Tạp chí tiêu điểm

Thời sự quốc tế nổi bật qua lăng kính của RFI

  1. 10h ago

    Hợp tác chiến lược Trung Quốc, Nga, Iran, Bắc Triều Tiên : Một thách thức lớn cho Mỹ

    Tuy không có hiệp ước phòng thủ chung chính thức giống như Liên minh  Bắc Đại Tây Dương NATO, chiến tranh giữa Mỹ và Iran ở Trung Đông đang thúc đẩy bốn nước Trung Quốc, Nga, Iran và Bắc Triều Tiên hành động như một khối có liên kết chiến lược. Mối quan hệ hợp tác này có thể là một thách thức to lớn đối với Hoa Kỳ. Những năm gần đây, mỗi khi nói đến các cuộc khủng hoảng quốc tế, từ chiến tranh Ukraina đến căng thẳng ở Trung Đông, người ta thường nghe nhắc đến một nhóm quốc gia gồm Trung Quốc, Nga, Iran và Bắc Triều Tiên, mà nhiều nhà phân tích phương Tây gọi là « CRINK », được ghép từ chữ cái đầu bằng tiếng Anh của bốn quốc gia (China, Russia, Iran và North Korea). Mạnh mẽ hơn, nhóm bốn nước này còn bị chỉ định là « trục gây bất ổn », « trục chống phương Tây » hay « trục các quốc gia gây hấn ». CRINK : Một khối thống nhất như NATO ? Câu hỏi quan trọng : Liệu đây có thực sự là một khối thống nhất giống như NATO? Hay người ta đang đơn giản hóa một thực tế phức tạp hơn rất nhiều. Chủ đề vẫn gây tranh cãi trong giới quan sát, giữa một bên cho rằng Trung Quốc, Nga, Iran và Bắc Triều Tiên đang hình thành một liên minh chiến lược chặt chẽ nhằm đối đầu với Mỹ và phương Tây, và bên kia thì cho rằng « không tồn tại bất kỳ khối nào », rằng mỗi nước theo đuổi lợi ích riêng và không có sự phối hợp đáng kể. Thực tế cho thấy là cả hai cách nhìn này đều chưa hoàn toàn chính xác. Nhiều nghiên cứu gần đây cho thấy mối quan hệ hợp tác quân sự và an ninh giữa bốn nước đã gia tăng mạnh mẽ, nhất là kể từ khi Nga tiến hành « chiến dịch quân sự đặc biệt » ở Ukraina năm 2022. Các hoạt động chuyển giao vũ khí, hàng hóa lưỡng dụng, các cuộc tập trận chung và những thỏa thuận song phương xuất hiện với tuần suất cao hơn. Tuy cho đến nay bốn nước này chưa có một cấu trúc chỉ huy chung hay một cơ chế phòng thủ tập thể, nhưng theo ghi nhận của các tác giả một báo cáo đăng trên trang Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược Quốc tế (CSIS) ngày 30/09/2025, CRINK đang tồn tại như một mạng lưới hợp tác linh hoạt hơn là một liên minh quân sự chính thức. Xung đột giữa Israel và Iran trong giai đoạn 2024-2026 là phép thử rõ nét nhất cho nhận định trên. Bắc Triều Tiên : Lợi ích quốc gia trên cả ý thức hệ, tình hữu nghị Nếu thực sự tồn tại một « khối » thống nhất như NATO, người ta có thể kỳ vọng rằng khi Iran đối mặt với áp lực quân sự, ba đối tác còn lại sẽ ngay lập tức tham gia hỗ trợ một cách mạnh mẽ. Nhưng điều đó đã không xảy ra. Và Bắc Triều Tiên là một ví dụ đáng chú ý nhất. Thái độ thận trọng của Bình Nhưỡng cho thấy lợi ích quốc gia của Bắc Triều Tiên vẫn được đặt lên trên bất kỳ tình cảm ý thức hệ nào. Trả lời phỏng vấn RFI Tiếng Việt (ngày 18/06/2026), nhà địa chính trị học Didier Chaudet, chuyên gia về Nam Á, Trung Á và Vịnh Ba Tư, nhận định : « Thời gian gần đây, Cơ quan Tình báo Quốc gia Hàn Quốc (NIS) có đưa ra một thông điệp khá rõ ràng, cho thấy Bắc Triều Tiên đã khẳng định họ không hậu thuẫn Iran trong suốt cuộc chiến, vì muốn duy trì mối quan hệ tốt với chính quyền Trump trong tương lai. Bình Nhưỡng không muốn là mục tiêu sau khi chiến tranh Iran kết thúc. » Nga và Iran : Mối quan hệ đối tác chặt chẽ Tuy nhiên, Nga lại có một cách hành xử khác. Iran không chỉ là một đối tác mà còn là một mắt xích quan trọng trong mạng lưới giúp Matxcơva đối phó với các biện pháp cô lập của phương Tây. Trong chiến tranh Ukraina, Iran đã cung cấp cho Nga một lượng lớn drone Shahed và nhiều loại khí tài khác, đổi lại, Matxcơva đã mở rộng hợp tác quân sự, chia sẻ công nghệ và ký kết các thỏa thuận chiến lược, hỗ trợ Teheran trong nhiều lĩnh vực quốc phòng. Về điểm này, chuyên gia địa chính trị Didier Chaudet cho biết thêm rằng « một lượng lớn vũ khí đã được vận chuyển từ các cảng của Nga tại vùng biển Caspi đến Iran. Tất nhiên, đây là cách Nga lách các lệnh trừng phạt của phương Tây đối với Iran, một phần để đáp trả những lời chỉ trích về việc thiếu hỗ trợ trong năm 2025 khi căng thẳng giữa Israel và Iran tăng cao. Thật vậy, đối với Nga, nếu Iran sụp đổ, có nguy cơ thực sự họ sẽ là nạn nhân tiếp theo, khiến liên minh phương Tây trở nên quyết liệt hơn đối với Nga trong tương lai. » Đây cũng là quan điểm của nhà nghiên cứu Andrea Kendall - Taylor, giám đốc Chương trình An ninh Xuyên Đại Tây Dương, Trung tâm An ninh Hoa Kỳ Mới (CNAS), khi trả lời trang RFE/RL (24/07/2026). Theo bà, việc Iran sụp đổ có nguy cơ tạo ra bất ổn sâu rộng tại Trung Đông, đồng thời làm suy yếu một trong những đối tác quan trọng nhất của Nga. Thế nên, việc duy trì sự tồn tại và ổn định của Iran phù hợp với lợi ích chiến lược của Matxcơva. Trung Đông ổn định là lợi ích của Bắc Kinh Trong khi đó, Bắc Kinh lại chọn một cách tiếp cận khác thận trọng hơn. Trung Quốc tránh can dự quân sự trực tiếp, nhưng duy trì các mối quan hệ sâu rộng với Iran. Trả lời RFI Tiếng Việt, nhà địa chính trị học Didier Chaudet phân tích : « Ai cũng biết rằng Trung Quốc mua dầu của Iran, vì điều này nằm trong lợi ích của họ. Tương tự, trong khoảng thời gian 2025-2026 (…) rõ ràng đã có các hoạt động buôn bán những loại sản phẩm không thuộc diện trừng phạt do Mỹ và các đồng minh áp đặt, những sản phẩm không nằm trong phạm vi pháp luật, nhưng lại giúp tái thiết đặc biệt là khả năng tên lửa tầm trung của Iran. » Bắc Kinh không nhất thiết hành động vì mục tiêu bảo vệ Iran vô điều kiện. Lợi ích của Trung Quốc nằm ở một Trung Đông ổn định, đủ để bảo đảm các tuyến năng lượng và thương mại, đồng thời tránh sụp đổ nhà nước dẫn tới chiến tranh kéo dài. Một Iran hỗn loạn hoặc rơi vào nội chiến sẽ gây bất ổn cho toàn bộ khu vực và tác động đến kinh tế toàn cầu, điều mà Trung Quốc cũng như là châu Âu hoàn toàn không mong muốn, theo giải thích của nhà nghiên cứu Didier Chaudet. Lệnh trừng phạt của phương Tây : Mẫu số chung của CRINK Nhưng khi quan sát CRINK, người ta phát hiện ra một nghịch lý thú vị: Bốn nước này tuy không phối hợp ở mức độ cao như một liên minh quân sự thực sự, nhưng họ vẫn liên tục hỗ trợ lẫn nhau. Vậy điều gì đang gắn kết họ với nhau ? Đó là các lệnh trừng phạt của Mỹ và phương Tây. « Nhìn từ Trung Quốc, một nước như Hoa Kỳ có thể áp đặt luật lệ của mình ra ngoài lãnh thổ nhắm mục tiêu các công ty cùng nhiều thực thể của Trung Quốc, nhất là trong hồ sơ Iran, là điều càng ngày càng không thể chấp nhận trên phương diện luật quốc tế », theo đánh giá của chuyên gia Chaudet. Trong hoàn cảnh này, việc tăng cường hợp tác với nhau giữa bốn nước là một lựa chọn hợp lý. Nhà phân tích Andrea Kendall - Taylor gọi đây là một mạng lưới linh hoạt, vừa chia sẻ nguồn lực, vừa giúp nhau giảm tác động các biện pháp trừng phạt. Một trong những tác động quan trọng nhất của mạng lưới là giúp tăng cường năng lực của từng thành viên, đồng thời làm suy giảm hiệu quả các công cụ gây sức ép từ phương Tây. Ví dụ điển hình nhất là Bắc Triều Tiên. Trong nhiều năm, hình ảnh phổ biến về quốc gia này là một nền kinh tế trì trệ và cô lập, nhưng tình hình đã được cải thiện đáng kể trong hai năm gần đây. Theo giải thích của chuyên gia Didier Chaudet, « bởi vì Triều Tiên đang được hưởng lợi từ việc họ có thể hợp tác với Nga và kiếm tiền từ Nga dưới danh nghĩa hỗ trợ mà họ dành cho Nga trong cuộc chiến ở Ukraina. Bởi vì Trung Quốc, đối mặt với áp lực quốc tế từ những lãnh đạo cũng nhắm mục tiêu vào các thực thể Trung Quốc, đã quyết định nới lỏng các quy định thương mại giữa Trung Quốc và Bắc Triều Tiên. » CRINK : Một mạng lưới linh hoạt Điều này giải thích vì sao, bất chấp các lệnh cấm vận kéo dài, nền kinh tế Bắc Triều Tiên vẫn cho thấy có những dấu hiệu cải thiện tương đối. Từ góc độ quan hệ quốc tế, đây không còn là câu chuyện về tình hữu nghị hay ý thức hệ, mà là vấn đề lợi ích. Nga

  2. Jul 16

    Nguyên tắc ngoài lãnh thổ : Kho vũ khí pháp lý mới của Trung Quốc trong cạnh tranh thương mại

    Ngày 22/06/2026, Trung Quốc thông báo loạt trừng phạt mới có hiệu lực ngay lập tức nhắm vào hàng chục công ty Mỹ, chủ yếu trong các lĩnh vực quốc phòng và đất hiếm để đáp trả quyết định của Lầu Năm Góc đưa các tập đoàn như Alibaba và BYD vào danh sách đen. « Ăn miếng, trả miếng », Bắc Kinh kể từ giờ không ngần ngại trừng phạt các công ty nước ngoài, mà còn cấm các doanh nghiệp trong nước tuân thủ các biện pháp ngoài lãnh thổ của những nước khác, đặc biệt là Mỹ. Để đáp trả nguyên tắc ngoài lãnh thổ của Mỹ, Trung Quốc đang hoàn thiện các công cụ pháp lý của mình. Từ nhiều năm qua, Bắc Kinh triển khai kho vũ khí pháp lý vượt ra ngoài lãnh thổ, mà nạn nhân liên đới đầu tiên là lĩnh vực kinh tế. Trên đài France 24, chuyên gia Mathieu Duchâtel, giám đốc nghiên cứu quốc tế, Viện Montaigne, trước hết giải thích đôi nét về nguyên tắc ngoài lãnh thổ : « Đơn giản đó là việc áp dụng luật pháp quốc gia ở nước ngoài. Có thể là đối với các chủ thể quốc gia hiện diện ở nước ngoài, các cá nhân, các tác nhân kinh tế, nhưng đôi khi là đối với chính các chủ thể nước ngoài. Cách tiếp cận truyền thống là đối với các tội phạm hình sự do công dân của nước mình đang ở nước ngoài gây ra, điều này có thể bao gồm các thỏa thuận dẫn độ hoặc nhiều cách thức khác để xử lý họ. » Hoa Kỳ : Quốc gia đi đầu về luật ngoài lãnh thổ Nguyên tắc ngoài lãnh thổ không phải là hiện tượng mới. Hoa Kỳ là quốc gia đầu tiên sử dụng cách tiếp cận này như một cơ chế bảo hộ nhằm ngăn chặn tất cả các rủi ro hiện có, bao gồm cả những rủi ro liên quan đến chống hối lộ quan chức nước ngoài, trừng phạt và cấm vận. Giáo sư Mathias Audit, chuyên ngành luật trường đại học Sorbonne, từng giải thích trong một hội thảo: « Luật ngoài lãnh thổ của Mỹ dựa trên hai nguyên tắc : Thứ nhất, nếu một công ty nước ngoài được hưởng lợi từ thị trường của Mỹ thì họ cũng phải tôn trọng các quy tắc của Mỹ. Thứ hai, trên thị trường quốc tế, các công ty Mỹ không được ở thế bất lợi về cạnh tranh, do đó nảy sinh ý tưởng áp đặt các công ty không phải của Mỹ vào cùng những ràng buộc. » Từ 1976 đến 2019, Mỹ ban hành 7 đạo luật mang tính ngoài lãnh thổ, liên quan đến nhiều lĩnh vực, từ kiểm soát hoạt động buôn bán vũ khí, chống hối lộ, kiểm soát thị trường tài chính, đến chống khủng bố, bảo vệ dữ liệu hay chống doping trong thể thao. Nếu như phần lớn các tập đoàn lớn châu Âu là nạn nhân của luật ngoài lãnh thổ Mỹ, việc sử dụng nguyên tắc này đã gia tăng đáng kể từ khi Donald Trump bước vào Nhà Trắng năm 2017 nhằm ngăn chặn Trung Quốc tiếp cận công nghệ phương Tây. Theo chuyên gia Mathieu Duchâtel, Hoa Kỳ đã áp dụng nguyên tắc này một cách tùy tiện đối với các công ty châu Âu và châu Á để ngăn họ xuất khẩu sang Trung Quốc, mà vụ án Mạnh Vãn Châu là một ví dụ điển hình. Năm 2018, để trả đũa việc Canada quyết định bắt giam nữ giám đốc tài chính, con gái nhà sáng lập Hoa Vi tại Vancouver theo yêu cầu của Mỹ, chính quyền Trung Quốc đã bắt giữ và tống giam hai công dân Canada là Michael Kovrig et Michael Spavor trong vòng hơn 1.000 ngày trong những điều kiện ngặt nghèo. Sự việc đã gây ra khủng hoảng ngoại giao nghiêm trọng giữa Ottawa và Bắc Kinh. Ba mục tiêu Đối với Trung Quốc, sự phát triển của nguyên tắc ngoài lãnh thổ của Mỹ dường như là một hành động gây hấn nhắm thẳng vào chính quyền Bắc Kinh. Cảm thấy bị đe dọa bởi tất cả các điều khoản về luật ngoài lãnh thổ của Mỹ kể từ khi Hoa Vi bị tuyên bố là mối đe dọa an ninh mạng tiềm tàng vào năm 2009, Trung Quốc thời Tập Cận Bình đã có những thay đổi triệt để về lập trường. Ngay từ năm 2019, ông đã có một tuyên bố rõ ràng, kêu gọi tất cả các thể chế Trung Quốc, Nhà nước, Đảng, xây dựng một đạo luật có hiệu lực ngoài lãnh thổ cho đến thời điểm đó vẫn còn khá hạn chế. Trả lời France 24, nhà nghiên cứu về Đông Á, Mathieu Duchâtel, giải thích tiếp : « Đó là một loạt các văn bản mang tính chất kinh tế. Tôi nghĩ điều cốt lõi trong tất cả những điều này là ý tưởng về sự trả đũa, được đưa vào trong luật thương mại quốc tế của Trung Quốc. Trước hết, đây là một biện pháp tương tự như cách tiếp cận của Mỹ, nghĩa là lập danh sách các thực thể không đáng tin cậy, các thực thể nước ngoài, cuối cùng định nghĩa chúng một cách rất rộng rãi là các chủ thể kinh tế, hoặc thậm chí, không nhất thiết là các chủ thể kinh tế, mà là các chủ thể mà hành động của họ có thể gây nguy hiểm cho lợi ích của Trung Quốc. Đó là về lợi ích, chứ chưa phải là vấn đề an ninh. » Trong một bài ghi chú đăng vào tháng 12/2025, Viện Montaigne giải thích luật ngoài lãnh thổ của Trung Quốc theo đuổi ba mục tiêu. Thứ nhất, nguyên tắc ngoài lãnh thổ được thiết kế để giải quyết sự cạnh tranh mang tính hệ thống với Hoa Kỳ. Đây là kho vũ khí phòng thủ của Bắc Kinh nhằm mục đích giảm thiểu tác động của các lệnh trừng phạt kinh tế của Hoa Kỳ và chống lại các hạn chế xuất khẩu của Mỹ, ngăn chặn Trung Quốc tiếp cận các công nghệ lưỡng dụng. Thứ hai, Bắc Kinh cũng áp dụng luật lệ của mình ở nước ngoài để tăng cường sự hiện diện và ảnh hưởng toàn cầu bằng cách tuân theo lô-gic thực dụng, tập trung vào việc bành trước sức mạnh và cân bằng quyền lực với Hoa Kỳ. Chính quyền Bắc Kinh cố gắng sử dụng luật pháp Trung Quốc để giải quyết các vấn đề tranh chấp lãnh thổ, chẳng hạn như ở Biển Đông, và sử dụng ngôn ngữ pháp lý của mình để hợp pháp hóa các hành động của Trung Quốc. Cuối cùng, Trung Quốc áp dụng các chính sách an ninh công của mình ra ngoài lãnh thổ để triển khai các biện pháp của Trung Quốc về an ninh nội địa (người nước ngoài, bất đồng chính kiến, các vấn đề liên quan đến Hồng Kông và Đài Loan) trên phạm vi toàn cầu. Bắc Kinh cho thiết lập các đồn cảnh sát phi chính thức ở nước ngoài, và tìm cách cưỡng chế hồi hương một số công dân của mình. Việc đe dọa, răn đe và dẫn độ cưỡng bức công dân Trung Quốc ở nước ngoài đặt ra một thách thức đáng kể đối với các nền dân chủ châu Âu. Theo quan sát của Mathieu Duchâtel, khi nói đến « lợi ích », Trung Quốc đã đề ra một phạm vi áp dụng nguyên tắc ngoài lãnh thổ rất rộng, vượt ngoài phạm vi an ninh quốc gia. « Điều cần hiểu là mọi biện pháp mà Trung Quốc thực hiện để giảm thiểu tính chất dễ bị tấn công trước nguyên tắc ngoài lãnh thổ của Mỹ đều có thể được sử dụng để tấn công và cưỡng chế. Điểm khác biệt trong cách tiếp cận của Trung Quốc và cụ thể là Đảng Cộng sản Trung Quốc, trong văn hóa chiến lược của mình, thực sự có ý tưởng về chiến tranh thông qua luật pháp. Điều này được thể hiện trong các vấn đề không chỉ thuần túy về kinh tế, mà cả trong tranh chấp lãnh thổ, Trung Quốc có cả một chiến lược sử dụng luật pháp để củng cố hay hợp pháp hóa các lập trường của mình. Trên thực tế, Bắc Kinh có một đường hướng chỉ đạo chung, đi từ các vấn đề lãnh thổ đến các hồ sơ kinh tế và địa kinh tế. » « Trâu bò húc nhau, ruồi muỗi chết » Được trang bị cả một kho vũ khí pháp lý, Trung Quốc kể từ giờ không chỉ có thể đáp trả với các biện pháp ngoài lãnh thổ của Mỹ như lập danh sách đen các cá nhân, thực thể hay doanh nghiệp, mà còn có thể kiểm soát điểm đến cuối cùng của nhiều mặt hàng xuất khẩu giống như những gì Washington đã thực hiện từ nhiều thập niên thông qua một số luật, trong đó, đáng chú ý nhất là luật I-TAR, kiểm soát xuất khẩu vũ khí và luồng lưu thông trang thiết bị quân sự Mỹ.  Vị giám đốc nghiên cứu quốc tế Viện Montaigne, trên đài France 24 nhắc lại : « Trung Quốc có luật kiểm soát xuất khẩu từ năm 2021, có hiệu lực từ năm 2025. Nhưng Trung Quốc đã thực hiện kiểm soát xuất khẩu đối với các nguyên vật liệu quan trọng mà họ chiếm ưu thế mà không có lý do pháp lý chính đáng. » Đây là những gì xảy ra đối với đất hi

  3. Jul 9

    Châu Mỹ Latinh ngả theo cánh hữu và cực hữu : Thành công chính trị của Trump ?

    Hơn một tuần sau thắng lợi bầu cử của Abelardo de la Espriella tại Colombia (21/06/2026), đến lượt Keiko Fujimori, con gái của nhà độc tài Alberto Fujimori, được loan báo về đầu trong cuộc bầu cử tổng thống Peru ngày 07/06/2026. Chỉ trong vòng 18 tháng, các ứng cử viên liên minh hoặc liên kết với Donald Trump thắng cử tổng thống hay lập pháp tại bảy nước châu Mỹ La-tinh. Bước đột phá ngoạn mục của phe theo chủ nghĩa dân tộc – dân túy dường như đã mang đến cho Donald Trump một thắng lợi trong chính sách của ông tại khu vực. Sự dịch chuyển này đã bắt đầu từ năm 2019, với thắng lợi bầu cử của Nayib Bukele tại Salvador, rồi như một hiệu ứng đô-mi-nô, phe cực hữu trong những năm gần đây lần lượt giành thắng lợi trong các cuộc bầu cử lập pháp và tổng thống tại các nước Achentina, Bolivia, Chilê, Costa Rica, Ecuador, Honduras, Panama và gần đây nhất là Colombia và Peru.   Tình trạng mất an ninh, bài di dân : Những điểm chung Sau « làn sóng mầu hồng » trong những năm đầu thập niên 2020, ngoại trừ Uruguay, hầu như toàn bộ các cuộc bầu cử ở khu vực châu Mỹ Latinh những năm gần đây đều có lợi cho cánh hữu hoặc các đảng cánh hữu cực đoan và tự do nhất. Bước đột phá bầu cử này, tuy bắt nguồn từ nhiều vấn đề quốc gia khác nhau nhưng theo quan sát của nhà chính trị học Gaspar Estrada, chuyên gia về Nam Bán Cầu, thuộc London School of Economics, vấn đề an ninh, chống các băng đảng tội phạm, di dân là những điểm chung trong các cuộc bầu cử gần đây. Trên làn sóng RFI Pháp ngữ, ông giải thích : « Trong những tháng gần đây, vấn đề mất an ninh đã trở thành mối bận tâm hàng đầu ở khu vực châu Mỹ Latinh, và hầu hết các cuộc thăm dò dư luận trong khu vực đều xác nhận xu hướng trên. Điều này trái ngược hoàn toàn với một thập kỷ trước, khi tham nhũng là một chủ đề nổi bật hơn nhiều trong không gian công luận và là chủ đề trọng tâm trong các chiến dịch tranh cử. » Anthony Pereira, một chuyên gia về nghiên cứu Châu Mỹ Latinh tại đại học Tulane ở Louisiana, chỉ ra rằng yếu tố đã dẫn đến sự sụp đổ của cánh tả tại Nam Mỹ là giá cả nguyên nhiên liệu. Trả lời kênh truyền hình France 24, ông giải thích : « Khi giá cả cao, người ta có thể thực hiện các chương trình viện trợ, tăng lương và cải thiện khả năng tiếp cận giáo dục. Số người sống trong nghèo đói giảm, và các phong trào tiến bộ giành được chỗ đứng trong khu vực. Nhưng khi không thể duy trì các chương trình này do giá cả giảm, thì sự lạc quan của những năm 2010 đã nhường chỗ cho sự thất vọng. Đồng thời, tội phạm có tổ chức ngày càng lớn mạnh và kiểm soát được toàn bộ các khu phố, thậm chí cả nhà tù. Và cử tri bắt đầu hưởng ứng nhiệt tình hơn đối với các ứng cử viên tự xưng là người chống lại giới cầm quyền. » Không chỉ đối với cánh tả, sự trỗi dậy của làn sóng « cánh hữu cứng rắn » còn phản ánh một cuộc khủng hoảng sâu sắc trong các chính đảng truyền thống mà Colombia là một ví dụ mới nhất, theo như phân tích của Mathilde Allain, chuyên gia về Nam Mỹ, giảng viên trường đại học Sorbonne Nouvelle, với France 24 : « Chúng ta đang chứng kiến ​​sự sụp đổ của cánh hữu truyền thống Colombia, vốn không thể tìm được ứng cử viên nào xứng đáng. Lá phiếu dành cho Abelardo de la Espriella cũng là lá phiếu chống lại các chính đảng, chống lại giới tinh hoa và chống lại giới cầm quyền, như chúng ta đã thấy ở những nơi khác trên lục địa ». Một trong những chìa khóa thành công của « cánh hữu cứng rắn » nằm ở chiến lược truyền thông. Hoạt động tích cực trên mạng xã hội, những ứng cử viên này phần lớn bỏ qua các kênh chính trị truyền thống bằng cách tập trung vào giao tiếp trực tiếp, được cá nhân hóa và thường mang tính khiêu khích, cực đoan, như ủng hộ xu hướng vãn hồi trật tự bằng vũ lực, thậm chí bằng quân sự để chống các băng đảng tội phạm, chống di dân bất hợp pháp, được cho là nguồn cội làm gia tăng tội phạm, hay bài sinh thái, chống các quyền của giới LGBT… Donald Trump: Điểm kết nối lớn Tuy nhiên, giữa các ứng viên cực hữu này, còn một điểm chung khác quan trọng hơn : Tất cả đều chia sẻ các quan điểm, giá trị với nước Mỹ thời Donald Trump và đều được ông Trump hậu thuẫn ! Đối với nhiều nhà quan sát, thắng lợi bầu cử của Abelardo de la Espriella tại Colombia và bà Keiko Fujimori ở Peru khẳng định xu thế « Trump hóa » ở châu Mỹ, đặc biệt là Nam Mỹ, với một kiểu liên minh quốc tế các đảng cánh hữu cực đoan đang được hình thành để cùng giải quyết một số vấn đề. Thomas Posado, giảng viên về Văn minh châu Mỹ Latinh đương đại, trường đại  học Rouen Normandie, trên trang Huffpost, phân tích : « Donald Trump chắc chắn là một trong những động lực thúc đẩy sự cực đoan hóa này. Đầu tháng 3 năm nay, ông đã triệu tập Liên minh "Lá chắn châu Mỹ", tập hợp tất cả các tổng thống cánh hữu và cực hữu của châu Mỹ Latinh, dẫn đến việc hình thành kiểu liên minh này, một liên minh trông giống như sự phục tùng hơn. Nói cách khác, họ đang cố gắng tận dụng thành công của Donald Trump. Họ đang cố gắng tận dụng triển vọng nhận được tài trợ từ Mỹ. » Quả thật Nhà Trắng đã có sự can thiệp về ngoại giao chưa từng có vào các cuộc bầu cử ở châu Mỹ Latinh. Ông Donald Trump không ngần ngại khoe khoang rằng những thành công bầu cử đạt được là nhờ sự ủng hộ của ông. Tuy nhiên, theo các nhà quan sát, Donald Trump có xu hướng sử dụng kiểu ngoại giao dọa dẫm, cứng rắn hơn là mềm mỏng với các nước Nam Mỹ. Tại Achentina, ông đặt điều kiện viện trợ của Mỹ phụ thuộc vào chiến thắng của Javier Milei trong cuộc bầu cử lập pháp năm 2025 và đã ký kết thỏa thuận thương mại với đồng cấp Achentina sau thắng lợi bầu cử. Nhưng thỏa thuận này chủ yếu mang lại lợi ích cho nông dân Mỹ tại thị trường Achentina. Nếu như liên minh này nhằm mục đích chống các băng đảng ma túy như được thể hiện tại kỳ họp thượng đỉnh « Lá chắn châu Mỹ », thì mục tiêu chính của ông Trump là Trung Quốc. Tại khu vực này, Bắc Kinh là đối tác thương mại hàng đầu và do vậy, nguyên thủ Mỹ đang nỗ lực hạn chế tầm ảnh hưởng này của Trung Quốc. Nước Mỹ của Donald Trump muốn giành lại chỗ đứng ở Nam Mỹ, và để đạt mục tiêu này, họ không ngần ngại sử dụng các biện pháp gây áp lực chính trị. Học thuyết Donroe có duy trì được liên minh ? Theo Thomas Posado, đây chính là điểm hạn chế của liên minh của Hoa Kỳ với các nhà lãnh đạo cực hữu Nam Mỹ. « Ví dụ, vấn đề Trung Quốc ngay từ đầu đã là một cái gai trong mắt phe cực hữu ở châu Mỹ Latinh. Khi vận động tranh cử, những người như Bolsonaro hay Milei đều tuyên bố, "Không bao giờ nữa, đó là chủ nghĩa cộng sản Trung Quốc, chúng ta sẽ không giao thương với họ." Nhưng khi lên cầm quyền, họ nhận ra rằng đã tồn tại những mạng lưới thương mại vận hành hiệu quả, các doanh nghiệp cần giao dịch với Trung Quốc và có những cơ hội mà Hoa Kỳ không thể mang lại. Vì vậy, chúng ta sẽ phải chờ xem Hoa Kỳ có thể đảo ngược những động lực quyền lực này hay không. Hiện tại, bất chấp mọi tuyên bố về ý chí chính trị từ các nhà lãnh đạo cực hữu, vẫn chưa có thay đổi đáng kể nào trên mặt trận này. » Học thuyết Donroe cũng vì thế mà ra đời. Trong nỗ lực giành lại ảnh hưởng, Donald Trump đã dùng lại học thuyết Monroe nhưng theo cách của ông. Học thuyết Monroe được đưa ra dưới thời tổng thống Theodore Roosevelt (1901-1909) nhằm loại trừ  ảnh hưởng của châu Âu khỏi khu vực. Nhưng thay vì « giơ cao đánh khẽ » thì Donald Trump lại sử dụng biện pháp « đao to búa lớn » nhằm áp đặt thế bá quyền của Mỹ. Theo « học thuyết Donroe » mới này, châu Mỹ Latinh phải trở lại là « sân sau » của Mỹ, hiện đang tìm cách chiếm đoạt các nguồn tài nguyên chiến lược như những gì đã diễn ra ở Venezuela. Trả lời trang HuffPost, nhà nghiên cứu về châu Mỹ Latinh, Thomas Posado, lưu ý, chiến lược này của chính quyền Trump là con dao hai lưỡi : « Chúng ta

  4. Jul 2

    Nhân dân tệ : Chiến lược của Trung Quốc để « cạnh tranh » với đô la Mỹ

    Ngày 17/06/2026, Trung Quốc thông báo một loạt các biện pháp mới nhằm thúc đẩy quốc tế hóa đồng nhân dân tệ. Bắc Kinh tiến thêm một bước trong một chiến lược lớn hơn hướng tới quốc tế hóa nhân dân tệ để giảm dần sự phụ thuộc vào đô la Mỹ, và xác lập một vị trí trong hệ thống thanh toán tài chính toàn cầu nhằm khẳng định vị thế của một cường quốc kinh tế, công nghệ và quân sự. Cụ thể, Bắc Kinh cho phép sáu ngân hàng nhà nước, bao gồm cả Ngân hàng Trung Quốc và Ngân hàng Xây dựng Trung Quốc thực hiện các giao dịch bằng nhân dân tệ với nước ngoài tại vùng đặc quyền kinh tế Thượng Hải. Một kế hoạch hành động với ba thời điểm mốc là 2027, 2030 và 2035 cũng được công bố. Ngoài ra, theo Reuters, Bắc Kinh loan báo thành lập một cơ chế mới có tên gọi FIMA RMB Repo, nhằm tạo thuận lợi cho các ngân hàng trung ương nước ngoài, các quỹ đầu tư quốc gia và các định chế tài chính quốc tế  tiếp cận thanh khoản bằng nhân dân tệ, thông qua việc sử dụng trái phiếu Trung Quốc có xếp hạng tín nhiệm cao làm tài sản thế chấp để vay nhân dân tệ. Phản đối thế thống trị của đô la Giới quan sát đánh giá đây là một bước tiến mới trong nỗ lực quốc tế hóa nhân dân tệ mà Bắc Kinh thực hiện từ hơn hai thập niên qua với một mục tiêu rất rõ ràng : Củng cố vai trò của đồng nhân dân tệ trong giao thương quốc tế và dự trữ ngoại hối, đồng thời giảm thiểu các rủi ro do sự phụ thuộc vào đồng đô la Mỹ. Cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008-2009 là một ví dụ điển hình, khiến Trung Quốc đặc biệt lo lắng, do quy mô danh mục đầu tư vào các trái phiếu Mỹ mà nước này nắm giữ. Chuyên gia về châu Á,và kinh tế Trung Quốc, Philippe Aguigner, hiện giảng dạy tại trường INALCO, trong bài phân tích đăng trên trang mạng của Viện Montaigne, ngày 14/10/2025, lưu ý, từ khi cải cách kinh tế và tiền tệ năm 1979 cho đến khi gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) năm 2001 và nhất là trước cuộc khủng hoảng tài chính 2008, Trung Quốc « chỉ tập trung vào việc quản lý dòng vốn ra vào mà không tìm cách cạnh tranh với đô la cũng không muốn quốc tế hóa nhân dân tệ ». Khủng hoảng xảy ra, Bắc Kinh tỏ thái độ không hài lòng đối với hệ thống tiền tệ lấy đô la làm trung tâm, theo như nhận xét của Barry Eichengreen, một nhà nghiên cứu về hệ thống tiền tệ quốc tế với nhật báo kinh tế Les Echos: « Thực ra từ năm 2009, Trung Quốc đã và đang thực hiện các bước nhằm thúc đẩy việc sử dụng rộng rãi hơn đồng tiền của mình trong các giao dịch xuyên biên giới. Trung Quốc nhận thấy những rủi ro của việc phụ thuộc vào đồng tiền của nước khác, cụ thể là phụ thuộc vào đồng đô la Mỹ - đặc biệt trong bối cảnh chính sách kinh tế và đối ngoại của Mỹ trở nên khó đoán định. » Cùng với thời gian, việc kinh tế Trung Quốc hội nhập sâu hơn vào thế giới đã làm thay đổi diện mạo. Thâm hụt mậu dịch của Mỹ với Trung Quốc ngày càng lớn, biến Bắc Kinh thành tâm điểm chỉ trích. Washington cáo buộc Trung Quốc thao túng tiền tệ để kích thích xuất khẩu. Căng thẳng thương mại Mỹ - Trung đã gia tăng khi Donald Trump bước vào Nhà Trắng năm 2017 và nhất là trong nhiệm kỳ II (bắt đầu vào năm 2025) với những cuộc chiến thuế quan. Kiểm soát dòng vốn : Rào cản để quốc tế hóa đồng yuan Đối với Bắc Kinh, việc chính quyền Trump hiện nay hành động ngoài cơ chế đa phương, áp đặt tùy tiện các mức thuế quan, sử dụng các biện pháp trừng phạt tài chính và theo đuổi các chính sách ngân sách thiếu trách nhiệm, minh chứng rõ ràng cho những nguy cơ đe dọa sự ổn định của hệ thống tài chính toàn cầu mà Trung Quốc đã lên án từ lâu nay. Từ góc nhìn này, Phan Công Thắng (Pan Gongsheng), thống đốc ngân hàng trung ương Trung Quốc, tại Diễn đàn Tài chính châu Á, tổ chức ở Thượng Hải vào tháng 6/2025 đã bày tỏ mong muốn tái cân bằng hệ thống tiền tệ quốc tế và công bố các mục tiêu của Bắc Kinh nhằm « đưa nhân dân tệ trở thành đồng tiền trụ cột chứ không phải thay thế đô la » điều mà dẫu sao « đồng nhân dân tệ hiện cũng chưa có khả năng thực hiện ». Quan điểm này của Bắc Kinh đã được chủ tịch Tập Cận Bình, một lần nữa tái khẳng định trong bài viết đăng trên tạp chí Cầu Thị (Qiushi), cơ quan lý luận chủ chốt của đảng Cộng sản Trung Quốc, vào cuối tháng 01/2026 : « Điều gì làm nên một cường quốc tài chính ? Trước hết, quốc gia đó phải sở hữu một đồng tiền mạnh, được sử dụng rộng rãi trong thương mại quốc tế, đầu tư và trên các thị trường ngoại hối, đồng thời giữ vị thế là một đồng tiền dự trữ toàn cầu. » Tuy nhiên, để đồng yuan có được một thế mạnh trên thế giới, Trung Quốc phải mở rộng cửa thị trường tài chính, cho đến hiện tại vẫn bị kiểm soát chặt chẽ. Nghĩa là, theo như giải thích từ nhà kinh tế học Eric Monnet, chuyên gia về tiền tệ, giáo sư trường Kinh tế Paris, với nhật báo kinh tế Les Echos, « phải là bất kỳ ai, khi nói "bất kỳ ai" tức là cả nhà đầu tư tư nhân lẫn nhà đầu tư công, đặc biệt là các ngân hàng trung ương lớn, đều có thể dễ dàng mua đồng tiền đó vào bất cứ lúc nào. Điều này có nghĩa là đã phải tồn tại các thị trường để thực hiện việc đó. Và bất kỳ nhà đầu tư nào cũng có thể mua đồng tiền đó ở bất kỳ đâu và thông thường cũng có thể bán lại mà không gặp nhiều khó khăn », Bài học kinh nghiệm 2015 Nói một cách ngắn gọn : Một đồng tiền quốc tế là phải dễ mua, dễ bán và có một thị trường toàn cầu hoạt động liên tục. Đây chính là điểm mạnh của đồng đô la Mỹ, điều mà nhân dân tệ Trung Quốc vẫn thiếu. Bắc Kinh hiểu rõ các hạn chế : Công cụ hiệu quả nhất để đẩy mạnh đồng yuan là phải tự do hóa tài khoản vốn, nhưng nếu mở cửa, nguy cơ tháo chạy vốn là rất cao. Đó là những gì từng diễn ra vào năm 2015 khi Trung Quốc nới lỏng kiểm soát dòng vốn. Biện pháp này đã dẫn đến việc tháo chạy dòng vốn ồ ạt, gây thiệt hại cho Trung Quốc đến gần 1.000 tỷ đô la dự trữ ngoại hối, và cuối cùng phải quay trở lại với chính sách kiểm soát chặt chẽ. Theo phân tích của nhà kinh tế học Eric Monnet : « Trung Quốc khá do dự khi thực hiện biện pháp này, bởi vì điều đó có nghĩa là các nhà đầu tư có thể mua nhưng cũng có thể bán nợ của Trung Quốc một cách tự do, và do vậy, chúng có thể gây áp lực lên chính phủ cũng như lên các khoản đầu tư tại Trung Quốc. Điều đó cũng đồng nghĩa với việc phải chấp nhận rằng các quốc gia nước ngoài có thể nắm giữ những phần sở hữu lớn trong các doanh nghiệp, v.v… » Dù nỗ lực muốn một đồng yuan mạnh và phổ biến trên thế giới, nhưng đối với Bắc Kinh, việc kiểm soát được dòng vốn còn là một lá chủ bài quan trọng cho nền kinh tế, cho phép giữ giá đồng yuan thấp so với các loại ngoại tệ khác, và như vậy, giúp hỗ trợ ngành xuất khẩu của Trung Quốc. Cho đến hiện tại Bắc Kinh tiến hành từng bước quốc tế hóa đồng yuan với các biện pháp có mục tiêu và đặt cược vào mô hình ít tự do hơn, phù hợp với cấu trúc nền kinh tế đất nước, bằng cách thực hiện các khoản vay song phương gắn liền với các giao dịch thương mại. Nhà kinh tế học Eric Monnet giải thích tiếp : « Nghĩa là Ngân hàng Trung ương Trung Quốc chỉ cho một ngân hàng trung ương khác vay khi quốc gia đó cam kết mua hàng hóa Trung Quốc bằng đồng nhân dân tệ. Thực chất, chúng ta đang quay trở lại một cách nhìn về tiền tệ quốc tế hoàn toàn gắn với thương mại và ít dựa hơn vào sự thống trị của các thị trường tài chính. » Bước cải cách hệ thống kinh tế - tài chính này được đưa ra vào một thời điểm khá thuận lợi cho Trung Quốc:  Vị thế của đồng yuan trên trường quốc tế đang được củng cố. Trung Quốc chiếm một vị trí ngày càng quan trọng trong nền kinh tế thế giới. Các nước như Nga, Iran đã bắt đầu giao dịch với Trung Quốc bằng đồng yuan thay vì đô la. Về phần mình, Bắc Kinh mua ngày càng nhiều dầu hỏa Trung Đông bằng nhân dân tệ. Trung Quốc cũng đã phát tri

  5. Jun 25

    Lực lượng Hezbollah Liban và những cội rễ của xung đột Israel - Iran

    Cái tên Hezbollah một lần nữa trở thành tâm điểm của thời sự quốc tế khi tương lai hòa bình hay chiến tranh giữa Mỹ và Iran được quyết định một phần chủ yếu tại vùng biên giới Liban – Israel, nơi quân đội Israel đối đầu với lực lượng Hezbollah.  Từ eo biển Hormuz Vùng Vịnh đến sông Litani, miền nam Liban  Điều 1 của Thỏa thuận sơ bộ Mỹ - Iran 14 điểm yêu cầu đình chiến tại Liban, bảo đảm toàn vẹn lãnh thổ và chủ quyền của Liban, cũng có nghĩa là Israel phải rút khỏi các vùng đất đang kiểm soát tại đây. Teheran từng đe dọa đóng cửa trở lại eo biển Hormuz, nếu khu vực miền Nam Liban, cách đó 2.000 km, chưa im tiếng súng. Cuối năm 2024, sau khi thủ lĩnh tối cao Hassan Nasrallah và hàng loạt lãnh đạo cao cấp của Hezbollah bị Israel hạ sát, lực lượng này tưởng như đang trên đường suy tàn. Cuộc chiến Mỹ - Israel chống Iran rút cuộc đưa Hezbollah trở lại tuyến đầu. Hezbollah được biết đến vừa như một đảng chính trị của cộng đồng Hồi giáo theo hệ phái Shia tại Liban, nhưng đồng thời cũng là một tổ chức vũ trang, được mệnh danh là « một nhà nước trong nhà nước ». Hezbollah được một số cơ sở nghiên cứu xếp vào « lực lượng vũ trang phi nhà nước » lớn nhất khu vực. Lá cờ của tổ chức này nổi bật với cụm từ « Hezbollah », có nghĩa là « Đảng của Thượng Đế », với một cánh tay cầm khẩu súng trường AK-47, tượng trưng cho chủ trương tranh đấu vũ trang, chống lại các thế lực áp bức (xem thêm What Is Hezbollah?, Viện tư vấn Council on Foreign Policy).   Hezbollah, sản phẩm « made in 1982 » của chế độ Hồi giáo Iran? Hezbollah thường được coi là một tổ chức do chế độ thần quyền Iran lập ra, sau cuộc Cách mạng Hồi giáo 1979, để phục vụ các mục tiêu của Teheran. Tuy nhiên, đối với nhiều chuyên gia, quá trình ra đời của lực lượng này cho thấy mối quan hệ lâu đời giữa các cộng đồng Hồi giáo theo hệ phái Shia ở Liban với Iran. Trả lời RFI tiếng Việt, nhà báo Farid Fatemi, Ban tiếng Persan RFI, nhận định : « Hezbollah là một sản phẩm, có thể nói là hệ quả trực tiếp của cuộc Cách mạng Hồi giáo Iran. Vào thời điểm Cách mạng Iran nổ ra, người ta thường nói đến « xuất khẩu cách mạng ». Chế độ Iran đã nhanh chóng tận dụng những mối quan hệ lâu đời  giữa giới giáo sĩ theo hệ phái Hồi giáo Shia Iran và cộng đồng Shia ở Liban, đặc biệt là ở miền nam Liban. Chẳng hạn, Iran đã cử các thành viên của Vệ binh Cách mạng Hồi giáo Iran đến miền Nam Liban. Các giáo sĩ Iran cũng đến đó và bắt đầu tổ chức dần dần các nhóm Shia nhỏ lẻ. Cũng đã có những nhóm Shia nhỏ tồn tại từ trước. Họ hỗ trợ và tài trợ cho các nhóm này. Dần dần, những nhóm này hợp nhất lại và Hezbollah ra đời vào đầu thập niên 1980.» Hai thập niên Israel chiếm đóng miền nam Liban và sự ra đời, lớn mạnh của Hezbollah  Cho dù chế độ Hồi giáo Iran muốn xuất khẩu cách mạng, theo nhiều nhân chứng, Hezbollah sẽ không thể hình thành với hình thức như sau này, nếu không có việc Israel chiếm đóng miền nam Liban với mục tiêu thoạt tiên là để đánh đuổi các lực lượng Palestine lưu vong. Đọc thêm -  Điểm lại lịch sử tranh đấu vì độc lập: Từ "20 năm bị xóa sổ" đến Nhà nước Palestine Nhiều thập niên sau, cựu thủ tướng Israel Ehud Barak thừa nhận: « Khi chúng tôi tiến vào Liban, Hezbollah chưa hề tồn tại. Chúng tôi đã được người Hồi giáo dòng Shia ở miền nam chào đón bằng cơm thơm và hoa. Chính sự hiện diện của chúng tôi tại đó đã tạo ra Hezbollah ». Nhận định trên đây được trích dẫn trong một bài viết của Matthew Levitt, chuyên gia chống khủng bố, từng làm việc cho FBI (Le Hezbollah au Liban : Concilier allégeance à l'Iran, militantisme panchiite et politique intérieure). Hezbollah được thành lập trong thời kỳ hỗn loạn của cuộc Nội chiến Liban (1975–1990), nhưng chính cuộc chiếm đóng kéo dài của Israel tại miền nam Liban là giai đoạn mà Hezbollah nổi lên như một lực lượng chính trị lớn tại Liban, và tổ chức duy nhất được phép duy trì lực lượng vũ trang riêng tại Iran, theo Thỏa thuận Taif năm 1989, chấm dứt nội chiến. Nhà báo Farid Fatemi nhận định: « Vì miền nam Liban bị Israel chiếm đóng, Hezbollah đã tiến hành một cuộc chiến tranh tiêu hao chống lại Israel tại đây. Cuối cùng, sau gần 20 năm chiếm đóng, Israel buộc phải rút quân khỏi miền nam Liban vào năm 2000. Khi Israel rút đi, sự kiện này đã trở thành một chiến thắng vinh quang đối với Hezbollah. Họ tuyên bố: ''Chính chúng tôi đã kháng cự, buộc Israel phải rời đi. Không phải chính phủ Liban, mà là Hezbollah đã kháng cự và đuổi được Israel ra khỏi đất nước.''  Từ đầu những năm 2000, Hezbollah đã xây dựng được uy tín và dần dần trở thành một thể chế ở Liban. Đó không chỉ là một lực lượng quân sự, mà còn là một lực lượng chính trị. » « Trục kháng chiến » : Sức mạnh quân sự của một thành phần chủ chốt Sức mạnh quân sự của Hezbollah không chỉ áp đảo quân đội Liban. Cho đến trước cuộc chiến tranh 2023-2024 với Israel, tổ chức này được coi là sở hữu kho tên lửa từ 100.000 đến 130.000 trái, có thể tấn công mọi vị trí tại Israel, và được xem như có thể tạo ra sức mạnh răn đe đáng kể khiến Israel phải dè chừng (theo nhà nghiên cứu Jean-Loup Samaan). Lực lượng vũ trang của Hezbollah bao gồm khoảng 25.000 tay súng thường trực, cùng với khoảng 20.000 quân dự bị (theo tài liệu tổng hợp của Trường Quân sự Paris, « L’axe de la résistance », l’expansionnisme régional iranien, Trung tâm Tài liệu của Trường Quân sự Paris, 2021). Trên thực tế, theo nhiều nhà quan sát phương Tây, sức mạnh quân sự chủ yếu của Hezbollah nằm ở chỗ lực lượng này được coi là một bộ phận chủ chốt trong số các lực lượng ủy nhiệm của Iran ở nước ngoài, được đặt dưới sự điều hành trực tiếp của lực lượng al-Qods của Vệ binh Cách mạng Hồi giáo Iran. Al-Qods với khoảng 15.000 người, là lực lượng điều phối của nhiều nhóm vũ trang từ bờ đông Địa Trung Hải (bao gồm Liban) đến bán đảo Ả Rập, và Afghanistan, Pakistan và khu vực Trung Á, để thực hiện các mục tiêu của Teheran. Đây là liên minh thường được gọi là « Trục Kháng chiến », mà Iran chủ trương để chống lại các tham vọng của Mỹ và Israel. « Wilāyat al-faqīh » và sự thống trị của Iran trong thế giới Hồi giáo Shia Trong liên minh dưới sự chỉ đạo của Iran, học thuyết Velayat-e Faqih dành cho giới giáo sĩ tiếng nói quyết định đã là nguyên tắc cho phép khẳng định sự trung thành của Hezbollah với Giáo chủ tối cao Iran, được xem như người có uy tín tuyệt đối với đông đảo tín đồ Hồi giáo Shia tại Liban. Đây được coi là lý do chính khiến Hezbollah là lực lượng đầu tiên tham chiến chống lại Israel, sau khi Mỹ và Israel tiến hành chiến dịch quân sự hạ sát giáo chủ tối cao Khamenei. Nhà báo Farid Fatemi cho biết : « Học thuyết Velayat-e Faqih đã tái sử dụng khái niệm chống Mỹ và chống « chủ nghĩa Zion », tức chủ nghĩa phục quốc Do Thái, để tăng cường ý thức hệ, đem lại sắc thái tôn giáo cho các tư tưởng này, và giúp các tư tưởng này thâm nhập vào cộng đồng người Shia Liban. Học thuyết này ban đầu mang ý nghĩa thuần túy tôn giáo, nhưng mất dần ý nghĩa tôn giáo sau đó. Để so sánh, điều này cũng tương tự như khái niệm « chuyên chính vô sản », sau đó mất hoàn toàn ý nghĩa và chỉ còn là công cụ để khẳng định chế độ độc tài, như chế độ của Stalin chẳng hạn. Đặc biệt, khi Hiến pháp Iran thêm từ ''tuyệt đối'' vào học thuyết Velayat-e Faqih, điều đó có nghĩa là giáo chủ tối cao có thể làm bất cứ điều gì mà họ muốn. Hezbollah cũng cố gắng làm điều tương tự ở Liban. » Đọc thêm : Vì sao hệ thống quyền lực của chế độ Hồi giáo Iran có khả năng kháng cự cao? Hezbollah bám rễ trong xã hội Liban Học thuyết Velayat-e Faqih và các diễn ngôn Hồi giáo Shia của nhánh 12 imam tử đạo đã được Hezbollah sử dụng hiệu quả trong việc xây dựng một cộng đồng xã hội được tổ chức chặt chẽ tại Liban, khiến cho mọi nỗ lực loại trừ lực lượng này từ phía chính quyền trung ương chắc chắn sẽ dẫn đế

  6. Jun 18

    Chiến tranh Iran làm xoay chuyển những thế cờ chiến lược ở Trung Đông và Nam Á

    Ngày 14/06/2026, Hoa Kỳ và Iran thông qua trung gian hòa giải Pakistan sau thông báo đạt đồng thuận chấm dứt chiến tranh Trung Đông. Hôm qua, 17/06, nguyên thủ Mỹ và Iran đã ký văn bản này. Bộ Ngoại Giao Thụy Sĩ hôm nay 18/06, cho biết hai bên sẽ bắt đầu đàm phán việc thực thi thỏa thuận vào ngày mai, 19/06, tại Lucerne, Thụy sĩ. Trả lời phỏng vấn của RFI Tiếng Việt, ngày 17/06, nhà nghiên cứu Didier Chaudet, chuyên gia địa chính trị về thế giới Ba Tư, Trung – Nam Á cho rằng vòng đàm phán sắp tới sẽ mang tính quyết định liên quan đến nhiều vấn đề. Cuộc chiến hơn 100 ngày chiến tranh giữa liên quân Mỹ - Israel và Iran đang làm chuyển dịch các thế cờ chiến lược ở Trung Đông và Nam Á.   ----- ***** ----- RFI Tiếng Việt : Xin chào ông Didier Chaudet. Ông đánh giá như thế nào về thông báo thỏa thuận giữa Mỹ và Iran ? Đó là một thắng lợi của Iran, một sự sỉ nhục cho Mỹ hay một thất bại chiến lược của Israel ? Didier Chaudet : Người ta nói rằng đó sẽ là một sự sỉ nhục đối với Hoa Kỳ hoặc một chiến thắng lớn cho Iran. Họ thường bỏ qua thực tế rằng, thực ra, Iran đã trải qua một cú sốc—một cú sốc đối với người dân, một cú sốc đối với nền kinh tế. Rồi còn có sự đoàn kết của người dân. Tất nhiên, có một mặt trận thống nhất, nhưng sự đau khổ là có thật, sự suy yếu là có thật. Quả thật, Hoa Kỳ, bị sỉ nhục trong logic về quyền lực tuyệt đối của mình, có lẽ, hoặc đúng hơn, đã phải đối mặt với một thực tế nhất định. Trên thực tế, Trump đã rơi vào cái bẫy tương tự như W. Bush, tin rằng ông có thể tấn công mà không bị trừng phạt ở bên kia thế giới. Ông nghĩ Iran là Venezuela. Thực tế đã giáng cho ông ta một cú đánh mạnh. Ông ấy nghĩ rằng mình sẽ thắng cuộc rất nhanh chóng, rằng ông sẽ thực hiện một cuộc đảo chính như những gì đã làm với Maduro ở Venezuela. Nhưng Iran không phải là châu Mỹ Latinh, và họ đã thích nghi cho phù hợp. Bởi vì khi chúng ta nói về sự sỉ nhục, chúng ta muốn nói rằng đó sẽ là một đòn giáng mạnh vào Hoa Kỳ. Điều này tương tự sau chiến tranh Irak, và sau khi Taliban trở lại Afghanistan. Xét cho cùng, chúng ta đang đối phó với một cường quốc có khả năng gây áp lực ở những nơi khác. Nước Mỹ dưới thời Trump dường như ngày càng quan tâm đến Cuba. Người ta sẽ lại nói về thuế quan, bao gồm cả rượu vang Pháp. Chúng ta có nguy cơ sẽ nghe thêm về lợi ích lãnh thổ của Mỹ ở các khu vực khác, đặc biệt là ở châu Âu. Chúng ta phải cẩn thận không được đánh giá thấp khả năng phục hồi của người Mỹ, ngay cả sau những thất bại. Hơn nữa, chúng ta thực sự không thể nói ai thắng ai thua trong cuộc chiến này. Sau lệnh ngừng bắn 60 ngày, hiện tại, chúng ta hoàn toàn không biết mọi việc sẽ diễn biến như thế nào. Cuộc chiến hơn 100 ngày giữa Mỹ và Iran đã có tác động ra sao đến vùng Trung Đông ? Didier Chaudet : Tại khu vực Vịnh Ba Tư nói riêng, chúng ta đang thấy nhiều quốc gia nhận ra rằng năng lực bảo vệ và hỗ trợ từ phía Mỹ về quân sự – kể cả từ các đồng minh như Pháp hay Anh – trên thực tế là rất hạn chế. Nói cách khác, khi đối diện với một mối đe dọa thực sự, không phải Mỹ, Pháp hay Anh sẽ đứng ra bảo vệ Các Tiểu Vương Quốc Ả Rập Thống Nhất, Qatar, và càng không phải Ả Rập Xê Út. Vì vậy, việc cho phép các căn cứ quân sự của Mỹ được thiết lập trong khu vực, với kỳ vọng rằng điều đó sẽ mang lại an ninh – đặc biệt là đối với Qatar và Các Tiểu Vương Quốc Ả Rập Thống Nhất – ngày nay đã không còn giá trị như trước. Các quốc gia này đang xem xét lại cách thức bảo đảm an ninh của mình. Ả Rập Xê Út đã làm điều đó thông qua một thỏa thuận quốc phòng với Pakistan, một thỏa thuận thực chất, trong đó nếu một bên bị tấn công thì bên kia sẽ hỗ trợ phòng vệ. Dĩ nhiên, vẫn có một mức độ diễn giải nhất định. Hiện nay, không thấy Ả Rập Xê Út tham chiến với Taliban, dù Pakistan đang xung đột với Taliban Afghanistan. Tuy vậy, các mối liên kết rất chặt chẽ đã được thiết lập, giúp Ả Rập Xê Út tăng cường khả năng tự vệ, đồng thời gửi một thông điệp tới Iran : nếu Iran quá hiếu chiến với Riyad, Pakistan sẽ đóng vai trò hậu thuẫn mạnh mẽ hơn trước. Về phía Qatar và Kuwait, người ta cũng nhận thấy một chính sách đi theo hướng này. Trong khi đó, UAE đã lựa chọn một hướng đi khác, dựa nhiều hơn vào Israel và phần nào vào Ấn Độ. Nói cách khác, các nước này đang quay sang các tác nhân trong khu vực, đồng thời đa dạng hóa các mối quan hệ hỗ trợ để bảo vệ mình tốt hơn. Có lẽ, về lâu dài, logic chung sẽ là một chính sách đối ngoại đa hướng, thay vì phụ thuộc vào một « người bảo trợ » duy nhất; họ sẽ dựa vào nhiều lực lượng khác nhau trong quan hệ quốc tế. Tôi cho rằng điểm chung giữa Các Tiểu Vương Quốc Ả Rập Thống Nhất, Qatar, Kuwait và Ả Rập Xê Út là họ sẽ ngày càng trông đợi vào ảnh hưởng của Trung Quốc trong việc mang lại hòa bình cho khu vực, dù điều này có thể diễn ra một cách kín đáo. Ảnh hưởng của Trung Quốc sẽ được họ mong muốn, mà không nhất thiết gạt bỏ ảnh hưởng của Mỹ. Một lần nữa, không nên đánh giá thấp siêu cường Mỹ chỉ vì nước này đã xử lý chưa tốt một số vấn đề trong cuộc chiến vừa qua. Nhưng chúng ta sẽ chứng kiến một dạng cân bằng : một bên là các cường quốc khu vực tham gia nhiều hơn như Pakistan, Israel, Ấn Độ và bên kia là sự hiện diện của các cường quốc lớn, đặc biệt là Mỹ và Trung Quốc, có thể thêm một phần từ Nga. Ngược lại, đối với ảnh hưởng của châu Âu như Anh hay Pháp, thì vẫn còn là một dấu hỏi lớn. Tôi không tin rằng các nước châu Âu sẽ trở nên mạnh hơn trong khu vực này sau cuộc chiến. Với việc giúp Hoa Kỳ và Iran đạt được thỏa thuận khung để bước vào vòng đàm phán mới, phải chăng Pakistan đã ghi một điểm quan trọng trên mặt trận ngoại giao ? Didier Chaudet : Tại Nam Á, bên thắng lớn là Pakistan. Bởi vì, nước này đã tham gia vào tiến trình hòa bình, bởi vì họ có khả năng đối thoại với tất cả các bên, và trên thực tế, họ là tác nhân duy nhất có thể nói chuyện với mọi phía. Iran tin tưởng Pakistan và vẫn tiếp tục tin bởi vì Pakistan không có căn cứ quân sự Mỹ trên lãnh thổ, bởi vì họ tương đối độc lập, bởi vì họ từng có những căng thẳng với Mỹ trong quá khứ, và bởi vì họ là một cường quốc khu vực thực sự, chứ không phải một lực lượng yếu thế so với sức mạnh Mỹ hay các cường quốc phương Tây. Về phía Mỹ, Washington cũng đặt niềm tin vào Pakistan, bởi vì Islamabad đã biết cách chứng minh, đặc biệt trong nhiệm kỳ thứ hai của chính quyền Trump, rằng Pakistan có thể hữu ích cho chính sách đối ngoại của Mỹ, trong lĩnh vực chống khủng bố, hay trong việc ổn định Trung Đông. Đồng thời, từ phía Islamabad cũng tồn tại một mong muốn thể hiện thiện chí với Nhà Trắng và chứng tỏ vai trò hữu ích của mình đối với sự ổn định của khu vực Trung Đông. Do đó, Pakistan nổi lên với vị thế được nâng cao về mặt ngoại giao, đồng thời cũng có cơ hội cứu vãn tình hình kinh tế của mình, bởi nước này đã chịu tổn thất nặng nề do việc eo biển Hormuz bị đóng cửa. Thắng lợi ngoại giao này của Pakistan cũng đã làm bộc lộ những sai lầm chiến lược của Ấn Độ, đối thủ của Islamabad, trong suốt cuộc chiến hơn 100 ngày ở Trung Đông ? Didier Chaudet : Về phía Ấn Độ, chúng ta đang đối diện với một câu hỏi lớn thực sự, bởi vì Ấn Độ hiện đang ở một bước ngoặt. Trong những năm gần đây, nước này đã chấp nhận xích lại gần Mỹ rất nhiều và đã phải trả giá đáng kể. Đặc biệt, Ấn Độ đã đánh mất phần nào quan hệ thân thiện với Teheran, nhất là khi tiếp tục đứng về phía Mỹ và xích lại gần Israel. Cần nhớ rằng ngay trước cuộc chiến giữa một bên là Israel và Mỹ, và bên kia là Iran, đã diễn ra chuyến thăm của thủ tướng Ấn Độ Narendra Modi tới Jerusalem, nhằm thể hiện mình như một đồng minh lớn của Israel. Điều này chắc chắn gây khó chịu cho Iran, trong khi nước này là đối tác then c

  7. Jun 11

    2026 : Kỳ World Cup mang đậm mầu sắc chính trị của Donald Trump

    Ngày 11/06/2026, giải Vô địch Bóng đá Thế giới lần thứ 23 chính thức khai mạc tại ba nước đồng tổ chức là Canada, Hoa Kỳ và Mêhicô, với trận chung kết diễn ra tại New York ngày 19/07/2026. Giữa những tranh cãi về khâu tổ chức, các chỉ trích về chính sách nhập cư, hạn chế visa nhập cảnh và các căng thẳng địa chính trị, tổng thống Mỹ Donald Trump muốn biến kỳ World Cup 2026 thành một vũ đài, thể hiện quyền lực và tầm nhìn về quan hệ quốc tế của ông. Đây là lần đầu tiên lễ hội bóng đá lớn nhất hành tinh, diễn ra mỗi bốn năm một lần, được ba nước đồng tổ chức. Sự kiện này khẳng định hơn nữa xu thế đồng tổ chức các cuộc tranh tài thể thao lớn bắt đầu từ mùa Euro 2008 tại Thụy Sĩ và Áo, Euro 2012 tại Ba Lan và Ukraina, và gần đây nhất là mùa Euro 2020, bị dời lại một năm do đại dịch Covid, diễn ra tại ít nhất 11 nước chủ nhà. Vào năm 2030, Cúp Bóng đá Thế giới sẽ diễn ra tại Tây ban Nha, Bồ Đào Nha và Maroc, với ba trận đấu khác ở Achentina, Paraguay và Uruguay. Đồng tổ chức, đồng chia sẻ chi phí, nhưng cạnh tranh hình ảnh chủ nhà Trong phiên bản 2026, việc chọn Canada, Hoa Kỳ và Mêhicô, được FIFA thông qua vào năm 2018, và theo sáng kiến của cựu tổng thống Mỹ Barack Obama, phản ảnh mong muốn xây dựng một sự kiện bóng đá cấp châu lục quy mô lớn. Theo giải thích của Cyrille Bret, chuyên gia về quan hệ quốc tế, với trang The Conversation, mục tiêu đặt ra là nhằm đáp ứng các yêu cầu kinh tế, theo đó, ba nước cùng chia sẻ chi phí tổ chức, dùng chung cơ sở hạ tầng và hạn chế việc xây dựng các công trình mới. « Những khía cạnh này càng thêm quan trọng hơn khi đây sẽ là kỳ World Cup lớn nhất trong lịch sử : Lần đầu tiên có 48 đội tuyển tham gia vòng chung kết, thi đấu tổng cộng 104 trận. Bảy kỳ World Cup trước đó, kể từ kỳ tổ chức ở Pháp năm 1998, đều có 32 đội tham gia, đấu 64 trận. Con số này còn thấp hơn trước đó nữa, khi chỉ có 24 đội từ năm 1982 đến 1994 và chỉ có 16 đội trước giai đoạn này. Sự gia tăng này là đáng kể và có thể là chưa kết thúc, bởi vì FIFA đang xem xét mở rộng lên 64 đội ngay từ năm 2030. » Tuy diễn ra tại ba nước, nhưng mọi sự chú ý chủ yếu đổ dồn vào Hoa Kỳ, bởi vì 78 trong số 104 trận tranh tài sẽ diễn ra trên lãnh thổ Mỹ, và do vậy Mỹ sẽ là nơi có mật độ phủ sóng truyền thông cao nhất. Trên phương diện xây dựng « thương hiệu quốc gia », đây thực sự là một lợi thế đáng kể. Cyrille Bret lưu ý, « trong vòng một tháng, các hình ảnh được phát sóng ra toàn thế giới chủ yếu sẽ giới thiệu các thành phố lớn của Mỹ. » Nhưng để có được lợi thế này, nhà địa chính trị học về thể thao, Pascal Boniface, giám đốc Viện Quan hệ Quốc tế và Chiến lược (IRIS), trong chương trình truyền hình của France 24, nhắc lại, đích thân Donald Trump, trong nhiệm kỳ I đã can thiệp « một cách thô bạo » trong quá trình bầu chọn ứng viên đăng cai World Cup : « Lần đầu tiên một tổng thống đe dọa trừng phạt những nước nào không bỏ phiếu cho Mỹ. Thông thường một tổng thống, một nguyên thủ quốc gia chỉ làm công tác quan hệ công chúng. Vì mỗi liên đoàn có một lá phiếu, và người ta biết ai bỏ phiếu cho ai, thế nên ông Trump đã đe dọa sẽ trừng phạt những nước nào bỏ phiếu cho Maroc, một ứng viên khác. Đây thực sự là một tiền lệ chưa từng có. » Dù có ít trận đấu diễn ra trên lãnh thổ, nhưng Canada và Mêhicô cũng sẽ nỗ lực thể hiện tầm cỡ của mình trong việc bảo đảm an ninh, giao thông và cơ sở hạ tầng. Chuyên gia Cyrille Bret cho rằng « hai nước còn lại có thể tạo sự khác biệt thông qua hình ảnh như giới thiệu thành phố chủ nhà, cảnh quang hay di sản của họ, những yếu tố vô cùng quý giá, góp phần xây dựng danh tiếng quốc tế, một thương hiệu quốc gia tiếng tăm ». Cũng theo vị chuyên gia về quan hệ quốc tế, tuy đồng tổ chức nhưng còn có sự cạnh tranh về lòng hiếu khách. Các cổ động viên trên toàn thế giới sẽ so sánh cách tiếp đón tại mỗi nước. Liệu rằng nước Mỹ của Donald Trump với chủ trương « Nước Mỹ trên hết » có sẽ được đánh giá là nơi tiếp đón nồng nhiệt nhất so với hai quốc gia láng giềng hay không ? Trump đăng cai World Cup nhưng hạn chế cổ động viên nhập cảnh Về điểm này, Hoa Kỳ có lẽ đang mất lợi thế trước hai đối thủ cạnh tranh là Canada và Mêhicô. Việc đăng cai một sự kiện thể thao lớn cho phép nước chủ nhà nhấn mạnh tầm quan trọng của một quốc gia. nhưng những căng thẳng chính trị nội bộ và các xung đột địa chính trị đang làm dấy lên nỗi lo cho một thảm họa thể thao to lớn. Chính sách siết chặt nhập cư và hạn chế visa nhập cảnh của chính quyền Trump đang đi ngược lại với tinh thần của World Cup là mở cửa ra thế giới. Theo quan điểm của Cyrille Bret, đây chính là sự mâu thuẫn cốt lõi của chủ nghĩa Trump. Một mặt ông tìm cách thể hiện sự hiện diện toàn cầu của nước Mỹ, và mặt khác, ông chủ trương đóng cửa biên giới nghiêm ngặt, ngăn cản công dân các quốc gia có đủ điều kiện tham dự World Cup đến Mỹ cổ vũ cho đội nhà. Trong một phóng sự của France 24, Boubacar Seye, chủ tịch hiệp hội Horizon sans Frontières, bảo vệ quyền người di cư Senegal, quốc gia nằm trong danh sách các nước bị hạn chế cấp visa, đã chỉ trích mạnh mẽ chính sách này của chính quyền Trump là khó hiểu : « Lễ hội đã bị phá hỏng rồi. Bởi vì không thể tổ chức World Cup mà không có người hâm mộ. Điều đó là chưa từng có tiền lệ. Senegal cần phản đối bằng con đường ngoại giao. Họ cần liên hệ với FIFA, họ cần liên hệ với các tổ chức nhân quyền. » Chính sách cứng rắn này của Trump là hữu ích về mặt chính trị. Hình ảnh về sự kiên quyết bảo vệ biên giới vẫn được một bộ phận cử tri của ông ủng hộ. Cách đánh giá này cũng được Kevin Veyssière, chuyên gia địa chính trị thể thao, trả lời France 24 cùng chia sẻ : « Trên bình diện đối nội, ông sử dụng giải đấu để thách thức việc đăng cai các trận đấu của một số thành phố do đảng Dân Chủ điều hành và có bất đồng với chính sách của ông. Điều này là quan trọng bởi vì bầu cử giữa kỳ sẽ diễn ra vài tháng sau kỳ World Cup. Ông hy vọng rằng mùa bóng này sẽ là một lợi thế để giành thắng lợi bầu cử ». Nước chủ nhà và nước dự giải trong chiến tranh Một ẩn số khác trong kỳ World Cup lần này là sự tham dự của Iran. Lần đầu tiên trong lịch sử bóng đá, nước chủ nhà và nước tham dự giải đấu trong tình trạng chiến tranh từ hơn ba tháng nay. Sự hiện diện của tuyển Iran trở thành một thách thức ngoại giao. Nhà địa chính trị về thể thao Pascal Boniface nhắc lại, trong quá khứ, vào năm 1998, khi Mỹ và Iran vào thời điểm đó cũng trong tình trạng chiến tranh, đã cho thế giới thấy một hình ảnh tích cực : « Vào năm 1998, hai đội đã chụp ảnh chung, và các cầu thủ Iran đã tặng hoa hồng trắng cho các cầu thủ Mỹ. Đó là thời kỳ xích lại gần nhau về mặt ngoại giao giữa Hoa Kỳ dưới thời Bill Clinton và Iran dưới thời Katami. » Về phần mình, Cyrille Bret lưu ý : « Những cuộc tranh tài thể thao lớn không tạo ra những căng thẳng quốc tế nhưng chúng làm nổi rõ những vấn đề đó. Thể thức tham gia của Iran sẽ phụ thuộc chủ yếu vào tình trạng quan hệ giữa Washington và Teheran vào thời điểm diễn ra giải đấu – một mối quan hệ biến động gần như hàng ngày. Vấn đề này có thể trở thành, giống như một số vụ tẩy chay Olympic trong quá khứ, một công cụ để gây áp lực hoặc đàm phán. Người ta đã biết rằng đội tuyển Iran, theo nguyên tắc sẽ thi đấu các trận của họ trên lãnh thổ Hoa Kỳ, cuối cùng đóng trại tại Tijuana, Mêhicô, gần biên giới với Mỹ, và sẽ phải di chuyển đi về trong cùng một ngày. Nhưng World Cup chỉ đơn thuần là sự phản ánh của một động lực quyền lực đã tồn tại từ trước. » Ở đây một lần nữa chính quyền Trump áp đặt luật chơi đối với một sự kiện thể thao lớn. Trả lời France 24 Kevin Veyssière cho rằng, « trên trường quốc tế, Hoa Kỳ rõ ràng không cần World Cup để củng cố quyền lực mề

  8. Jun 4

    Hòa bình cho Ukraina: Đối thoại EU – Nga và những bài học Minsk

    Đầu năm 2026, nhiều thúc đẩy từ phía Nga cũng như nội bộ chính giới châu Âu để Liên Âu trực tiếp đối thoại với điện Kremlin nhằm tìm ra giải pháp chấm dứt cuộc chiến tranh Nga – Ukraina, kéo dài từ hơn 4 năm nay. Đầu tháng 6, trước thềm thượng đỉnh của khối 27 nước ngày 18-19/06/2026, theo một số thông tin báo chí, giới lãnh đạo châu Âu có thể đề nghị với Nga « một thỏa thuận ngừng bắn », như một điều kiện tiên quyết trước khi bước vào đàm phán chính thức.  *** Việc khối 27 nước tìm lập trường thống nhất để đối thoại trực tiếp với Nga là một diễn biến mới, và đáng được khích lệ, trong bối cảnh cho đến nay, « Liên Hiệp Châu Âu gánh vác một phần chủ yếu và ngày càng lớn cái giá về kinh tế, tài chính cũng như về chính trị của cuộc xung đột này, nhưng lại bị gạt ra bên lề trong các cuộc đàm phán quan trọng » (Le Diplomat). Thống nhất lập trường, duy trì áp lực để buộc Nga có giải pháp chấm dứt chiến tranh là điều cần thiết, tuy nhiên, nhiều chuyên gia hàng đầu cảnh báo, một thỏa thuận ngừng bắn vội vàng với Nga là lợi bất cập hại. Đọc thêm : Nan giải của châu Âu là tìm được “tiếng nói chung” để đối thoại Putin « Trên thực tế, một thỏa thuận ngừng bắn vội vàng hoặc được thiết kế kém có thể khiến việc đạt được một giải pháp lâu dài trở nên khó khăn hơn », theo nhận định của chuyên gia Trung tâm tư vấn độc lập Chatham House, thuộc Royal Institute of International Affairs, có trụ sở tại Luân Đôn (bài « Một thỏa thuận ngừng bắn giữa Nga và Ukraina có thể gây nguy hiểm cho an ninh của Ukraine và châu Âu như thế nào? » của ông Simon Smith, đồng tác giả, đồng phụ trách chương trình nghiên cứu về khu vực Á – Âu và Nga). Nhận định của chuyên gia Chatham House ngụ ý nhắc đến vết xe đổ của hai thỏa thuận ngừng bắn Minsk I và Minsk II, được xác lập hồi 2014-2015, rút cục đã bị nhiều người coi như một « thất bại của ngoại giao châu Âu », tạo điều kiện cho Nga tiếp tục lấn tới bảy năm sau đó, với cuộc xâm lăng trên quy mô lớn, kéo dài cho đến nay. Thỏa thuận Minsk I và Minsk II cụ thể ra sao ? Các thỏa thuận, được ký kết tại Minsk, thủ đô Belarus, trong hai đợt, tháng 9/2014 (tên chính thức là Nghị định thư Minsk, thường được gọi là Thỏa thuận Minsk I), và tháng 2/2015 (« Gói biện pháp nhằm thực thi các Thỏa thuận Minsk », thường gọi là Thỏa thuận Minsk II), có mục tiêu hướng đến chấm dứt xung đột ở miền đông Ukraina. Ký kết hai thỏa thuận này là các thành viên của nhóm tiếp xúc ba bên, bao gồm các đại diện của Nga và Ukraina, cùng đại diện của Tổ chức An ninh và Hợp tác châu Âu - OSCE. Thỏa thuận sau đó được các lực lượng ly khai được Nga hậu thuẫn ký kết. Các thỏa thuận này bao gồm 13 điểm: ngoài lệnh ngừng bắn, là việc rút vũ khí hạng nặng ra xa đường chiến tuyến, trao đổi tù nhân và con tin. Các thỏa thuận cũng quy định cải cách hiến pháp ở Ukraina để ban hành quy chế đặc biệt của hai vùng lãnh thổ, chiếm một phần của hai tỉnh Luhansk và Donetsk, do phe ly khai kiểm soát. Hai thỏa thuận này là kết quả các vận động ngoại giao của tổng thống Pháp François Hollande và thủ tướng Đức Angela Merkel, phối hợp với tổng thống Nga Vladimir Putin và đương kim tổng thống Ukraina Petro Poroshenko. Sự kết hợp của Bộ Tứ này thường được gọi là « Công thức Normadie », do bắt nguồn từ cuộc gặp không chính thức giữa lãnh đạo bốn nước tại lâu đài Château de Bénouville (Calvados), vùng Normandie - Pháp, bên lề lễ kỷ niệm 70 năm ngày đồng minh đổ bộ trong Thế chiến Hai, vài tháng sau khi chiến tranh bùng nổ ở Donbass.   Ít ngày sau khi Thỏa thuận Minsk II được đúc kết, Hội Đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc đã ra một nghị quyết, yêu cầu các bên tôn trọng Thỏa thuận này, nhưng không mang tính cưỡng chế. Vì sao các thỏa thuận Minsk bị coi là nguy hại cho Ukraina ? Đằng sau các biện pháp có vẻ rất bài bản như trên là một thực tế hoàn toàn khác. Viện Nghiên cứu Chiến tranh ISW, có trụ sở Washington, trong một bài phân tích về « Những bài học rút ra từ Thỏa thuận Minsk » (Lessons of the Minsk Deal), nhận định hệ quả nói chung của các Thỏa thuận Minsk này là đã không mang lại nền hòa bình lâu dài mà chủ yếu giúp Nga có thời gian tái tổ chức lực lượng, tăng cường hậu thuẫn phe ly khai, chấp nhận « đóng băng chiến sự », củng cố nền kinh tế chiến tranh để chuẩn bị cho cuộc tấn công trong tương lai. Chuyên gia Viện Nghiên cứu Chiến tranh Mỹ nhấn mạnh, một thỏa thuận ngừng bắn mới được đưa ra nhanh chóng, vội vã và thiếu bảo đảm có thể lặp lại mô hình của các thỏa thuận Minsk, cho phép Nga phục hồi sức mạnh, thay vì buộc Matxcơva phải thay đổi các tính toán chiến lược. Đọc thêm : Bất đồng Nga-Ukraina về Donbass có thể khiến Thỏa thuận Minsk tan vỡ ? Chuyên gia chính trị quốc tế Kristian Åtland, người Na Uy, tác giả nhiều khảo cứu về các thỏa thuận Minsk, nhấn mạnh là các thỏa thuận này là hoàn toàn « không hiệu quả », « không công bằng », « không bền vững », Ukraina đã bị buộc phải chấp nhận trong bối cảnh lực lượng ly khai được Nga hậu thuẫn đẩy quân đội Ukraina vào chân tường tại vùng Donbass (« War, diplomacy, and more war: why did the Minsk agreements fail? », Springer, 2024). Vị chuyên gia này cũng là tác giả bài « Đàm phán ngừng bắn Nga-Ukraina: Những bài học từ Tiến trình thất bại của các thỏa thuận Minsk » (2025). Đàm phán bên họng súng : Hàng nghìn binh sĩ Ukraina bị bao vây, Putin báo động nguy cơ thảm sát Hai thỏa thuận được ký kết đúng vào thời điểm hàng nghìn binh sĩ Ukraina bị vây hãm tại Ilovaisk (từ ngày 7/8 đến ngày 2/9/2014) và Debaltseve (từ 14/01 đến 20/02/2015). Nhà ngoại giao Pháp Jacques Audibert, cố vấn của tổng thống Hollande, người có mặt trực tiếp trong các đàm phán dẫn đến hai thỏa thuận nói trên, cho biết cụ thể: « Tình hình càng trở nên căng thẳng hơn, bởi rõ ràng là ông Putin đã cố tình kích động. Tuyên bố đầu tiên của ông ấy trong cuộc đàm phán này là: ‘‘Tôi xin lỗi, có 8.000 binh sĩ bị mắc kẹt trong vòng vây ở Debaltseve. Bao vây họ là các lực lượng pháo binh của quân  ly khai mà tôi không thể kiểm soát được. Tôi không thể làm gì được ! Vì tôi là người Nga mà ! Tất cả những binh sĩ này đều có nguy cơ bị thảm sát, nếu chúng ta không đạt được thỏa thuận tối hôm nay." Đó là bầu không khí mở đầu cuộc đàm phán kéo dài 16 giờ. Rõ ràng khi bạn bị đặt vào trong tình huống căng thẳng và hoàn toàn khác biệt như thế này, khi ai đó nói thẳng với bạn rằng, có thể có hàng ngàn người chết, nếu đàm phán thất bại, bạn sẽ phải ở trong tâm trạng căng thẳng tột độ. Điều này đúng với tất cả mọi người, nhưng đặc biệt là với người Ukraina. » Nga đã sử dụng việc leo thang quân sự có chủ đích để buộc Kiev chấp nhận các nhượng bộ lớn, trong bối cảnh Kiev cũng chịu áp lực nhiều từ các nước phương Tây ủng hộ tiến trình Minsk, để buộc phải ký kết các thỏa thuận này.   Hàng loạt điều bất khả: Ngôn từ mơ hồ, Kiev không được quyền kiểm soát biên giới… Ngoài chuyện ý đồ và mục tiêu của các bên, chuyên gia Na Uy Kristian Åtland nêu bật diễn đạt mơ hồ trong các thỏa thuận cũng là một nguyên nhân trực tiếp dẫn đến việc Thỏa thuận trở nên bất khả thi ngay từ đầu (« The vagueness and ambiguity of the language used in the Minsk agreements became an obstacle to the agreements’ implementation »). Các thỏa thuận nói trên không có giá trị pháp lý khi chỉ được ký kết bởi các đại diện cấp thấp, gồm cựu tổng thống Ukraina, Leonid Koutchma, đại sứ Nga tại Ukraina và đại diện của OSCE.  Không chỉ đến sau này, mà ngay vào lúc Thỏa thuận Minsk II được ký kết, truyền thông Pháp đã ghi nhận triển vọng thỏa thuận bất khả thi, đặc biệt với việc Ukraina sẽ chỉ được quyền kiểm soát hơn 400 km đường biên giới Ukraina – Nga, nằm giữa các khu vực ly khai ở Donbass và lãnh thổ Nga, một khi bầu cử địa phương ở các vùng ly khai được tổ chức, mà thời gian lại chưa được ấn định. Tổ chức An ninh và Hợp tác ch

About

Thời sự quốc tế nổi bật qua lăng kính của RFI

More From RFI Tiếng Việt