Tạp chí khoa học

Thành tựu và thách thức trong lĩnh vực môi trường, khoa học kỹ thuật, y tế

  1. 10/08/2025

    Thám hiểm Mặt trăng: Tham vọng của châu Âu qua hai dự án MONA LUNA và Argonaut

    Bảo đảm sự độc lập của châu Âu trong các chương trình thám hiểm Mặt Trăng là một thách thức chiến lược lớn đối với ngành không gian của châu lục này. Chính là nhắm đến mục tiêu đó mà công ty Venturi Space của Monaco đang phát triển MONA LUNA, một xe tự hành Mặt Trăng 100% của châu Âu. Một nguyên mẫu của chiếc xe tự hành này đã được giới thiệu tại Triển lãm Hàng không và Không gian Le Bourget, ngoại ô Paris vào ngày 16/06/2025. Được thành lập vào năm 2000 tại Monaco, kể từ năm 2021, Venturi Space đã mở rộng kỹ năng của họ sang lĩnh vực thám hiểm không gian qua việc thiết kế các xe tự hành sẽ hoạt động trên Mặt Trăng và sau này trên Sao Hỏa. Là đối tác chiến lược của công ty Bắc Mỹ Venturi Astrolab, công ty Monaco này phát triển các công nghệ quan trọng - bánh xe có tính năng biến dạng rất lớn và pin hiệu suất cao - cho các xe tự hành Mặt Trăng FLIP và FLEX. FLIP sẽ được triển khai trên Mặt Trăng vào tháng 02/2026. FLEX được NASA lựa chọn trước cho các sứ mệnh có người lái trong chương trình Artemis.  MONA LUNA, xe tự hành Mặt trăng 100% châu Âu MONA LUNA, xe tự hành Mặt Trăng hoàn toàn châu Âu, được thiết kế để đáp ứng tham vọng của Cơ quan Không gian Châu Âu ESA và Trung tâm Quốc gia Nghiên cứu Không gian CNES của Pháp, sẽ được lắp ráp tại các cơ sở của Venturi Space Pháp ở Toulouse.   Trả lời RFI Việt ngữ tại Triển lãm Hàng không và Không gian Le Bourget, ông David Olsommer, đồng sáng lập viên công ty Venturi Space, cho biết: “Đây là một xe tự hành nặng 750kg mà chúng tôi đang phát triển 100% tại châu Âu, với sự hợp tác, đặc biệt là của Cơ quan Không gian châu Âu, và dự kiến sẽ được sử dụng trên Mặt Trăng, không phải để vận chuyển phi hành gia, mà để vận chuyển thiết bị cho các sứ mệnh tương lai, thậm chí bắt đầu từ những năm 2030. Hiện giờ đây chỉ là một nguyên mẫu, nhưng một số công nghệ đã được hoàn thiện, đặc biệt là pin, được sản xuất tại Monaco, bánh xe, được sản xuất tại Thụy Sĩ. Các bộ phận khác, hệ thống điện tử sẽ được sản xuất, chủ yếu tại Pháp, tại cơ sở của Venturi Space ở Toulouse.  Thách thức lớn nhất là đối với xe tự hành trên Mặt Trăng đó là Mặt Trăng không có bầu khí quyển. Đêm ở đây cực kỳ lạnh, kéo dài không phải 12 tiếng, mà là 14 ngày. Một ngày trên Mặt Trăng tương đương với 28 ngày trên Trái Đất. Nhiệt độ thực sự xuống mức cực thấp, khoảng -200°C, có nghĩa là hầu hết các công nghệ được sử dụng trên Trái Đất không thể được sử dụng trên Mặt Trăng. Vì vậy, các công nghệ đặc biệt đã được phát triển để chịu được những môi trường này. Mặt Trăng còn có một đặc điểm nữa là do không có tầng khí quyển nên mức độ bức xạ cực kỳ cao, cao hơn rất nhiều so với Trái Đất. Các thiết bị cũng phải chịu được mức độ bức xạ cao như thế.” Theo lời ông Olsommer, xe tự hành MONA LUNA được điều khiển từ xa. Có một số hệ thống liên lạc với Trái Đất, và cả hệ thống camera quan sát để nhận diện chướng ngại vật, một hệ thống nhận dạng địa hình để xe tự hành có thể tự định hướng trên Mặt Trăng. Dự án MONA LUNA được xây dựng dựa trên kinh nghiệm tích lũy từ các xe tự hành FLIP và FLEX, được phát triển cùng với đối tác chiến lược của Mỹ là Venturi Astrolab, Inc. Ông Olsommer giải thích: “Sứ mệnh FLIP, dự kiến phóng vào tháng 2 năm 2026, đang được thực hiện với sự hợp tác của một sứ mệnh NASA. Công ty Venturi Astrolab, có trụ sở tại California, Hoa Kỳ, đã ký hợp đồng với NASA để đưa xe tự hành này lên Mặt Trăng cùng với các tên lửa SpaceX, Falcon Heavy và tàu đổ bộ Astrobotic Griffin.  Nhiệm vụ của xe tự hành này sẽ là thử nghiệm các công nghệ đã được phát triển để hoạt động trên Mặt Trăng. Khi tôi nói về công nghệ, tôi đang nói đến công nghệ tấm pin mặt trời, hệ thống dẫn đường, định vị, chuyển động và lực kéo điện với động cơ, bánh xe và pin. Tôi cũng đang xác minh rằng tất cả các công nghệ chủ chốt đều có thể tồn tại trong môi trường Mặt Trăng. Điều này sẽ hỗ trợ các sứ mệnh trong tương lai bằng cách sử dụng các công nghệ đã được chứng minh trên các nền tảng tiên tiến hơn. Vì vậy, nhiệm vụ đầu tiên vào năm tới sẽ đặt mục tiêu "sống sót" qua một hoặc hai đêm trên Mặt Trăng. Ít nhất đó là những gì chúng tôi mong đợi, và nếu kéo dài hơn được thì càng tốt. Tuy nhiên, các sứ mệnh trong tương lai sẽ phải hoạt động được trong một thời gian không còn được tính bằng đêm nữa, mà bằng tháng hoặc năm. “  MONA LUNA chủ yếu sẽ được sử dụng để vận chuyển các thiết bị, nhưng trong trường hợp khẩn cấp có thể chở theo một phi hành gia đang gặp khó khăn, theo kịch bản được Cơ quan Không gian châu Âu và Trung  tâm Quốc gia Nghiên cứu Không gian của Pháp dự trù trong các nghiên cứu về tính khả thi Hướng tới Sao Hỏa Không chỉ trên Mặt Trăng, công ty Venturi Space còn đang phát triển xe tự hành trên Sao Hỏa, một hành tinh cũng có môi trường rất khắc nghiệt. Xe tự hành Sao Hỏa khác gì so với xe tự hành Mặt Trăng, ông Olsommer cho biết:  “Trái ngược với những gì người ta thường nghĩ, môi trường Sao Hỏa không khắc nghiệt như môi trường xung quanh. Điều này có hai lý do. Thứ nhất là về nhiệt độ. Nhiệt độ trên Sao Hỏa dễ chịu hơn nhiều, ít khắc nghiệt hơn nhiều so với nhiệt độ trên Mặt Trăng. Và thứ hai, trên Sao Hỏa, có một bầu khí quyển CO2 nhẹ cho phép làm mát tất cả các bộ phận của xe tự hành dễ dàng hơn một chút.  Có thể có những lựa chọn ít khắc nghiệt hơn về mặt vật liệu, chính là bởi vì nhiệt độ trên Sao Hỏa không quá khắc nghiệt. Nhưng mặt khác, hành trình đến Sao Hỏa dài hơn nhiều và về mặt lý thuyết, chi phí sẽ tốn kém hơn nhiều. Điều này có nghĩa là hành trình đến Sao Hỏa đòi hỏi một xe tự hành thậm chí còn đáng tin cậy hơn cả xe tự hành sẽ đến Mặt Trăng. Dự án xe tự hành lên Mặt Trăng là một dự án hoàn toàn do châu Âu thực hiện. Còn dự án xe tự hành lên Sao Hỏa sẽ là một dự án hợp tác với các công ty Mỹ. Hiện chưa có hợp đồng nào được ký kết, không giống như đối với các xe tự hành sẽ đến Mặt Trăng, vốn đã có các hợp đồng cụ thể được ký kết. Nhưng những gì đang được chuẩn bị là cho thời kỳ trước những năm 2030, tức là trong tương lai gần, điều này sẽ phụ thuộc vào sự phát triển của một số tên lửa đẩy của Mỹ, mà tôi chưa thể tiết lộ tên, dự kiến sẽ bay lên Sao Hỏa trong những năm tới.” Ngoài MONA LUNA, còn có một xe tự hành Mặt Trăng khác coi như 100% châu Âu, đó là  xe tự hành cở rất nhỏ mang tên Tenacious. Được phát triển bởi ispace-Europe, công ty con tại Luxembourg của công ty tư nhân Nhật Bản ispace, xe tự hành này chỉ cao khoảng 26 cm, dài hơn 50 cm và chỉ nặng 5 kg. Việc phát triển Tenacious nhận được tài trợ từ Cơ quan Không gian Luxembourg thông qua hợp đồng với Cơ quan Không gian Châu Âu. Theo dự kiến, sau khi được triển khai từ tàu đổ bộ, Tenacious sẽ sử dụng camera HD phía trước để ghi lại hình ảnh bề mặt Mặt Trăng. Xe tự hành sẽ liên lạc với các trạm mặt đất thông qua tàu đổ bộ. Nhiệm vụ của Tenacious bao gồm thu thập bụi Mặt Trăng, một phần của hợp đồng đã ký với NASA vào năm 2020, một sáng kiến nhằm chứng minh tính khả thi của việc khai thác tài nguyên Mặt Trăng.  Tenacious đã được giao nhiệm vụ nghiên cứu lớp đất Mặt Trăng trong khuôn khổ chuyến bay của phi thuyền Resilience của công ty Nhật Bản trong tháng 6/2025. Nhưng chuyến bay đã thất bại, vì sau khi đáp thành công xuống Mặt Trăng, Resilience đã mất liên lạc với Trái Đất và như vậy là xe tự hành Tenacious đã không thể thực hiện nhiệm vụ được giao. Argonaut, tàu đổ bộ Mặt Trăng của châu Âu Trong lĩnh vực thám hiểm không gian, châu Âu cũng có một công ty lớn, đó là Thales Alenia Space, liên doanh giữa tập đoàn công nghiệp quốc phòng Pháp Thales (67%) và tập đoàn công nghiệp quốc phòng Ý Leonardo (33%). Thales Alenia Space đã ký hợp đồng trị giá 862 triệu euro với Cơ quan Không gian Châu Âu (ESA) để thiết kế và phát triển Bộ phận H

    10 min
  2. 09/10/2025

    Robot và AI, hai yếu tố giúp tăng cường sức mạnh quân sự của Pháp

    Trong bối cảnh bất ổn của thế giới ngày nay, với nguy cơ xung đột quân sự leo thang và nhất là trước mối đe dọa từ Nga, Pháp đang nỗ lực tăng cường khả năng phòng thủ, trang bị cho quân đội những công nghệ tiên tiến, trong có có công nghệ robot kết hợp với trí tuệ nhân tạo.  Trí tuệ nhân tạo vẫn là một công nghệ tương đối mới, nhưng ứng dụng quân sự của nó đã trở thành hiện thực ở nhiều quốc gia. Quân đội Pháp cũng đang sử dụng công nghệ này, ví dụ như các xe bọc thép, bao gồm cả xe tăng Leclerc XLR, mới được tăng cường trí tuệ nhân tạo. Việc tích hợp công nghệ trí tuệ nhân tạo mang lại hiệu suất quan sát và phát hiện tốt hơn. Ngay cả trong điều kiện thời tiết khắc nghiệt, xe tăng vẫn có thể cung cấp hình ảnh chất lượng cao. Nói chung là robot được sử dụng đặc biệt cho mục đích giám sát, sửa chữa, hậu cần và cho bất kỳ nhiệm vụ lặp đi lặp lại và rủi ro cao nào khác. Trước đây, 2040 là năm được ấn định cho việc đưa các robot đó vào hoạt động trong quân đội Pháp, nhưng cuộc chiến Ukraina và những cuộc xung đột vũ trang khác đã làm thay đổi các ưu tiên quân sự. Bên cạnh việc đào tạo nhân sự, vũ khí cũng đang trở nên thông minh hơn và thích nghi hơn. Robot hóa hiện là trọng tâm của các chiến thuật quân sự. Thật ra thì robot sẽ không thay thế người lính, mà trở thành phương án dự phòng, đặc biệt là ở những khu vực dễ bị tấn công. Do đó, chính công nghệ này thích ứng với người lính, chứ không phải ngược lại. Gần đây, tướng Bruno Baratz, tư lệnh đặc trách Chương trình Chiến đấu Tương lai của Quân đội Pháp, đã công bố ý định triển khai robot sẵn sàng chiến đấu. Phát biểu trong một cuộc tập trận robot quân sự gần Paris, tướng Baratz cho biết: "Chúng tôi hy vọng sẽ có một hệ thống robot tiên tiến trong vòng ba năm tới, với những robot mặt đất đầu tiên sẵn sàng trang bị cho lực lượng của chúng tôi. Chính phủ Pháp có kế hoạch triển khai các hệ thống tiên tiến, có tính ứng dụng thực tế cho các đơn vị chiến đấu của chúng tôi trước năm 2040." Trong các cuộc thử nghiệm robot quân sự, các đơn vị không người lái, được trang bị chân, xích và bánh xe, đã di chuyển qua các chướng ngại vật và tránh các bẫy được thiết kế để mô phỏng điều kiện chiến trường. Quân đội Pháp có kế hoạch triển khai những robot này cho nhiều nhiệm vụ khác nhau, từ giám sát, sửa chữa từ xa, đến rà phá bom mìn. Tướng Tony Maffeis, giám đốc bộ phận kỹ thuật của lục quân (STAT), nhấn mạnh: "Giờ đây, chúng ta cần chứng minh rằng robot có thể hiệu quả hơn khi tiếp xúc gần với kẻ thù. Robot phải hỗ trợ chiến đấu, chứ không phải cản trở chiến đấu." Dự án Pendragon: Kết hợp trí tuệ nhân tạo với robot Triển lãm công nghệ Vivatech 2025 tại Paris đã là dịp để bộ Quân Lực Pháp giới thiệu với công chúng những ứng dụng của công nghệ trí tuệ nhân tạo trong lĩnh vực quốc phòng, chẳng hạn như dự án Pendragon.  Trả lời RFI Việt ngữ tại Triển lãm VIvatech 2025, ông Théo Pierre, một chuyên viên về trí tuệ nhân tạo của Cơ quan đặc trách trí tuệ nhân tạo quốc phòng ( MIAD ), trực thuộc bộ Quân Lực Pháp, cho biết: “Pendragon là dự án trí tuệ nhân tạo AI và robot do Cơ quan đặc trách trí tuệ nhân tạo quốc phòng và Bộ Tư lệnh Tác chiến Tương lai, tức là lục quân, thực hiện. Dự án này trước hết là nhằm thiết lập đơn vị robot chiến đấu đầu tiên tích hợp trí tuệ nhân tạo và sau đó là tập hợp các nền tảng robot trên mặt đất và nền tảng bay, bao gồm cả drone, giúp các nền tảng này tương tác với nhau để thực hiện nhiệm vụ do một chỉ huy quân sự đề ra. Nhiệm vụ này sẽ được diễn giải tự động bằng trí tuệ nhân tạo. Công nghệ trí tuệ nhân tạo cũng sẽ được sử dụng ở một cấp độ khác, thống nhất trong mỗi nền tảng, để thực hiện các nhiệm vụ như trinh sát, phát hiện bằng quang điện tử, mà còn cả bằng tần số vô tuyến, radar, v.v. Mục tiêu là có một đơn vị chỉ gồm robot, nhưng chúng được điều khiển bởi một chỉ huy quân sự đã được đào tạo cho việc này và sẽ có thể quyết định các hành động cần thực hiện.  Chúng tôi sử dụng các mô hình mà chúng tôi đã đào tạo và khai thác, đồng thời dựa vào các nhà sản xuất để sử dụng dữ liệu của họ. Ngay cả khi chúng được chỉ huy bởi một sĩ quan, những robot này có ít nhiều tự chủ. Mức độ tự chủ của robot cũng có thể do người điều khiển quyết định tùy thuộc vào nhiệm vụ và mức độ nguy hiểm dự kiến ​​của nhiệm vụ. Hiện giờ chúng tôi đang mở trung tâm Pendragon, để tập hợp tất cả các bên có liên quan và có hứng thú với dự án. Về mốc thời gian, đơn vị robot sẽ có buổi biểu diễn thử nghiệm đầu tiên vào mùa hè năm 2026."  Nói chung, theo ông Théo Pierre, trí tuệ nhân tạo AI đang ngày càng được sử dụng trong lĩnh vực quốc phòng của Pháp:  “Việc thành lập cơ quan MIAD chứng minh điều đó. Bây giờ, phải chuyển từ giai đoạn nghiên cứu và phát triển AI sang sản xuất. Điều đó có nghĩa là chúng tôi đang cố gắng đẩy nhanh quá trình tích hợp AI vào các hệ thống vũ khí nói chung. Một trong những mục tiêu của dự án Pengragon là tạo điều kiện thuận lợi cho việc chỉ huy và kiểm soát hệ thống. Chính xác hơn là để giảm tải cho chỉ huy quân đội, để viên chỉ huy này sau đó sẽ có thể vận hành nhiều drone cùng một lúc, chứ không chỉ một hoặc hai drone như hiện nay." Theo hãng tin AFP, trong nhiều tuần vào tháng 5 vừa qua, lục quân Pháp đã tổ chức cuộc thi CoHoMa, một cuộc thi về sự hợp tác giữa người và máy, với sự tham gia của mười đội đến từ các ngành công nghiệp, phòng thí nghiệm nghiên cứu và trường kỹ thuật, thực hiện một nhiệm vụ chung: chứng minh khả năng của robot trong việc giữ vững vị trí trước kẻ thù. Tướng Tony Maffeis, giám đốc bộ phận kỹ thuật của lục quân (STAT), giải thích với AFP: Từ drone quan sát đến xe rà phá bom mìn, robot đã "rất hữu ích trong việc bảo vệ các đơn vị của chúng ta, nhưng giờ đây chúng ta cần chứng minh robot có thể tăng hiệu quả khi tiếp xúc với kẻ thù." AFP trích lời ông Baptiste Lepelletier, thuộc một nhóm quy tụ các trường Enac, Isae-Supaero và trung tâm nghiên cứu hàng không vũ trụ Onera của Pháp, cho biết, với cuộc thi này, "chúng tôi bước ra khỏi phòng thí nghiệm và giải quyết một nhiệm vụ thực tế".  Robot mặt đất không thể thiếu sự phối hợp của các drone. Lục quân Pháp đã nghiên cứu vấn đề này từ năm 2021 với dự án Vulcain và bộ phận robot thử nghiệm, đã trình diễn một cuộc tấn công được hỗ trợ bởi một nền tảng robot được trang bị súng máy 12,7 mm. Không cần chờ đến mục tiêu năm 2040, một số thành tựu từ hai phiên bản trước của cuộc thi CoHoMa đã được tích hợp vào thiết bị. Marc Dehondt, đứng đầu bộ phận đổi mới hệ thống mặt đất của tập đoàn Thales, cho biết họ đã "tích hợp một số thành tựu vào hệ thống chiến đấu Scorpion", hệ thống kết nối các xe bọc thép thế hệ tiếp theo. Nhưng trước khi tham gia chiến đấu, những ứng dụng đầu tiên sẽ là trong hậu cần, với các đoàn xe vận tải chạy bằng drone hoặc robot chở hàng hóa thay cho binh lính. SERAA: Nhận dạng bằng trí tuệ nhân tạo Cũng tại triển lãm Vivatech 2025, bộ Quân Lực Pháp đã giới thiệu dự án SERAA, một hệ thống nhận dạng bằng trí tuệ nhân tạo. Đây là hệ thống đầu tiên được sử dụng để nhận dạng và xác định những đặc tính của các xe tăng đối phương. Trả lời RFI Việt ngữ, ông Frédéric Ponsavady, trưởng dự án, cho biết: “Đây là một dự án trong số rất nhiều dự án của bộ Quân Lực, tương tự như những gì chúng ta thấy với hệ thống nhận dạng khuôn mặt, ngoại trừ việc nó thực sự được áp dụng cho bất kỳ loại phương tiện chiến đấu nào. Vì vậy, dù là trên bộ, trên biển, hay thậm chí trên không, nó đều có thể được điều chỉnh. Đây là những hệ thống đồng thời tập trung, phi tập trung, tự vận hành, tự động hóa, v.v. Và nó dựa vào trí tuệ nhân tạo. Như với bất kỳ hệ thống thông minh nào, nó phả

    9 min
  3. 08/13/2025

    Công nghệ : Dùng trí tuệ nhân tạo để phát hiện hàng giả

    Nạn hàng giả không phải là mới, nhưng tác động kinh tế của tệ nạn rất lớn, chiếm khoảng 2,5% thương mại toàn cầu và gây thiệt hại mỗi năm hàng tỷ đô la cho các doanh nghiệp trên thế giới. Hàng giả không chỉ gây hại cho doanh nghiệp mà còn ảnh hưởng đến người tiêu dùng, vì họ mua phải những sản phẩm kém chất lượng, thậm chí nguy hiểm. Chỉ riêng tại Pháp, 37% người tiêu dùng đã vô tình mua phải hàng giả. Vrai Ai: Trợ thủ của Lacoste Nhưng làm sao phân biệt được sự khác biệt giữa một chiếc áo phông Lacoste và một chiếc áo phông giả có logo cá sấu nổi tiếng? Thật sự thì với mức độ tinh xảo ngày càng cao của những cơ sở sản xuất hàng giả, mắt thường thật khó mà phân biệt, trừ phi chúng ta là một chuyên viên sành sõi. Việc phân biệt hàng thật với hàng giả trong ngành dược phẩm lại càng quan trọng vì nó liên quan đến sức khỏe, đến mạng sống con người. Rất may là hiện nay trí tuệ nhân tạo (AI) đang được sử dụng ngày càng nhiều trong việc phát hiện hàng giả, chẳng hạn như ứng dụng trí tuệ nhân tạo do công ty khởi nghiệp Vrai AI của Pháp phát triển. Ứng dụng này, có thể nhận diện hàng giả dựa trên phân tích ảnh, đã được giới thiệu tại triển lãm công nghệ Vivatech 2025 (17-20/06/2025). Vrai AI hiện đang cộng tác với hãng Lacoste, thương hiệu mà các sản phẩm, nhất là áo phông, rất thường bị làm giả. Có những chiếc áo phông Lacoste nhìn qua là biết ngay là hàng giả, nhưng có những chiếc áo được làm giả một cách tinh vi hơn, mắt thường không thể phát hiện được, mà phải cần đến ứng dụng Vrai AI, với độ chính xác gần như tuyệt đối, 99,7%. Độ chính xác này không chỉ giúp thương hiệu Lacoste bảo vệ hình ảnh và sản phẩm của họ, mà còn tiết kiệm đáng kể chi phí liên quan đến gian lận khi trả hàng (mua hàng thật nhưng gởi trả hàng giả). Nhân viên Lacoste sử dụng ứng dụng Vrai AI để chụp ảnh các sản phẩm được trả lại và có thể xác định ngay đó là hàng giả hay thật.  Trả lời RFI Việt ngữ tại Vivatech, ông Hugo Garcia-Cotte, đồng sáng lập công ty khởi nghiệp Vrai AI, cho biết: “Chúng tôi có một hệ thống trí tuệ nhân tạo được huấn luyện trên hàng trăm nghìn bức ảnh sản phẩm thật và siêu giả, từ đó ứng dụng có thể suy ra những lỗi vi mô do kẻ làm giả gây ra so với những lỗi vi mô trên sản phẩm thật. Vì vậy, chúng tôi có thể xác định một sản phẩm thật, như quần áo, thuốc chống sốt rét, nước hoa, cả thẻ căn cước. Ứng dụng Vrai AI có thể phát hiện hàng giả chỉ từ một bức ảnh chụp bằng điện thoại thông minh. Chúng tôi thậm chí đã thử nghiệm ứng dụng này trên những tờ tiền euro giả đẹp nhất và đã có thể phát hiện những tờ tiền giả đẹp nhất từ ​​ảnh chụp bằng điện thoại thông minh. Đối với mỗi loại sản phẩm, chúng tôi huấn luyện ứng dụng trí tuệ nhân tạo trên loại sản phẩm đó bằng cách sử dụng một số lượng sản phẩm thật và sau đó chúng tôi suy ra rằng những sản phẩm không giống hàng thật là hàng giả. Ứng dụng của chúng tôi đã được huấn luyện trên mọi thứ được in hoặc thêu. Nghĩa là có một số loại lỗi là lỗi in ấn điển hình. Ví dụ, nếu màu sắc không chính xác thì đó có thể là lỗi in trên sản phẩm thật. Nhưng cũng có những lỗi khác chỉ có thể đến từ kẻ làm giả. Ví dụ, nếu phông chữ không đúng thì chắc chắn đó là hàng giả. Và đó là những gì Vrai IA đã tự học được từ hàng ngàn ví dụ mà chúng tôi cung cấp - chính xác là 180.000 ví dụ - nó có thể xác định được loại lỗi nào được chấp nhận và loại lỗi nào là bằng chứng của hàng giả.”  Ngoài việc cộng tác với hãng Lacoste, công ty Vrai AI hiện chủ chủ yếu giúp các nước ở châu Phi phát hiện các dược phẩm làm giả, theo lời ông Hugo Garcia-Cotte: “Điều mà hầu hết mọi người không nhận ra là nạn làm hàng giả thực sự rất nghiêm trọng. Năm ngoái, cứ 10 người trên thế giới thì có 7 người vô tình mua phải hàng giả. Tôi không nói đến những người mua đồng hồ giả cho vui, mà nói đến thuốc giả giết chết 100 người mỗi giờ trên thế giới, một con số quá lớn. Ngay cả  phương Tây cũng gặp tình trạng này, ví dụ như ở Hoa Kỳ, 11,4% thuốc là thuốc giả. Vì vậy, đối với thuốc giả, chúng tôi chụp ảnh hộp hoặc vỉ thuốc, mục đích là để có thể làm việc với hải quan.  Ví dụ, chúng tôi có một thỏa thuận với Cameroun để giúp phát hiện thuốc giả nhập khẩu, bởi vì, chẳng hạn như theo Tổ chức Y tế Thế giới WHO, ở Nigeria có đến 64% thuốc chống sốt rét là thuốc giả, mà tại cửa khẩu, các nhân viên hải quan không có cách nào biết được. Vì vậy, công cụ này có thể cứu sống hàng ngàn người. Hiện giờ ứng dụng chúng tôi đang được triển khai cho các chính phủ ở Cameroun, Eswatini, Senegal, và nhiều nước khác. Vrai AI cũng đang sử dụng trên các loại thuốc chống ung thư được bán ở Trung Quốc, nơi chúng tôi đã cứu sống ít nhất 6.000 người nhờ việc giảm đáng kể tình trạng làm giả loại thuốc này.  Chắc chắn là các quan chức hải quan ở nhiều quốc gia sẽ quan tâm đến loại ứng dụng này. Đây là một vấn đề sức khỏe cộng đồng. Hàng giả giết chết nhiều người hơn cả bệnh sốt rét. Trong những tuần tới, hoặc ít nhất là trong vài tháng tới, ứng dụng VRAI AI sẽ được trang bị, ít nhất là cho Senegal, để phát hiện các loại thuốc giả có thể gây tử vong ở trẻ sơ sinh. Và đó thực sự là mục tiêu của chúng tôi. Đúng là chúng tôi có thể tập trung vào việc phát hiện túi xách hoặc đồng hồ giả, thu được nhiều tiền hơn, nhưng mục tiêu của chúng tôi thực sự là cứu sống người bằng ứng dụng  đó. Vì vậy, đối tượng số một của chúng tôi là các nước đang phát triển, giúp hải quan các nước đó phát hiện thuốc giả, mặc dù đối với hải quan Pháp, chúng tôi cũng có thể giúp phát hiện rất nhiều sản phẩm khác nữa, bất cứ thứ gì miễn là nó được in hoặc được thêu. Không có vấn đề gì.”  Navee: Chống hàng giả trực tuyến Một công ty khởi nghiệp khác của Pháp cũng đang cung cấp một giải pháp sáng tạo dựa trên trí tuệ nhân tạo, đó là Navee. Navee vừa được Hiệp hội Nhãn hiệu Quốc tế (INTA) bình chọn là giải pháp sáng tạo nhất trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ, ghi nhận tất cả những nỗ lực mà công ty khởi nghiệp của Pháp đã thực hiện trong hơn bốn năm qua. Công nghệ dựa trên AI của Navee để chống hàng giả trực tuyến đã xử lý hơn 50 triệu hình ảnh và giúp khoảng 100 thương hiệu toàn cầu tiết kiệm hơn 500 triệu đô la.  Matteo Amerio, đồng sáng lập Navee (cùng với Matthieu Daviet), cho biết hành trình Navee thực sự chỉ bắt đầu khi anh học tại Stanford, nơi anh cùng cộng sự viên tìm chỗ ở và phát hiện ra rằng các danh sách trực tuyến thực sự tràn ngập hàng giả. Sau đó, cặp bài trùng này quyết định sử dụng công nghệ thị giác máy tính mà họ đang phát triển trong một công ty khởi nghiệp do họ thành lập để phát hiện các sản phẩm gian lận trực tuyến. Họ đã mất hơn bốn năm để phát triển công nghệ này, tự động hóa việc tìm kiếm và phân tích các danh sách gian lận trên toàn bộ mạng Internet. Trí tuệ nhân tạo (AI) của Navee giải mã các yếu tố hình ảnh, đồ họa và văn bản cụ thể của từng khách hàng trên internet một cách cực kỳ chính xác, giúp nhanh chóng định vị và kiểm soát nội dung trực tuyến, cũng như tự động xóa nội dung, thậm chí xác định các mạng lưới ẩn sau nội dung đó. Để luôn dẫn đầu về công nghệ, công ty khởi nghiệp này cũng đã hợp tác với các đối tác chủ chốt trong ngành như Liên minh các nhà sản xuất bảo vệ sở hữu trí tuệ quốc tế (UNIFAB) và Google. Navee cũng vừa gia nhập ủy ban chống hàng giả của INTA, một hiệp hội toàn cầu quy tụ hơn 31.000 chủ sở hữu thương hiệu và chuyên gia về các dịch vụ liên quan đến thương hiệu và sở hữu trí tuệ. Amazon cũng nhập cuộc Các công ty thương mại điện tử lớn cũng đã triển khai những công cụ mới để chống tệ nạn hàng giả, đi đầu là Amazon. Theo một nghiên cứu năm 2023 của Văn phòng Sở hữu Trí tuệ Liên Hiệp Châu Âu (EUIPO), hàng gi

    10 min
  4. 07/22/2025

    50 năm ESA: Vệ tinh Sentinel-1, trợ thủ đắc lực giúp Việt Nam đối phó với lũ

    Từ nhiều năm nay, vệ tinh Sentinel-1 của Cơ quan Vũ trụ châu Âu (ESA) đã hỗ trợ Việt Nam trong việc đối phó hiệu quả với lũ lụt và nhiều thảm họa lớn khác. Nhân dịp kỉ niệm 50 năm thành lập Cơ quan Vũ trụ châu Âu, RFI tiếng Việt đặt câu hỏi với chuyên gia về vệ tinh quan sát Trái đất, Philippe Bally, về loại vệ tinh đặc biệt này. Chuyên gia Philippe Bally làm việc tại trung tâm quan sát Trái đất ESRIN, trực thuộc Cơ quan vũ trụ châu Âu ESA. Ông cũng là đại diện của Cơ quan Vũ trụ Châu Âu tại Hội đồng của Hiến chương Không gian Quốc tế và các Thảm họa Lớn (International Charter Space and Major Disasters / Charte Espace et Catastrophes Majeures). Hiến chương Không gian Quốc tế và các Thảm họa Lớn, thành lập từ năm 1999, là cơ chế điều phối các hợp tác quốc tế nhằm cung cấp miễn phí các bản đồ hình ảnh vệ tinh. RFI : Xin ông giải thích khái quát về phương thức hoạt động của vệ tinh Sentinel-1 và điều gì khiến vệ tinh này khác biệt so với các vệ tinh khác ? Chuyên gia Philippe Bally : Cơ quan Vũ trụ châu Âu (ESA) hợp tác với 16 cơ quan vũ trụ khác trên toàn thế giới để vận hành một hệ thống ứng phó với các thảm họa thiên nhiên phục vụ mục tiêu nhân đạo. Hệ thống này giám sát toàn bộ các khu vực trên hành tinh và kích hoạt việc lập trình hoạt động của các vệ tinh ở chế độ khẩn cấp để cung cấp hình ảnh miễn phí, bất kể với quốc gia nào. Sông Mêkông, cũng như Việt Nam nói chung, đều nằm trong vùng phủ sóng của hệ thống này. Vệ tinh Sentinel-1 đặc biệt vì hai lý do. Thứ nhất, đây là một vệ tinh radar. Nhiều vệ tinh khác có thể ví như máy ảnh, chụp hình dựa vào bức xạ hay ánh sáng mặt trời, tức là các hệ thống tiếp nhận ánh sáng một cách thụ động. Nhưng Sentinel-1 có cảm biến radar, nghĩa là vệ tinh này tự phát ra sóng ở băng tần C và tiếp nhận phản xạ từ các vật thể trên Trái Đất. Có nghĩa đây là một hệ thống chủ động. Nếu so sánh với máy ảnh, thì nó giống như chụp ảnh ban đêm bằng đèn flash – tức một hệ thống chủ động. Đây là điểm độc đáo của vệ tinh này. Thứ hai, Sentinel-1 có khả năng bao phủ toàn cầu một cách hệ thống và liên tục chụp ảnh mà không cần người dùng yêu cầu. Vệ tinh hoạt động theo chế độ thu nhận dữ liệu định kỳ. Ví dụ, vệ tinh bay qua Paris 6 ngày một lần. Như vậy từ khi đi vào hoạt động đến cuối vòng đời của mìnhn, cứ mỗi 6 ngày vệ tinh lại cung cấp một ảnh chụp Paris mới và ảnh được cung cấp miễn phí. Hoạt động này tạo ra một hệ thống thu thập dữ liệu khổng lồ và liên tục. Đây là một lợi thế lớn, vì phần lớn người dùng dữ liệu vệ tinh đều cần được tiếp cận liên tục và ổn định với dữ liệu, chứ không phải chỉ là vài hình ảnh rời rạc. Vì sử dụng radar chủ động nên « nhìn » được cả vào lúc ban đêm, và vì hoạt động liên tục nên vệ tinh thường xuyên cung cấp hình ảnh về mọi khu vực. Sentinel-1 là vệ tinh radar duy nhất cung cấp dữ liệu toàn cầu thường xuyên và miễn phí. RFI : Vệ tinh Sentinel-1 cung cấp loại dữ liệu nào trong bối cảnh thiên tai như lũ lụt ? Sentinel-1 đã đóng vai trò gì trong việc theo dõi lũ lụt sông Mêkông tại Việt Nam ? Những thông tin cụ thể nào đã được rút ra từ ảnh vệ tinh ? Chuyên gia Philippe Bally : Radar vệ tinh rất nhạy cảm với sự hiện diện của nước, như sông, hồ, vùng bị ngập hoặc cả ruộng lúa nước. Khi chụp ảnh định kỳ và so sánh các ảnh để phát hiện thay đổi, ta có thể thấy tín hiệu radar giảm mạnh khi một bề mặt bị ngập nước, vì radar phản xạ giống như ánh sáng với gương. Trong trường hợp đất ngập nước, tín hiệu không quay lại vệ tinh, hệ quả là ảnh trở nên rất tối. Chính nhờ đó, ta có thể lập được bản đồ phạm vi ngập nước, gọi theo thuật ngữ chuyên môn là « dấu vết quan sát lũ lụt » (traces observées d’inondation), được cập nhật từ 3 đến 6 ngày một lần. Các bản đồ này giúp theo dõi phạm vi và sự biến đổi của các vùng bị ngập, dĩ nhiên phải được bổ sung thêm với các nguồn dữ liệu khác. Người dùng có thể kết hợp các bản đồ kiểu này với các dữ liệu khác, được thu thập với tần suất cao hơn, nhưng xét về độ phân giải thì lại không bằng. Về mặt không gian, Sentinel-1 cung cấp thông tin chi tiết với độ phân giải chính xác đến khoảng 20m x 20m mỗi pixel, có nghĩa là rất chính xác để theo dõi lũ lụt ở vùng đồng bằng. Còn về mặt thời gian, hệ thống phụ thuộc vào chu kỳ quay lại của vệ tinh – khi Sentinel-1A và Sentinel-1C hoạt động cùng nhau, có thể đạt chu kỳ 3 ngày một lần, cả trong giai đoạn vệ tinh bay lên cũng như hạ xuống. Các mô hình thủy văn của trung tâm khí tượng có thể mô phỏng với nhịp độ dày đặc xét về thời gian, nhưng về độ chính xác thì không bằng, vì dựa vào mô hình. Trong khi đó, Sentinel-1 cung cấp các quan sát trực tiếp thực tế. Do đó, điều mang lại lợi thế ở đây nằm ở chỗ kết hợp dữ liệu vệ tinh với mô hình thủy văn, với lợi thế liên tục về thời gian của mô hình và lợi thế về độ chính xác cao của ảnh vệ tinh. RFI : Trong việc giám sát bằng vệ tinh các khu vực có rủi ro cao như lũ lụt sông Mêkông ở Việt Nam, đâu là những cách tân được kỳ vọng trong tương lai ? Chuyên gia Philippe Bally: Những đổi mới được kỳ vọng trong công nghệ không gian đối với rủi ro thiên tai là phương pháp tích hợp thường được gọi là « virtual constellation », tạm dịch là « kết nối các vệ tinh » (hay « chòm sao ảo »). Đây là các hệ thống hoạt động với số lượng lớn cảm biến rất khác nhau (bao gồm cảm biến quang học lẫn cảm biến radar), nhưng được kết nối một cách thống nhất ngay cả khi chúng thuộc về các tổ chức riêng biệt. Cơ chế « Hiến chương quốc tế / International Charter », tên đầy đủ là International Charter Space and Major Disasters/ Hiến chương quốc tế về Không gian và những thảm họa lớn) cho phép kết hợp các cảm biến đến từ Hàn Quốc, Hoa Kỳ, Nhật Bản, Nga, Achentina, châu Âu... và chúng tôi đã thống nhất về cách thông báo và cung cấp dữ liệu, cũng như kết hợp các dữ liệu này với « các nền tảng đám mây » (plateformes cloud) – tức các nền tảng trực tuyến cho phép xem và phân tích ảnh một cách nhanh chóng, bất kể nguồn gốc ảnh hay loại cảm biến nào. Chúng ta đang thực sự tiến tới những hệ thống đa cảm biến không đồng nhất, nhưng có thể vận hành rất nhanh và rất nhịp nhàng. Các hệ thống ứng phó thiên tai toàn cầu như Copernicus EMS (Emergency Mapping System) ở châu Âu hoặc cơ chế Hiến chương quốc tế về các thảm họa lớn đều sử dụng nguyên tắc gọi là « kết nối các vệ tinh » (chòm sao ảo) vì mục tiêu chung như vậy. Điều này có nghĩa là chúng tôi vận hành các vệ tinh thuộc nhiều cơ quan khác nhau theo một cách thống nhất, với một cách thu thập dữ liệu duy nhất, xây dựng hình ảnh và chuyển đổi dữ liệu thành thông tin theo cách thức thống nhất. RFI : Dữ liệu vệ tinh đã được các cơ quan chức năng tại Việt Nam sử dụng như thế nào ? Chuyên gia Philippe Bally : Liên quan đến Việt Nam, kể từ năm 2015, đã có tổng cộng 10 lần kích hoạt dịch vụ bản đồ vệ tinh bởi UNOSAT – Trung tâm bản đồ vệ tinh của Liên Hiệp Quốc, được đặt tại trụ sở của UNITAR (United Nations Institute for Training and Research), một cơ quan khác của Liên Hiệp Quốc, ở Genève, Thụy Sĩ, và một trung tâm khác tại Thái Lan. Trong số đó, 6 lần được kích hoạt trên cơ sở cơ chế Hiến chương quốc tế về không gian và các thảm họa lớn, mà Cơ quan Vũ trụ Châu Âu ESA cùng 16 cơ quan không gian khác tham gia. Mỗi lần như vậy, chúng tôi đều cung cấp bản đồ lũ dựa trên hình ảnh từ nhiều vệ tinh, đặc biệt là vệ tinh Sentinel-1. Các lần kích hoạt thường do Liên Hiệp Quốc yêu cầu, nhưng thường với sự phối hợp cùng các cơ quan sử dụng dữ liệu tại chỗ, ở cấp quốc gia hay địa phương, như bộ Tài nguyên và Môi trường Việt Nam (MONRE), nơi có cục Viễn thám Quốc gia – đơn vị trực tiếp tiếp nhận và phân tích dữ liệu ảnh vệ tinh. Một ví dụ tiêu biểu cho việc kích hoạt cơ chế này cụ thể là đợt bão Ya

    10 min
  5. 04/16/2025

    Y tế: Thế giới có thể đối phó với đại dịch mới?

    Sau hơn ba năm đàm phán, ngày 16/04/2025, các quốc gia thành viên Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đã nhất trí thông qua một văn bản lịch sử để chuẩn bị tốt hơn chống lại các đại dịch trong tương lai. Năm năm sau khi Covid-19 xuất hiện, cướp đi sinh mạng của hàng triệu người và tàn phá nền kinh tế toàn cầu, thế giới nay vẫn chưa được trang bị để đối mặt với một đại dịch khác, theo WHO và các chuyên gia.  Cách đây hơn 5 năm, ngày 11/01/2020, Trung Quốc công bố ca tử vong đầu tiên do một loại virus chưa xác định, mà sau này mới biết đó là virus corona gây bệnh Covid-19. Đại dịch Covid-19 đã nhanh chóng lan rộng và gây xáo trộn cả thế giới trong một thời gian dài. Gần 800 triệu người bị nhiễm, ít nhất 10 triệu người tử vong theo các số liệu chính thức. Trên thực tế, số nạn nhân có thể còn nhiều hơn nữa, theo ước tính của Tổ chức Y tế Thế giới ( WHO ).  Hơn năm năm sau, virus vẫn còn đó, nhưng lây lan “âm thầm” hơn, cơn bão đã được kiểm soát nhờ những nỗ lực ngăn chặn đại dịch. Nhưng chúng ta có đã rút ra được những bài học từ cuộc khủng hoảng hay chưa, và nếu có thì liệu những bài học đó có đủ để giúp nhân loại đối đầu với một đại dịch mới, mà theo tất cả các chuyên gia là gần như không thể tránh khỏi? Covid-19 không còn nguy hiểm?Hiện giờ đại dịch Covid-19 đã qua rồi và virus gây bệnh này không còn nguy hiểm như trước đây, thậm chí một số người nghĩ rằng Covid nay cũng giống như một loại cúm theo mùa. Nhưng trả lời phỏng vấn đài RFI ban Pháp ngữ ngày 13/01/2025, giáo sư Jean-Daniel Lelièvre, bác sĩ chuyên khoa truyền nhiễm tại bệnh viện Henri - Mondor, ngoại ô Paris và cũng là một chuyên viên bên cạnh Tổ chức Y tế Thế giới, lưu ý: “Hiện nay chúng ta được chuẩn bị tốt hơn so với cách đây 5 năm, khi mà dịch Covid đã bùng phát mà không ai ngờ đến. Khả năng miễn nhiễm của chúng ta đã được tăng cường do đã bị lây nhiễm Covid và do được chích ngừa, nhờ vậy mà chúng ta đã có thể kềm chế được con virus. Cho nên, dịch bệnh này không còn gây tác hại như cách đây 5 năm.  Nói đó là một bệnh nhẹ thì đúng mà cũng không đúng. Đúng là Covid nay là một bệnh nhẹ hơn so với ban đầu vì nhiều lý do mà chúng ta có thể nêu lên ở đây, nhưng đó vẫn là một căn bệnh có tỷ lệ tử vong cao. Vẫn còn những người phải nhập viện vì bị nhiễm Covid. Vẫn còn những người chết vì Covid, cho dù có thể không có liên hệ trực tiếp với Covid bằng trước đây. Covid ngày nay vẫn còn có thể làm trầm trọng hơn các bệnh nền, khiến ta phải nhập viện và có thể tử vong”. Như vậy, liệu thế giới có được chuẩn bị tốt hơn so với năm 2020? “Câu trả lời là có và không”, theo phát biểu gần đây của Tedros Adhanom Ghebreyesus, tổng giám đốc Tổ chức Y tế Thế giới, tổ chức đóng vai trò trung tâm trong cuộc chiến chống Covid-19. Ông nhấn mạnh: “Nếu đại dịch tiếp theo xảy ra ngày nay, thế giới vẫn sẽ phải đối mặt với một số điểm yếu và nguy cơ tương tự. Nhưng thế giới cũng đã học được nhiều bài học đau đớn từ đại dịch và thực hiện các bước quan trọng để tăng cường khả năng phòng chống". Maria Van Kerkhove, nhà dịch tễ học người Mỹ, đứng đầu bộ phận Phòng ngừa và Chuẩn bị cho Dịch bệnh và Đại dịch của WHO, cũng ghi nhận: “Nhiều thứ đã được cải thiện nhờ đại dịch cúm A năm 2009 ( dịch do virus H1N1 gây ra ), nhưng cũng nhờ Covid. Tuy nhiên, tôi nghĩ thế giới chưa sẵn sàng cho một đại dịch hoặc dịch bệnh hàng loạt khác". H5N1: Một đại dịch mới?Hơn nữa, không chỉ có virus gây bệnh Covid-19, mà một số virus khác cũng có thể đẩy nhân loại vào một đại dịch mới. Vào cuối tháng 12 năm ngoái, nhà chức trách Hoa Kỳ vừa xác nhận ca nhiễm cúm gia cầm nghiêm trọng ở nước này và bang California đã ban hành tình trạng khẩn cấp y tế. Cụ thể, vào tháng 12, một đứa trẻ ở Quận Marin, bang Califorrnia, đã bị sốt và nôn mửa sau khi uống sữa thô, chưa tiệt trùng. Thật ra đó là vì trước đó bệnh nhân đã tiếp xúc với những con chim bị bệnh và chết. Xét nghiệm cho thấy đứa bé có kết quả  dương tính với chủng virus cúm gia cầm H5N1, chủng virus mà các chuyên gia về bệnh truyền nhiễm lo ngại có thể trở thành nguồn gốc của đại dịch tiếp theo. Tại Hoa Kỳ, ít nhất 61 người đã nhiễm virus này, hầu hết là thông qua tiếp xúc trực tiếp với gia cầm hoặc bò.  Trước đó, vào tháng 11, một thiếu niên ở tỉnh British Columbia của Canada, sau khi đi khám vì bị viêm kết mạc và ho, đã được đưa vào bệnh viện ở Vancouver, phải thở bằng máy và phải nằm trong phòng điều trị tích cực trong nhiều tuần. Xét nghiệm cho thấy thiếu niên này có kết quả dương tính với chủng virus cúm gia cầm H5N1. Mỗi khi con người bị bệnh, virus lại có thêm cơ hội để lây lan từ người sang người. Một khi rào cản quan trọng này bị vượt qua, nó có thể gây ra một đại dịch. Không có bằng chứng nào cho thấy virus H5N1 hiện đã vượt qua ngưỡng quan trọng này. Có thể virus này sẽ không bao giờ vượt qua được cột mốc đó. Tuy nhiên, theo ông Matthew Binnicker, nhà vi sinh học đường hô hấp tại bang Minnesota, Hoa Kỳ, "dựa trên những gì chúng ta biết về các loại virus  này, xu hướng là không khả quan". Ông nói thêm là cần phải thực hiện "các biện pháp nghiêm ngặt". Nói chung, các chuyên gia khẳng định rằng chuẩn bị cho một tình huống tệ hại hơn không phải là quá sớm và cũng không phải là  phi lý. Trong bài trả lời phỏng vấn RFI, giáo sư Jean-Daniel Lelièvre cũng cảnh báo: “Một cách tự nhiên, virus đã nhanh chóng thích ứng. Chúng ta đã tìm ra phương cách để cố gắng kiểm soát nó. Nhưng không chỉ có virus gây bệnh Covid, mà trên thế giới ngày nay, một số virus khác cũng có thể đẩy nhân loại vào một đại dịch toàn cầu mới. Như tổng giám đốc Tổ chức Y tế Thế giới đã nói: Chúng ta có đã làm một cách tối ưu chưa? Có thể là chưa. Bởi vì người ta vẫn quên rằng, dĩ nhiên Covid 19 trước hết là một vấn đề y tế, nhưng đó cũng là tấm gương phản chiếu thực trạng của thế giới hiện nay: dân số vẫn tăng mạnh, trao đổi ngày càng nhiều giữa các quốc gia, những vấn đề liên quan đến việc kềm chế sự lây lan của dịch bệnh. Đại dịch bùng phát chính là do có sự tương tác giữa con người, càng có nhiều sự tương tác đó thì dịch bệnh càng dễ bùng phát. Như tổng giám đốc Tổ chức Y tế Thế giới đã nói: Chắc chắn chúng ta sẽ gặp một đại dịch toàn cầu mới.” Vac-xin: Bất bình đẳng Bắc - NamVào tháng 12/2021, các nước thành viên WHO đã quyết định xây dựng một thỏa thuận về phòng ngừa và ứng phó đại dịch để tránh những sai lầm nghiêm trọng của Covid. Nhưng vẫn còn nhiều câu hỏi lớn, bao gồm việc chia sẻ dữ liệu về các tác nhân gây bệnh mới nổi và những lợi ích từ chúng, cụ thể là vac-xin, xét nghiệm và phương pháp điều trị cũng như giám sát đại dịch. Các nhà đàm phán đã đặt ra thời hạn tháng 5/2025 để đạt được sự đồng thuận. Ngoài ra, hơn 200 nhà khoa học từ hơn 50 quốc gia đã đánh giá dữ liệu về 1.652 tác nhân gây bệnh, chủ yếu là virus, để từ đó WHO lập danh sách khoảng 30 tác nhân gây bệnh có khả năng gây ra đại dịch trong tương lai, chẳng hạn như Covid-19, sốt Lassa và các loại virus Ebola, Zika và Marburg. Thế nhưng, nhóm chuyên gia độc lập về phòng ngừa và ứng phó với đại dịch của WHO tuyên bố thẳng: "Vào năm 2025, thế giới chưa sẵn sàng để chống lại mối đe dọa đại dịch mới". Lý do là vẫn tồn tại sự bất bình đẳng trên thế giới trong việc tiếp cận các  nguồn tài trợ và các công cụ để chống lại đại dịch, chẳng hạn như vac-xin. Trong bài trả lời phỏng vấn RFI, giáo sư Jean-Daniel Lelièvre chia sẽ ý kiến đó: “Chúng ta có thể thấy vấn đề đó đối với các loại vac-xin thông thường nhất. Vac-xin ngừa cúm A có thể được tiếp cận dễ dàng ở các nước phía Bắc, nhưng lại rất khó được tiếp cận ở các nước phía Nam. Những người làm việc trong lĩnh vực cung cấp vac-xin đều biết là có rất nhiều khó khăn trong việc đáp ứng nhu cầu về vac-xin cho châu Phi. Có thể lấy ví dụ về một đ

    9 min
  6. 12/04/2024

    Drone được trang bị ngày càng nhiều cho hải quân các nước

    Trong bối cảnh địa chính trị quốc tế căng thẳng, nhất là với cuộc chiến Ukraina, các drone nay chiếm một vị trí mang tính chiến lược đối với hải quân trên toàn thế giới. Điều này đã được thể hiện qua triển lãm quốc phòng quốc tế Euronaval vào đầu tháng 11 tại Villepinte, ngoại ô Paris, Pháp. Tại cuộc triển lãm 2 năm một lần này, đi đến đâu cũng thấy trưng bày các kiểu drone mới được sử dụng để tác chiến, giám sát biển và đáy đại dương.  Các nước phương Tây đang phải đối phó với các cuộc tấn công bằng drone của lực lượng Houthi ở Yemen được Iran trang bị vũ khí nhắm vào giao thông hàng hải ở Hồng Hải. Trong khi đó, Ukraina đã thành công tiêu diệt 1/3 Hạm đội Hắc Hải của Nga và buộc được hạm đội này rời khỏi Crimea. Vào đầu tháng 11, Kiev khẳng định họ đã thực hiện thành công cuộc tấn công đầu tiên bằng drone mang chất nổ vào các tàu của Nga ở Biển Caspi, cách biên giới Ukraina đến 1.500 km.  Trả lời hãng tin AFP ngày 07/11/2024 bên lề Euronaval, ông Emmanuel Chiva, tổng đại diện về vũ khí của bộ Quân lực Pháp, cho rằng từ những cuộc xung đột đó, có thể dự báo là drone sẽ được hải quân các nước “sử dụng ồ ạt”. Đô đốc Eric Chaperon, cố vấn quốc phòng của tập đoàn vũ khí Pháp Thales, nói với AFP: “Các drone phải được xem xét ở cả hai góc độ: khả năng tác chiến của drone và khả năng chống drone của kẻ địch”. Tập đoàn công nghệ cao của Pháp, hiện trang bị cho hải quân 50 nước trên thế giới, cung cấp cả hai khả năng đó. Một trong những cải tiến là vũ khí điện từ "có khả năng đốt cháy các thiết bị điện tử của drone". Đô đốc Eric Chaperon giải thích: "Các drone nằm trong tầm hoạt động của vũ khí sẽ rơi chỉ trong một giây."  Tập đoàn Pháp cũng đẩy mạnh phát triển một công nghệ trí tuệ nhân tạo "tiết kiệm", có thể được trang bị trên các drone cũng như các giải pháp kết nối và tương tác, đã được thử nghiệm trong cuộc tập trận ở Bồ Đào Nha vào tháng 9 với một số nước thành viên Liên Hiệp Châu Âu. Là một trong những người tham gia cuộc tập trận này, ông Nicolas Kuhl của tập đoàn Thales nói với AFP: “Khoảng 60 drone đã được triển khai trên không, trên mặt nước và dưới biển để thực hiện đồng thời các nhiệm vụ tác chiến dưới nước, rà phá bom mìn và giám sát”.  Về phần mình, tập đoàn Naval Group đang phát triển loại drone dưới nước với “khả năng hoạt động lâu dài lên đến vài tuần” và “có khả năng tự ra quyết định rất cao”, theo giải thích của ông Pierre-Antoine Fliche, đứng đầu nhóm đặc trách drone của Naval Group, với AFP: “Thay vì lập trình trước một số nhiệm vụ, chúng tôi sẽ đưa ra mệnh lệnh, chẳng hạn như đến đó, chụp ảnh và quay lại nếu ảnh chụp rõ, luôn kín đáo, quyết liệt”. Pierre-Eric Pommellet, chủ nhân Naval Group, nhấn mạnh với AFP: “Các drone sẽ không bao giờ thay thế các tàu chiến có thủy thủ đoàn, nhưng sẽ giúp cho những tàu này có một năng lực rộng hơn”.  Tập đoàn chế tạo máy bay châu Âu Airbus thì chú trọng đến tính bổ sung cho các sản phẩm của họ. Bruno Even, giám đốc điều hành của Airbus Helicopters, nói với AFP: “Yếu tố mới mà chúng tôi thấy cả trên biển và trên đất liền là tính chất bổ sung giữa drone và trực thăng”.  VSR 700 của Airbus là một máy bay trực thăng “không người lái” nhỏ, có thể hoạt động từ một con tàu và có thể bay tới 8 giờ so với 2 giờ đối với trực thăng thông thường. Nó có khả năng thực hiện các nhiệm vụ mà không cần phi công, chẳng hạn như tìm kiếm tàu ​​địch, gửi tọa độ tới tàu khu trục nhỏ có khả năng bắn tên lửa. Airbus cũng đang phát triển một loại drone quan sát mang tên Eurodrone, nhằm bù đắp sự chậm trễ của châu Âu về loại drone đã được Hoa Kỳ và Israel phát triển và sẽ được đưa vào sử dụng vào cuối thập niên này, theo lời ông Jean-Brice Dumont, người đứng đầu bộ phận quốc phòng của Airbus. Đối với những drone ít phức tạp hơn và có thể nhanh chóng được sử dụng như Flexrotor hay Aliaca, tập đoàn Airbus giao việc phát triển cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ, hoặc các công ty khởi nghiệp mà hãng đã mua lại. Chẳng hạn như công ty ArkeOcéan, một doanh nghiệp gia đình với khoảng ba mươi nhân viên chuyên sản xuất các drone siêu nhỏ "chỉ dài 80cm, rộng 35cm, trôi theo dòng nước, rất khó phát hiện”. Ngoài ArkeOcéan, các doanh nghiệp vừa và nhỏ của Pháp chuyên về drone đã có mặt rất đông đảo tại triển lãm Euronaval, như Exail, Diodon và Delair. Riêng công ty Delair từ hai năm qua bán ra thị trường một sản phẩm mang tên Seasam, một loại drone dưới nước cở nhỏ, được dùng để theo dõi tình trạng thân tàu, tàu chở hàng cũng như tàu khu trục. Drone này có 7 động cơ nên rất cơ động, chống chọi tốt với dòng nước. Trả lời RFI Pháp ngữ tại Euronaval, ông Bastien Mancini, giám đốc điều hành của Delair, cho biết công ty này đã cung cấp cho thi trường châu Phi từ lâu và nay đã mở rộng sang các thị trường khác: “Chúng tôi đã có mặt ở khu vực này từ những năm 2010, tại khoảng 15-20 quốc gia châu Phi, rồi mở rộng sang Đông Âu và Đông Nam Á, những thị trường chính của chúng tôi hiện nay. Chúng tôi xuất khẩu rất nhiều trước khi bán cho thị trường Pháp. Công ty hiện sử dụng đến 110 nhân viên và đến cuối năm sẽ có tổng cộng 140 người, với doanh số năm ngoái là 10 triệu euro và dự báo năm nay sẽ đạt khoảng 30 triệu. Tốc độ tăng trưởng này là nhờ các hợp đồng mà chúng tôi giành được gần đây, nhất là trong lĩnh vực quốc phòng. Ukraina chiếm một phần đáng kể, nhưng không phải là chiếm đa số. Chúng tôi tạo được những hệ thống thích ứng với những điều kiện tác chiến rất ác liệt, với thiết bị gây nhiễu để làm rơi các drone, cho nên khách hàng chúng tôi có thể yên tâm.”  Chiến trường Ukraina dĩ nhiên là nơi mà công ty Delair có dịp thử nghiệm và cải tiến các drone do họ sản xuất để thích ứng tốt hơn với điều kiện chiến tranh ác liệt, theo lời ông Mancini: “Chúng tôi đã làm việc ở Ukraina từ năm 2016, vì thật ra chiến tranh coi như đã bắt đầu từ năm 2014 với thỏa thuận Minsk. Từ năm 2016, các drone của chúng tôi đã được sử dụng để giám sát các đường biên giới. Khi quân Nga vượt qua biên giới, phía Ukraina đã gặp chúng tôi và yêu cầu cho họ xem hệ thống drone của chúng tôi vận hành như thế nào trong điều kiện chiến tranh. Sau khi thấy hiệu quả của các hệ thống này, họ đã nhờ chính phủ Pháp giúp đỡ, mua các drone đó để tặng cho họ. Pháp đã làm theo yêu cầu đó. Chúng tôi thường xuyên, hầu như là mỗi tuần, có những phản hồi từ những người vận hành các drone và chúng tôi trao đổi với họ. Cứ khoảng 3 hoặc 4 tháng, chúng tôi cải tiến để các drone thích ứng tốt hơn với điều kiện chiến tranh. Những yếu tố đó giúp rất nhiều cho ngành công nghiệp vũ khí của Pháp nói chung.”  Để có thể phát triển các loại drone có sự trợ giúp của trí tuệ nhân tạo, công ty Delair đang phải tuyển thêm kỹ sư:  “Chúng tôi có những kỹ sư làm việc về các vấn đề đó. Công ty có một phòng nghiên cứu quy tụ khoảng 45 người, trong đó phân nữa chuyên tạo ra các phần mềm, một số nghiên cứu về các thuật toán và về trí tuệ nhân tạo để có thể giải quyết vấn đề điều khiển drone mà không cần hệ thống định vị GPS, xác định và phân loại những vật thể mà drone nhìn thấy để trợ giúp cho người điều khiển. Không thể có một hệ thống hoàn toàn tự vận hành. Trí tuệ nhân tạo chỉ trợ giúp, chỉ làm đơn giản hóa nhiệm vụ của người điều khiển. Đó không phải là những robot, mà đằng sau bao giờ cũng có con người. Một quân nhân Ukraina đã nói một điều rất đáng chú ý : 'Cái mà có giá trị đối với chúng tôi không phải là các drone, vì drone có thể bị mất, mà là những người được đào tạo để điều khiển drone'. Đó mới là điều mà họ cố gắng bảo vệ.” Vấn đề, theo lời ông Mancini, việc phát triển các loại drone tiên tiến, có khả năng cạnh tranh cao, đòi hỏi rất nhiều vốn đầu tư, mà cả về mặt này, Pháp và châu Âu nói chung càng bị t

    9 min
  7. 07/10/2024

    Khi trí tuệ nhân tạo và trí tuệ nhân loại được đặt lên bàn cân

    Theo số liệu đầu năm 2024, thị trường trí tuệ nhân tạo (AI) toàn cầu đã đạt hơn 196 tỷ đô la. Một số chuyên gia trong lĩnh vực này dự đoán rằng giá trị của AI dự kiến ​​sẽ tăng gấp 13 lần trong 7 năm tới, vượt ngưỡng 1,81 nghìn tỷ đô la vào năm 2030. Có thể nói, chưa bao giờ, thế giới chứng kiến sự phát triển đáng kinh ngạc như vậy của ngành công nghệ trí tuệ nhân tạo. Đứng trước sự phát triển của AI, nhiều người vẫn tỏ ra hồ nghi về khả năng của nó trong khi số khác lại lo sợ rằng một ngày nào đó, AI sẽ thông minh hơn con người và thống trị thế giới. Sự thực là hiện nay, có nhiều lĩnh vực mà AI thể hiện ưu thế vượt trội so với con người. Vậy nếu ta đặt trí tuệ nhân tạo và trí tuệ nhân loại lên bàn cân thì cán cân sẽ nghiêng về bên nào? Hậu quả ra sao? Hay liệu có cách nào khác kết hợp con người với máy móc để tạo ra một phiên bản tối tân? Trí tuệ nhân tạo là gì?Trước khi để trí tuệ nhân tạo so găng với con người, có lẽ ta cần tìm hiểu xem rốt cuộc trí tuệ nhân tạo là gì. AI hay Artificial Intelligence là thuật ngữ trong khoa học máy tính để chỉ trí thông minh của máy móc do con người tạo ra. Cũng giống như loài người, để trở nên hiểu biết và thông thái, con người cần học hỏi, hay nói đơn giản là nạp và phân tích kiến thức. AI cũng vậy. nhờ vào sự phát triển của Big Data (hay Dữ liệu lớn), các nhà khoa học đã có thể nhập một lượng dữ liệu khổng lồ và phức tạp vào máy tính. AI sau đó sẽ phân tích những dữ liệu được nạp để học hỏi và ứng dụng để thực hiện các tác vụ được giao. Chẳng hạn muốn AI nhận biết được quả cam, người ta sẽ cung cấp hàng ngàn hình ảnh của loại quả này từ những góc chụp khác nhau, trong những giai đoạn khác nhau. Sau đó AI sẽ phân tích các hình ảnh này và phân biệt quả cam với các loại quả khác. Nếu giờ ta đưa cho AI một bức tranh vẽ hàng trăm loại quả khác nhau, nó vẫn có thể nhanh chóng xác định được quả cam. Quá trình này được gọi là Deep learning (hay Học sâu) và chỉ là một nhánh nhỏ trong ngành khoa học trí tuệ nhân tạo. Trên thực tế khả năng nhận diện của AI phức tạp và tân tiến hơn nhiều và được ứng dụng trong rất nhiều lĩnh vực từ chẩn đoán hình ảnh y khoa để phát hiện bệnh lý đến hệ thống lái tự động có khả năng nhận diện vật thể xung quanh như biển báo, đèn tín hiệu, hay các phương tiện và vật cản khác trên đường để từ đó đưa ra các phản ứng phù hợp như dừng xe hay giảm tốc. Đâu là những lĩnh vực mà AI thể hiện ưu thế hơn con người?Y học Dù chưa thể thay thế được các bác sĩ nhưng AI đã chứng tỏ là một trợ lý xuất sắc trong việc chẩn đoán các hình ảnh y khoa như X-quang, MRI hay CT để phát hiện những bất thường. Vào tháng 04/2018, FDA, cơ quan quản lý dược phẩm Hoa Kỳ lần đầu tiên cho phép lưu hành thiết bị sử dụng trí tuệ nhân tạo để tự đưa ra chẩn đoán về bệnh tiểu đường qua nghiên cứu hình ảnh võng mạc. Theo ông Olivier Bousquet, giám đốc trung tâm nghiên cứu trí tuệ nhân tạo của Google ở châu Âu, AI thể hiện mình là một công cụ “đáng tin cậy như một bác sĩ giàu kinh nghiệm, nếu không muốn nói là thậm chí còn đáng tin cậy hơn cả bác sĩ, vì chúng tôi có thể đào tạo AI bằng lượng dữ liệu lớn hơn những gì mà một bác sĩ có thể thấy trong đời họ.” Trả lời RFI Pháp ngữ, ông Jean-Emmanuel Bibault, bác sĩ tại Bệnh viện Georges Pompidou đồng thời là nhà nghiên cứu về ứng dụng AI tại Viện Nghiên cứu Y học và Sức khoẻ Quốc gia Pháp (INSERM) giải thích thêm : “Chúng ta có thể tận dụng AI vào việc nhận diện các dấu hiệu bệnh như là phân tích hình ảnh y khoa. AI có thể làm những tác vụ này nhanh hơn nhiều so với con người. Các bác sĩ có thể tiết kiệm được khoảng 50% thời gian. Trong thử nghiệm mới đây tại một bệnh viện ở Thuỵ Điển, người ta đã chọn ngẫu nhiên 80.000 bệnh nhân và sau đó để hai đội : một đội gồm 2 bác sĩ và một đội gồm 1 bác sĩ và 1 AI cùng đọc hình ảnh y khoa. Và họ thu được kết quả là nhóm có 1 bác sĩ và 1 AI chẩn đoán nhanh hơn hẳn so với nhóm 2 bác sĩ. Ngoài ra cũng có những lĩnh vực mà AI không chỉ làm nhanh mà còn làm tốt hơn con người, ví dụ như việc dự đoán về nguy cơ ung thư hay khả năng hồi phục của bệnh nhân để từ đó đưa ra phác đồ điều trị riêng biệt cho mỗi người.” Dịch thuật Không ít người hiện nay tự hỏi liệu việc học ngoại ngữ có còn cần thiết hay không khi mà người ta dường như có thể dịch tất cả mọi ngôn ngữ với Google Dịch. Trung bình một người bình thường có thể sử dụng hai ngôn ngữ khác nhau. Cũng có một số người có thể sử dụng tới vài chục ngôn ngữ như Ioannis Ikonomon, phiên dịch viên của Uỷ ban Châu Âu, có thể nói được 47 thứ tiếng; hay Alexandre Arguelles, chuyên gia nghiên cứu ngôn ngữ người Mỹ với khả năng sử dụng 50 thứ tiếng. Tài năng là vậy, nhưng những thiên tài này vẫn phải chào thua Google Dịch khi mà công cụ dịch thuật này có thể dịch hơn 100 ngôn ngữ khác nhau trong vỏn vẹn vài giây. Khi mới ra mắt Google chỉ có thể dịch từ dạng văn bản sang văn bản. Tuy nhiên sau đó vào năm 2014, Google đã mua lại Word Lens, phần mềm sử dụng camera tích hợp trên điện thoại di động để quét và dịch văn bản trên màn hình của thiết bị, nhờ vậy Google sau đó đã có thể dịch cả bằng hình ảnh. Ngoài ra hệ thống này còn có thể tự động nhận dạng ngoại ngữ và giọng nói, sau đó dịch và nói lại như một phiên dịch thực thụ. Đứng sau thành công của Google Dịch chính là trí thông minh nhân tạo. AI đã học từ lượng lớn dữ liệu ngôn ngữ trong sách vở, báo chí, trang web. Đồng thời, cũng giống như loài người, AI học từ chính những sai lầm của mình. AI sẽ dựa vào phản hồi hay đề xuất của người dùng về những phần nó dịch chưa chuẩn để cải thiện dần chất lượng bản dịch. Con người phải chăng đành chịu thua máy móc?Trên đây mới chỉ là hai trong số rất nhiều khả năng mà AI có thể làm và thậm chí là làm tốt hơn con người. Vậy phải chăng ta đã bị AI bỏ lại phía sau? Ít nhất là đến hiện tại, AI chỉ có thể thực hiện các nhiệm vụ được chỉ định. Đây cũng là lý do mà ông Raja Chatila, giáo sư về lĩnh vực Robot và AI tại đại học Sorbonne, Paris, khách mời trong chương trình phát thanh của RFI Pháp ngữ, nhận định rằng trí thông minh nhân tạo rất “kém thông minh” : “AI thực ra rất ngu ngốc, nó không hiểu nó đang làm gì và chỉ có thể làm việc một cách hệ thống và máy móc. Nó sẽ lặp đi lặp lại chuỗi hành động, dù cho những hành động này không phải lúc nào cũng đúng, cũng chính xác.” Cùng quan điểm đó, bà Anne Alombert, giảng viên tại đại học Paris 8, thành viên Hội đồng kỹ thuật số quốc gia, bổ sung thêm : “Trong khi mà máy móc học để thực hiện theo những gì mà nó được yêu cầu làm và tiến tới một mục tiêu đã được hoạch định sẵn thì một đứa trẻ khi học hỏi là học để sáng tạo ra cái mới, khám phá thế giới, đưa ra giải pháp cho những tình huống mà nó chưa bao giờ gặp.” Đây cũng chính là một trong những điểm khác biệt lớn giữa trí thông minh con người và máy móc : sự sáng tạo, tưởng tượng, phát minh. Những đặc điểm này cho đến hiện tại vẫn là khả năng đặc biệt của loài người. Máy móc dù có thể tạo ra các tác phẩm nghệ thuật như một giai điệu hay một bức tranh nhưng không thể đánh đồng điều đó với khả năng sáng tạo của con người vì suy cho cùng AI chỉ có thể dựa trên các thuật toán và dữ liệu đã được cung cấp để tạo ra các tác phẩm nhưng lại không chứa đựng yếu tố cảm xúc, tính cá nhân, trải nghiệm hay tư duy đột phá của con người. Minh chứng cho luận điểm này, bà Anne Alombert đưa ra ví dụ : “Chẳng hạn Chat GPT có thể viết một câu chuyện thần thoại nhờ các tính toán dữ liệu nhưng nếu chúng ta tự viết, ta sẽ không tính toán dựa trên từ ngữ, xem có thể viết từ nào sau từ nào, các từ nào sẽ đi cùng với nhau, mà ta sẽ tự sáng tạo nhờ vào những gì mình đã trải qua, những gì mình tưởng tượng và theo những gì mình muốn vi

    10 min
  8. 11/08/2023

    Khi thế giới hứng chịu El Niño - La Niña trong bối cảnh biến đổi khí hậu

    Sau La Niña kéo dài 3 năm, từ năm 2020 đến năm 2022, đến lượt hiện tượng El Niño diễn ra trong năm 2023. Năm nay, El Niño đến trong bối cảnh thế giới liên tục ghi nhận các hiện tượng thời tiết cực đoan. Bão tố, lũ lụt, hạn hán diễn ra bất thường ở nhiều nơi trên thế giới, với những kỷ lục về mức tăng nhiệt độ, nắng nóng, cháy rừng, băng tan chảy … do biến đổi khí hậu. Diễn ra ở Thái Bình Dương nhưng El Niño và La Niña không chỉ có những tác động về khí hậu, hệ sinh thái, đánh bắt cá … tại vùng biển đó, mà còn có những ảnh hưởng sâu rộng đến các khu vực xa hơn, kể cả về sản xuất nông nghiệp, sức khỏe con người … Trên thực tế, trải dài từ miền phía nam Bắc Cực đến miền bắc Nam Cực, trải rộng từ phía châu Á, châu Úc sang đến phía châu Mỹ, Thái Bình Dương là đại đương sâu và rộng nhất hành tinh, chiếm khoảng 1/3 diện tích địa cầu. Trái với biến đổi khí hậu chủ yếu là do các hoạt động của con người gây ra, El Niño và La Niña là các hiện tượng thời tiết tự nhiên đã tồn tại từ rất lâu và diễn ra đan xen nhau theo chu kỳ. Để hiểu thêm về hai hiện tượng El Niño và La Niña, và những tác động qua lại với tình trạng biến đổi khí hậu, RFI tiếng Việt ngày 16/10/2023 đã phỏng vấn ông Jérôme Vialard, giám đốc nghiên cứu của Viện Nghiên cứu Phát triển Pháp IRD, làm việc tại Cơ quan nghiên cứu về Đại dương và Khí hậu. RFI : El Niño và La Niña có gì giống và khác nhau ?  Jérôme Vialard : Điểm chung là hiện tượng El Niño và La Niña có thể xem là giống như hai mặt của một đồng xu. El Niño thường kéo dài một năm, khi vùng nhiệt đới Thái Bình Dương nóng lên bất thường. Còn La Niña thì gần như ngược lại. Đó là một năm mà vùng nhiệt đới Thái Bình Dương lạnh bất thường. Những thay đổi về nhiệt độ bề mặt vùng biển nhiệt đới Thái Bình Dương sẽ gây ra hậu quả đối với khí hậu khu vực trên quy mô toàn bộ Thái Bình Dương cũng như ở các vùng tương đối xa, làm thay đổi hoàn lưu khí quyển. Như vậy, nhìn qua thì El Niño và La Niña là hai hiện tượng khá đối xứng, có thể xem La Nina là hiện tượng trái ngược với El Niño, thế nhưng khi xem xét kỹ lưỡng hơn, thì có thể thấy hai hiện tượng này vẫn có những điểm khác nhau nhỏ, thậm chí những nét khác biệt đặc trưng. El Niño có thể mạnh hơn nhiều so với La Niña và đôi khi còn có hiện tượng mà chúng ta gọi là « siêu El Niño ». Đó là trường hợp năm 1982-1983 hoặc năm 1997-1998, gần đây hơn là năm 2015-2016. Chúng tôi nghiên cứu rất sâu những siêu El Niño này, bởi vì siêu El Niño gây ra hậu quả đối với khí hậu, xã hội, hệ sinh thái mạnh hơn nhiều so với các El Niño khác. Đó là khác biệt chính, ngoài ra còn có một sự khác nhau về vị trí. El Niño ngả về phía bờ biển Nam Mỹ, trong khi La Niña ngả về phía bờ biển Úc nhiều hơn. RFI : Dường như có nhiều nghiên cứu, kiến ​​thức chuyên sâu về hiện tượng El Niño hơn là về La Niña ? Jérôme Vialard : Các hiện tượng El Niño và La Niña thường được mô tả như một chu kỳ. Trên thực tế, tôi nghĩ rằng trong vòng 15-20 năm qua đã có các nghiên cứu về nguyên nhân chung dẫn đến các hiện tượng El Niño và La Niña. Trái lại, các nghiên cứu về sự bất đối xứng, tức là những khác biệt nhỏ giữa El Niño và La Niña thì xuất hiện gần đây hơn. Có thể nói là nghiên cứu này về cơ bản mới chỉ phát triển từ 10 năm trở lại đây. Đặc biệt, chúng tôi tìm hiểu điều gì tạo ra siêu El Niño và ngược lại tại sao lại không có "siêu La Niña". Chúng tôi cũng tìm hiểu về sự khác biệt về thời lượng của hai hiện tượng này. Rất hiếm khi El Niño kéo dài hơn một năm, trong khi chuyện La Niña kéo dài trong hơn một năm, sang năm thứ 2, thậm chí là năm thứ 3, không phải là hiếm. RFI : Việc dự đoán các hiện tượng El Niño và La Niña liệu có phức tạp ? Jérôme Vialard : Có thể dự đoán El Niño và La Niña, nhưng cũng có thể xảy ra những bất ngờ. Tôi xin nêu một ví dụ không hay lắm đã xảy ra hồi năm 2014. Khi đó, chúng tôi đã có đủ mọi dấu hiệu cho thấy El Niño sẽ xảy ra. Thường thì khi thấy nhiệt độ sâu dưới Thái Bình Dương tăng cao bất thường, chúng tôi nghĩ rằng El Niño sẽ xảy ra. Đó là trường hợp của năm 2014, và khi đó truyền thông đã nhiệt tình quá mức, nói rằng đến cuối năm sẽ có siêu El Niño. Nhưng cuối cùng thì chẳng có siêu El Niño nào xảy ra vào cuối năm 2014. Thế nhưng, đến năm 2015 thì nó lại xảy ra. Thế nên, cũng cần phải thận trọng một chút khi dự báo. Thế nhưng, dẫu sao thì ngày nay, với các mô hình hoàn lưu khí quyển nói chung, trong đó có các mô hình liên quan đến đại dương và khí quyển, khi kết hợp các mô hình và phối hợp với những quan sát từ các vùng đại dương nhiệt đới, thì chúng tôi cũng đã có thể đưa ra những dự báo tương đối đáng tin cậy về El Niño và La Niña từ trước khi chúng xảy ra một năm. Hiện tượng El Niño xảy ra hiện nay đã được dự báo ngay từ đầu năm, thế nhưng chúng tôi khá thận trọng, không vội thông tin cho báo chí. Điểm cuối cùng là có những nghiên cứu cho rằng El Niño và La Niña không thể được dự báo theo cùng một cách. Chúng tôi tin rằng La Niña sẽ dễ dự đoán hơn là El Niño. Đây cũng là một điểm khác nhau giữa hai hiện tượng này. Thế nhưng, dẫu sao cũng cần nghiên cứu thêm để xác nhận điều này. RFI : Đâu là những vùng chịu nhiều tác động nhất từ El Niño và La Niña ? Jérôme Vialard : Khu vực bị tác động nhiều nhất là vùng xung quanh Thái Bình Dương. Như tôi nói ban đầu, các hiện tượng khí hậu đã ảnh hưởng đến vùng nhiệt đới Thái Bình Dương. Những tác động điển hình nhất trong thời kỳ xảy ra El Niño là nạn hạn hán ở phía Úc và Indonesia, mưa lớn hơn ở phía Nam Mỹ, chẳng hạn như ở Peru. Đó là những hậu quả đối với khí hậu. Ngoài ra xin nhắc lại là El Niño là một hiện tượng hải dương và khí quyển. Vì thế, cũng có những hậu quả khá nặng nề đối với các hệ sinh thái biển. Chẳng hạn, vùng đông Thái Bình Dương nhìn chung là nơi khá nhiều cá nên có khá nhiều loài chim biển. Và trong thời kỳ El Niño, một phần hệ sinh thái tại vùng này sụp đổ, có ít cá hơn, các loài chim biển chết đi, kéo theo đó là hoạt động đánh bắt cá bị ảnh hưởng. Đó là vùng ngay sát bờ Thái Bình Dương. Việt Nam, nằm ở Đông Nam Á, cách không xa vùng này nên nhìn chung cũng chịu ảnh hưởng của El Niño. Trong thời kỳ xảy ra El Niño thì chiều hướng chung là toàn bộ khu vực Đông Nam Á nóng lên bất thường. RFI : Các hiện tượng tự nhiên El Niño và La Niña có thể làm trầm trọng thêm tình trạng biến đổi khí hậu? Jérôme Vialard : Nếu nhìn vào nhiệt độ trên quy mô hành tinh trong vòng 100 năm qua, chúng ta thấy nhiệt độ tăng rõ rệt trong vài thập kỷ qua có liên quan đến sự phát thải khí gây hiệu ứng nhà kính, tức là liên quan đến biến đổi khí hậu. Và nếu chúng ta nhìn vào chi tiết, ngoài xu hướng tăng chầm chậm, chúng ta còn thấy có những năm thì nóng hơn, có những năm lại lạnh hơn, nóng hơn rồi lại lạnh hơn, vân vân. Đúng là nhìn chung thì El Niño có liên quan đến sự nóng lên toàn cầu. Trên thực tế, tín hiệu El Niño hay La Niña chồng lên tín hiệu về biến đổi khí hậu, do đó chúng ta có thể thấy nó hơi giống như sự điều hòa không khí trên quy mô hành tinh : thời kỳ El Niño là hệ thống sưởi được bật. Và thời kỳ La Niña là máy điều hòa mát được bật. Đây là hiệu ứng nhỏ hơn so với biến đổi khí hậu. Trái đất bị hâm nóng thì có liên quan đến biến đổi khí hậu, về mức nhiệt thì là hơn một độ một chút. Trong khi đó, mức tăng nhiệt độ từ năm này sang năm khác liên quan đến El Niño thì ở mức vài phần mười độ, tức là vẫn thấp hơn (so với do biến đổi khí hậu). Một điểm khác biệt nữa là dấu hiệu liên quan đến biến đổi khí hậu thì kéo dài, đã xảy ra trong những thập kỷ qua và sẽ vẫn tiếp diễn. Trong khi đó, hiện tượng El Niño có tác động trong thời gian ngắn hơn. Chẳng hạn, như tôi vừa nói, trong những năm qua, chúng ta đã có một thời kỳ La Niña rất dài, trong vòng 3 năm liền. Nói một cách hình tượng thì chúng ta

    11 min

About

Thành tựu và thách thức trong lĩnh vực môi trường, khoa học kỹ thuật, y tế

More From RFI Tiếng Việt

You Might Also Like