightfoot, một trong những thần tượng của anh. Trong thời kỳ huy hoàng sự nghiệp (vào giữa những năm 1990) tên tuổi của Roch Voisine lẫ y lừng không thua gì Patrick Bruel hay Florent Pagny.Tuy nhiên, nghệ sĩ người Canada chưa bao giờ để cho bản thân minh bị cuốn vào vòng xoáy của thành công. Sau các buổi biểu diễn ở khắp nơi, Roch Voisine cho biết anh chỉ muốn trở về nguyên quán, tìm lại căn nhà nhỏ bên bờ hồ. Anh thích một cuộc sống bình thường. Sự ổn định trong đời sống tựa như một tấm lá chắn bảo vệ anh trước sức cám dỗ của tiền tài, danh vọng. Khi mới vào nghề, Roch Voisine đã có một lối suy nghĩ chín chắn trưởng thành, khác xa với hình ảnh của những ngôi sao nhạc trẻ thành công quá nhanh, bị đẩy quá sớm vào ánh hào quang danh vọng. Ngay cả giờ đây, trong thời gian ở Canada, anh thích sống ở vùng nông thôn, xa lánh chốn thành thi ồn ào huyên náo.  Với chuyến lưu diễn trong năm 2026, Roch Voisine muốn kết nối lại với khán giả của mình, đền đáp tình cảm ưu ái của người hâm mộ. Vòng lưu diễn Canada và sau đó đến nước Pháp là dịp để cho các fan nghe lại nhạc phẩm "Hélène" cũng như nhiều bài hát khác của anh. Càng rong ruổi trên những chặng đường lưu diễn, nay đây mai đó, Roch Voisine lai càng khao khát tìm lại căn nhà bên dòng nước, nhìn mặt hồ lúc hoàng hôn, chốn bình an trong tâm hồn.

    9 min

About

Sinh hoạt văn hóa, nghệ thuật, đặc biệt là tại Pháp và Việt Nam

More From RFI Tiếng Việt

You Might Also Like