Tạp chí tiêu điểm

Thời sự quốc tế nổi bật qua lăng kính của RFI

  1. 6D AGO

    Vì sao Trump phân chia thế giới thành ba đế chế ?

    Can thiệp quân sự chớp nhoáng vào Venezuela, đe dọa sáp nhập quần đảo Groenland, gây áp lực mạnh đối với Colombia và Cuba, tổng thống Mỹ Donald Trump đã có một cách chào đón năm mới 2026 khiến thế giới sững sờ. Nhưng những gì ông Trump đang làm đều tuân theo một lô-gic kép : Đầu tiên là chủ nghĩa bành trướng của Mỹ và tiếp đến là thiết lập một trật tự địa chính trị mới trên phạm vi toàn cầu. Thế giới quan này của Mỹ không phải là điều gì mới mẻ. Sử gia Pierre Singaravélou nói đến « sự trở lại và tiếp tục của chủ nghĩa thực dân, một làn sóng chủ nghĩa đế quốc mới của Mỹ » (France 5 ngày 11/01/2026). Nhà địa chính trị học Florian Louis nhắc lại Hoa Kỳ về cơ bản là « một quốc gia thực dân » (Les Echos ngày 18/01/2026). Hoa Kỳ : « Quốc gia thực dân » Nhìn lại lịch sử, xuất phát từ 13 thuộc địa cũ ở bờ đông Bắc Mỹ vào thời điểm Anh Quốc công nhận độc lập vào năm 1783, Hoa Kỳ đã dần « mở rộng bờ cõi về phía Tây » bằng mọi cách cần thiết, chủ yếu theo hai phương pháp chính : Bạo lực chống lại các cộng đồng bản địa, các cường quốc thực dân cũ, Pháp cùng Vương quốc Anh và Tiền bạc cho tất cả những điều còn lại. Nếu nhìn kỹ trên bản đồ, những cuộc chinh phục lãnh thổ đó chỉ mở rộng sang phía Tây và lên phía Bắc, như mua bang Louisiana năm 1803, Florida năm 1819, các bang Tây Nam nước Mỹ thuộc phía bắc Mêhicô lần lượt trong các năm 1848 và 1853, hay đợt mua lãnh thổ quan trọng sau cùng là bang Alaska năm 1867, mà chưa bao giờ mở rộng xuống hẳn phía nam bán cầu. Do vậy, việc đòi mua Groenland là hoàn toàn phù hợp với đường lối này trong lịch sử Hoa Kỳ.  Giảng viên Florian Louis, trường Đại học Sư phạm, biên tập viên trang địa chính trị Le Grand Continent, trong mục Plan Carte của Les Echos, giải thích:  « Hoa Kỳ tỏ ra rất do dự về việc mở rộng bờ cõi xuống phía nam. Họ tìm cách mở rộng ảnh hưởng, thế thống trị hơn là mở rộng lãnh thổ (…) Ở phía nam, không có điều mà Mỹ gọi là những người WASP (viết tắt của White Anglo-Saxon Protestant), tức người da trắng gốc Anh theo đạo Tin Lành. Đây là khu vực của những người Công Giáo gốc La-tinh, người lai. Và điều đó từ lâu khiến người Mỹ sợ hãi và vẫn tiếp tục khiến nhiều người trong số họ lo sợ, đặc biệt là Donald Trump ». « Tây bán cầu »: Sân sau của Mỹ ! Quả thật, tổng thống Mỹ Donald Trump chỉ nói đến sáp nhập hay xâm chiếm Canada, Groenland, nhưng cho xây tường ở biên giới giữa Mỹ và Mêhicô. Rõ ràng là có những nơi để sáp nhập và có những nơi chỉ để thống trị. Và một trong những giải pháp để duy trì uy lực của Mỹ là một hình thức co cụm, không phải khép mình thành một nước biệt lập, mà là vào toàn bộ lục địa châu Mỹ. Thế nên mới có khái niệm khác quan trọng hơn : « Bán cầu » ! Giáo sư địa lý Vincent Capdepuy, chuyên gia về đồ họa, trả lời Les Echos lưu ý khái niệm « bán cầu » đã có từ xa xưa. Những bản vẽ đồ họa cổ nhất do thầy tu và nhà đồ họa Franciscus Monacus công bố năm 1524 cho thấy hai bản đồ nhỏ được đặt đối diện nhau, hai quả địa cầu, hai bán cầu với hai tiêu đề khác nhau : « Bên trái là một quả địa cầu tượng trưng điều mà người ta có thể gọi là lục địa Âu – Á – Phi, tức bao gồm châu Âu, châu Phi và châu Á. Ở trang bên phải, chúng ta có một địa cầu hình bán cầu khác tượng trưng cho châu Mỹ hoặc ít nhất những gì người ta biết về bán cầu này vào đầu thế kỷ XVI. Một bên ghi "Bán cầu này của thế giới phục tùng vua Bồ Đào Nha" và bên kia ghi "Bán cầu này của thế giới phục tùng vua Tây Ban Nha" ». Như vậy, ngay từ đầu thế kỷ 16, người ta đã có một thế giới quan địa chính trị phân chia địa cầu thành Đông và Tây. Và đây chính là tầm nhìn của Mỹ, tin rằng thế giới được phân chia thành Đông và Tây, chứ không phải giữa Bắc và Nam. Thuật ngữ « bán cầu » từ đó đã xuất hiện trong học thuyết Monroe nổi tiếng, về cơ bản quy định rằng mỗi lục địa nên ở yên trong vị trí của mình. Năm 1904, tổng thống Théodore Roosevelt còn bổ sung một hệ luận cho học thuyết này khi nhiều lần dùng đến thuật ngữ « Tây bán cầu », trở thành một trong những diễn ngôn chiến lược của Mỹ trong suốt nhiều thập niên sau đó, như cho thành lập Văn phòng Phụ trách các Vấn đề Tây bán cầu năm 1999, Cục phụ trách các Vấn đề Tây bán cầu trực thuộc Hội đồng An ninh Quốc gia năm 2001, và gần đây nhất tái cơ cấu quân đội Mỹ với việc thành lập Bộ Tư lệnh Tây bán cầu tháng 12/2025. Theo phân tích Florian Louis, chính trong lô-gic Tây bán cầu mà người ta có thể tìm thấy nguồn gốc của chủ nghĩa biệt lập Mỹ : « Trên thực tế, người ta có thể tìm thấy nguồn gốc của chúng trong phát biểu chia tay nổi tiếng của George Washington vào cuối nhiệm kỳ tổng thống của ông. Trong bài phát biểu này, nói một cách đơn giản, ông nói với người dân Mỹ rằng "những rắc rối của châu Âu là vấn đề của họ, của người dân châu Âu. Tốt nhất là chúng ta chớ nên can thiệp vào đó, chúng ta ở rất xa châu Âu". Đây chính là nguồn gốc của điều mà người ta có thể gọi là chủ nghĩa biệt lập Hoa Kỳ ». Xét cho cùng, thế giới là một đại dương bao la với hai hòn đảo, một đảo cực lớn, có thể được gọi là Á-Âu, và một hòn đảo nhỏ hơn tức châu Mỹ. Hai vùng biển Đại Tây Dương và Thái Bình Dương giống như những con hào bảo vệ pháo đài châu Mỹ với một loại thành trì ở trung tâm là Hoa Kỳ khỏi phần còn lại của thế giới, tức là Á-Âu. Trong nhãn quan này, tự cô lập với phần còn lại của thế giới và tập trung vào lục địa châu Mỹ vừa là cách để củng cố thế thống trị của Mỹ, vừa để tự bảo vệ mình. Như vậy, trên phương diện địa chính trị toàn cầu, những hành động gần đây của chính quyền Trump là một bước ngoặt thực sự so với những gì Hoa Kỳ đã quen làm đối với châu Âu từ sau Đệ Nhị Thế Chiến. Theo nhà địa chính trị học Florian Louis, đây là « một kiểu thoái lui của sức mạnh Mỹ, không còn tập trung bảo đảm an ninh thế giới như đã từng làm, ít nhất là từ sau Thế Chiến Thứ Hai, mà là tập trung bảo đảm an ninh cho toàn bộ lục địa châu Mỹ ». Chủ nghĩa đế quốc tài nguyên Nhưng bước thứ hai trong chiến lược gia tăng ảnh hưởng, kiểm soát an ninh tại châu lục mới là điều quan trọng. Hoa Kỳ sẽ phải tăng tốc can thiệp vào toàn bộ châu lục như những gì đã diễn ra vào đầu năm mới 2026 : Từ bắt cóc tổng thống Venezuela Nicolas Maduro, đòi sáp nhập quần đảo Groenland, đến đe dọa Cuba và Colombia… Mục tiêu là nhằm chứng tỏ Hoa Kỳ đang ở trong sân nhà của mình tại châu Mỹ và họ có thể làm bất cứ điều gì mình muốn. Điều này cũng chẳng phải là mới. Trong quá khứ, giai đoạn 1898 – 1994, Mỹ đã hơn 40 lần can thiệp cả trực tiếp lẫn gián tiếp vào Nam Mỹ, dẫn đến việc thay đổi các chính phủ. Tuy nhiên, điểm mới nhất hiện nay là Washington không dung thứ cho một sự can thiệp nào từ các cường quốc khác vào lục địa. Khi nói về việc Trung Quốc kiểm soát kênh đào Panama và biện minh cho việc đòi sáp nhập Groenland, nguyên thủ Mỹ còn có một dụng ý : Ngăn chặn Trung Quốc chiếm giữ các nguồn tài nguyên thiên nhiên ! Nói một cách khác, quyền tiếp cận các nguồn tài nguyên thiên nhiên dường như đang là kim chỉ nam cho xu hướng địa chính trị mới. Hoa Kỳ can thiệp để chiếm đoạt tài nguyên thiên nhiên không phải là điều bí mật, nhưng chưa bao giờ thừa nhận. Trong vụ Venezuela, tổng thống Trump công khai tuyên bố can thiệp để kiểm soát tài nguyên. Hành động này còn nhằm mục đích ngăn chặn các nước khác làm điều tương tự. Chiến lược này đã được ngoại trưởng Mỹ Marco Rubio giải thích rõ vào ngày 05/01/2026 trên kênh truyền hình NBC, khi một lần nữa viện dẫn đến khái niệm về « Tây bán cầu » : « Hoa Kỳ đâu cần đến dầu mỏ của Venezuela. Thứ này có rất nhiều ở Mỹ. Điều mà Hoa Kỳ sẽ không cho phép là ngành công nghiệp dầu khí của Venezuela lại do các đối thủ của Mỹ kiểm soát. Quý vị có hiểu là tại sao Trung Quốc c

    14 min
  2. FEB 5

    Hiệp định Mỹ-Nga New Start hết hiệu lực: Nguy cơ bùng phát chạy đua hạt nhân ?

    Ngày 05/02/2026, hiệp định kiểm soát vũ khí hạt nhân chiến lược Mỹ - Nga New Start hết hiệu lực. Washington và Matxcơva không triển hạn hiệp ước được coi là thỏa thuận cuối cùng về vũ khí hạt nhân giữa hai đại cường. Nhiều người lo ngại về nguy cơ chạy đua hạt nhân bùng phát. Hiệp định hạt nhân New Start, được ký kết tại Praha năm 2010 dưới thời tổng thống Mỹ Barack Obama và tổng thống Nga Dmitri Medvedev, liên quan đến việc kiểm soát các vũ khí hạt nhân tấn công chiến lược. Cụ thể là giới hạn số đầu đạn hạt nhân của mỗi nước là 1.550, và tổng số phương tiện dàn phóng và oanh tạc cơ, triển khai và chưa triển khai là 800. Hiệp ước New Start không bao gồm các vũ khí hạt nhân chiến thuật, tên lửa hành trình, tên lửa siêu thanh, cùng các vũ khí không gian, các phương tiện tấn công tin học. New Start: « Thế cân bằng chiến lược » mong manh thời hậu Chiến tranh Lạnh Hiệp định New Start được triển hạn thêm 5 năm kể từ 2021 và hết hạn hôm nay. Bất chấp các áp lực quốc tế, Nga và Mỹ rút cục đã không gia hạn  hiệp ước quan trọng này. Tối hôm qua, 04/02, tại trụ sở Liên Hiệp Quốc, tổng thư ký Antonio Guterres cảnh báo đây là « một thời điểm nghiêm trọng đối với hòa bình và an ninh quốc tế », khi hai cường quốc sở hữu phần lớn kho vũ khí hạt nhân thế giới chấm dứt thỏa thuận pháp lý duy nhất ràng buộc hai bên, cho phép kiểm soát thế cân bằng về loại vũ khí răn đe mang tính hủy diệt này. Tình thế này vô cùng nguy hiểm, trong bối cảnh vũ khí hạt nhân ngày càng có nguy cơ bị sử dụng trong các xung đột. « Từ thời điểm sự cân bằng chiến lược này bị phá vỡ và nếu một cường quốc hạt nhân quyết định leo thang như điều chúng ta lo ngại với Nga trong bối cảnh chiến tranh ở Ukraina, sẽ có nguy cơ các sự kiện vượt khỏi tầm kiểm soát », theo Alain De Neve, nhà nghiên cứu tại Trung tâm Nghiên cứu An ninh và Quốc phòng Bỉ (IRSD) (bài « Đê vỡ »: nguy cơ xung đột hạt nhân gia tăng khi hiệp ước New START hết hiệu lực ngày 5/2, RTBF, ngày 02/02/2026). Cuộc chiến bốn ngày Ấn Độ - Pakistan hồi năm 2025 cho thấy vũ khí hạt nhân không hề bảo đảm là quốc gia sở hữu không bị tấn công.  Cũng hôm qua, giáo hoàng Lêô XIV đưa ra cùng cảnh báo: « Ngày mai, Hiệp ước New START hết hạn. Hiệp ước, được ký kết năm 2010 bởi hai tổng thống Mỹ, Nga, đại diện cho một bước tiến quan trọng trong việc hạn chế sự phổ biến vũ khí hạt nhân. Tôi khẩn thiết kêu gọi tìm cách đảm bảo một sự tiếp nối cụ thể và hiệu quả. » Những hệ quả khi New Start chấm dứt: Lá chắn Golden Dome của Mỹ, Nga phát triển vũ khí tối tân mới… Việc Nga và Mỹ không triển hạn Hiệp định New Start có tác động ra sao đối với nguy cơ bùng phát chạy đua vũ trang, ông Daryl Kimball, giám đốc điều hành Hiệp hội Kiểm soát Vũ khí (Arms Control Association - ACA), trụ sở tại Washington D.C, thành lập từ năm 1971, giải thích: « Chúng ta đã đến tình trạng là, với việc hiệp ước này hết hạn, cả hai bên có thể, lần đầu tiên sau khoảng 35 năm, gia tăng tăng đáng kể số lượng vũ khí hạt nhân hiện có. Và điều này sẽ mở ra cánh cửa cho một cuộc chạy đua vũ trang nguy hiểm và không kiểm soát, không chỉ giữa Hoa Kỳ và Nga, mà còn liên quan đến Trung Quốc, quốc gia cũng đang tăng cường kho vũ khí hạt nhân, ít hơn nhưng vẫn rất nguy hiểm, để đáp trả hệ thống lá chắn tên lửa Golden Dome của Mỹ, bằng cách phát triển vũ khí tấn công đến mức làm bão hòa hệ thống, và tự tin có thể trả đũa bằng vũ khí hạt nhân. Điều này sẽ không giúp giảm bớt hoặc làm chậm lại cuộc chạy đua vũ trang hạt nhân. Trên thực tế, nó sẽ làm tăng tốc. Đây là điều chúng ta thực sự cần tập trung trong năm nay và những năm tiếp theo. Thời điểm này thực sự đánh dấu một bước ngoặt rất quan trọng, đưa chúng ta vào một thời kỳ cạnh tranh hạt nhân toàn cầu nguy hiểm và khó lường gấp bội, một thời kỳ mà chúng ta hoàn toàn chưa từng chứng kiến. » Số lượng vũ khí hạt nhân hiện có, chưa cần tăng thêm, đã đủ hủy hiệt nền văn minh nhân loại, theo nhiều chuyên gia. Với việc Nga, Mỹ không triển hạn New Start, nhân loại gần đại thảm họa hơn bao giờ hết. Không phải ngẫu nhiên mà với Đồng hồ Tận thế do các nhà khoa học nguyên tử (Bulletin of the Atomic Scientists - BAS) Mỹ lập ra, theo sáng kiến của nhà bác học Albert Einstein, để báo động nhân loại trước đe dọa sống còn (như bom nguyên tử, biến đổi khí hậu…), kim đồng hồ chỉ còn cách nửa đêm (tức giờ Tận Thế) có 85 giây, gần hơn 4 giây so với năm ngoái, gần nhất từ trước đến nay, hơn cả khi Mỹ và Liên Xô bên bờ vực chiến tranh hạt nhân. Vì sao Nga, Mỹ không đạt thỏa thuận triển khai tiếp New Start ? Vì sao Nga, Mỹ không đạt thỏa thuận triển khai tiếp New Start ? Về vấn đề này, phía Nga và Mỹ đưa ra những giải thích khác nhau. Phát ngôn viên điện Kremlin, Dmitri Peskov, một mặt thừa nhận mối nguy hiểm của việc không triển hạn Hiệp định New Start, mặt khác đổ lỗi cho phía Washington không đáp ứng sáng kiến của Matxcơva :   « Quý vị đều biết rằng sáng kiến ​​của Nga, được tổng thống Putin nêu rõ, vẫn đang được xem xét. Chúng tôi vẫn chưa nhận được bất kỳ phản hồi nào từ phía Mỹ về sáng kiến ​​này. Thật vậy, thời gian đang trôi qua nhanh như chớp, và chỉ trong vài ngày nữa, thế giới có thể sẽ rơi vào tình trạng nguy hiểm hơn nhiều so với hiện tại. Trên thực tế, lần đầu tiên, Mỹ và Liên bang Nga, hai quốc gia sở hữu kho vũ khí hạt nhân lớn nhất thế giới, sẽ không có một văn kiện nền tảng nào để hạn chế và kiểm soát các kho vũ khí này. Chúng tôi hiểu rằng tình hình này là rất tồi tệ, rất tồi tệ đối với an ninh toàn cầu, đối với an ninh chiến lược. » Về phía Mỹ, ngoại trưởng Marco Rubio cho rằng nguyên nhân chính của việc New Start không được triển hạn là do Trung Quốc, một cường quốc hạt nhân đang lên, không chấp nhận tham gia đàm phán về một hiệp ước kiểm soát vũ khí hạt nhân mới : « Bạn biết đấy, tổng thống Donald Trump đã từng nói rõ rằng, để có được sự kiểm soát vũ khí thực sự trong thế kỷ 21, không thể làm bất cứ điều gì mà không bao gồm Trung Quốc, bởi vì nước này có một kho vũ khí hạt nhân khổng lồ và đang phát triển nhanh chóng.» Đối đầu hạt nhân: Từ lưỡng cực đang chuyển thành thế « tam cực » Đòi hỏi Trung Quốc tham gia vào một hiệp ước kiểm soát vũ khí hạt nhân là quan điểm của nhiều đời tổng thống Mỹ. Ông Robert Peters, nghiên cứu viên cao cấp về Răn đe chiến lược tại Trung tâm Allison, thuộc Heritage Foundation, trong một cuộc tọa đàm của Viện tư vấn The International Institute for Strategic Studies IISS, Luân Đôn, giải thích rõ hơn về ý nghĩa của việc Mỹ không muốn gia hạn New Start trong tình trạng hiện nay : « Quan điểm của tôi là việc để New START hết hạn có lợi cho Hoa Kỳ. Trong khi việc gia hạn New START chỉ là một thỏa thuận chính trị để tiếp tục các giới hạn hiện tại về đầu đạn hạt nhân chiến lược đã triển khai, mà không có cơ chế thanh tra vũ khí. Việc gia hạn mà không bao gồm các biện pháp thanh tra và xác minh mới, sẽ có lợi cho Nga và Trung Quốc, nhưng gần như chắc chắn không có lợi cho Hoa Kỳ, cũng như các đồng minh của chúng ta ở Ấn Độ-Thái Bình Dương, hoặc châu Âu. Trung Quốc là cường quốc hạt nhân phát triển nhanh nhất trên hành tinh. Họ đang chế tạo 100 đầu đạn mới mỗi năm và hiện có nhiều hầm chứa tên lửa đạn đạo ICBM nhiều hơn số hầm chứa các tên lửa ICBM của Hoa Kỳ. New START không giải quyết được điều này. New START cũng không giải quyết được 2.000 vũ khí hạt nhân phi chiến lược của Nga. Nhưng việc để New START hết hạn sẽ mang lại cho Hoa Kỳ một số lựa chọn. Nếu Hoa Kỳ tăng số đầu đạn hạt nhân trên mỗi ICBM từ một lên hai, điều này sẽ cho phép chúng ta đặt cả mục tiêu hạt nhân chiến lược của Trung Quốc và Nga vào tình trạng nguy hiểm mà không cần phải triển khai thêm tên lửa… ». 1.500 đầu đạn hạt nhân : Ám ảnh Mỹ, Nga về hiểm họa Trung Quốc Hiệp định New Sta

    10 min
  3. JAN 29

    « Chiến lược Quốc phòng 2026 » : Mỹ làm sáng tỏ thứ tự các ưu tiên chiến lược

    Ngày 23/01/2026, bộ Quốc Phòng Mỹ công bố Chiến lược Quốc phòng mới (NDS) cho 5 năm sắp tới, đặt trọng tâm vào việc thống trị Tây Bán Cầu thay vì mục tiêu lâu dài là đối đầu với Trung Quốc, đồng thời kêu gọi các đồng minh của Mỹ nên « tự lo » cho an ninh của mình, tuy vẫn cam kết duy trì hỗ trợ nhưng « có giới hạn ». Trước hết, trang CSIS (Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược Quốc tế) có trụ sở ở Mỹ, giải thích, Chiến lược Quốc phòng Quốc gia (NDS) là kết quả cuộc xem xét toàn diện, đáp ứng các yêu cầu của Quốc Hội theo đó, bộ trưởng Quốc Phòng phải công bố một « khuôn khổ chiến lược » để giải quyết các « nhiệm vụ ưu tiên của bộ Quốc Phòng » và « môi trường chiến lược giả định ». Trước năm 2018, quá trình xem xét này được gọi là « Đánh giá Quốc phòng bốn năm một lần » (QDR), thay cho thông lệ công bố các đánh giá chiến lược bốn năm một lần được bắt đầu với « Đánh giá từ Thấp đến Cao » (BUR) thời chính quyền Clinton năm 1993. Chiến lược Quốc phòng Quốc gia 2026 (NDS 2026), dài 34 trang, cho thấy có những thay đổi căn bản trong cách đánh giá. Truyền thông Pháp nói đến « một bước rẽ lớn » của chính quyền Trump II so với nhiệm kỳ I. Trọng tâm chiến lược xoay quanh bốn trục chính được đặt theo một thứ tự ưu tiên rất rõ ràng. Tây Bán Cầu ưu tiên tuyệt đối Thứ nhất, chính quyền Trump II coi việc bảo vệ nghiêm ngặt lãnh thổ quốc gia là một ưu tiên tuyệt đối. Và trên hết, điều này gắn liền với thế thống trị của Mỹ ở Tây Bán Cầu, tức toàn bộ châu lục châu Mỹ, đi từ Goenland (ở Bắc Cực) đến tận Tierra del Fuego, vùng Đất Lửa (ở Nam Cực). Chiến lược này, theo nhận định của nhà nghiên cứu Elie Tenenbaum, Viện Quan hệ Quốc tế Pháp (IFRI), là một sự « thể hiện trực tiếp khẩu hiệu "Nước Mỹ trên hết" ». Ngoài việc khẳng định sử dụng mọi phương tiện quân sự để bảo vệ biên giới và lãnh hải của Mỹ, tài liệu NDS 2026 còn tuyên bố « bảo vệ các lợi ích của Mỹ tại toàn vùng Tây Bán Cầu », nhất là quyền tiếp cận quân sự và thương mại của Mỹ tại những khu vực trọng yếu. Trả lời RFI Pháp ngữ, giáo sư Isabelle Vagnoux, chuyên gia về chính sách đối ngoại Mỹ, trường đại học Aix-Marseille, giải thích đâu là những nguy cơ hiểm họa từ bên ngoài theo quan điểm của chính quyền Trump : « Về mối đe dọa tiềm tàng từ một thế lực bên ngoài, kênh đào Panama là một ví dụ điển hình bởi vì Trung Quốc đầu tư rất nhiều vào đó. Hiện Bắc Kinh đang xem xét lại một số cam kết nhưng Trung Quốc đã đầu tư đáng kể vào các cảng biển, những cơ sở vô cùng quan trọng cho vận chuyển hàng hóa. Vì vậy, điều đó được xem như là một mối đe dọa cho an ninh Hoa Kỳ. Vịnh Mêhicô và vùng biển Caribê cũng là một mối lo ngại bởi vì hai khu vực này bao gồm cả Florida và miền nam nước Mỹ. Thế nên, việc nhiều thế lực nước ngoài không hẳn là thân thiện, đầu tư hoặc can thiệp vào những khu vực này đã từng được coi là mối đe dọa cho an ninh nước Mỹ, và đó chính xác là những gì chúng ta đang chứng kiến. » Trung Quốc là cường quốc kinh tế - quân sự « cần phải ngăn chặn » Thứ hai, chính quyền Trump II thừa nhận Trung Quốc là một cường quốc kinh tế và quân sự, một thế lực ổn định ở vùng châu Á – Thái Bình Dương. Tuy nhiên, sự lớn mạnh nhanh chóng về quy mô cũng như là chất lượng quân sự của Trung Quốc bao gồm cả các lực lượng được thiết kế cho các hoạt động ở Tây Thái Bình Dương (nhìn từ phía Mỹ) cùng với khả năng vươn tới các mục tiêu xa khiến Mỹ lo lắng cho các lợi ích của mình do việc vùng Ấn Độ - Thái Bình Dương trong tương lai sẽ chiếm đến hơn một nửa nền kinh tế toàn cầu. NDS 2026 của Mỹ cho rằng « an ninh, tự do và thịnh vượng của Mỹ » phụ thuộc nhiều vào khả năng « giao thương và tham gia trong thế mạnh » của Mỹ trong vùng Ấn Độ - Thái Bình Dương. Việc Trung Quốc – hay một quốc gia nào khác – thống trị khu vực có thể ngăn chặn hiệu quả « khả năng tiếp cận của Mỹ với trung tâm kinh tế toàn cầu, gây ra những hậu quả lâu dài đối với triển vọng kinh tế quốc gia, bao gồm cả khả năng tái công nghiệp hóa của Mỹ ». Trong tầm nhìn này, tuy không một lời nhắc đến Đài Loan – một điểm gây ngạc nhiên cho giới quan sát – nhưng NDS 2026 cho biết Hoa Kỳ sẽ thiết lập một « hệ thống phòng thủ vững chắc dọc theo chuỗi đảo thứ nhất », khuyến khích và hỗ trợ các đồng minh, đối tác chính yếu trong khu vực can dự nhiều hơn vào việc phòng thủ chung. Nhưng NDS cũng khẳng định rằng mục tiêu đề ra là « không nhằm thống trị Trung Quốc, không bóp nghẹt cũng không làm nhục Trung Quốc » mà để « duy trì thế cân bằng lực lượng quân sự trong vùng Ấn Độ - Thái Bình Dương », ngăn chặn Trung Quốc hoặc bất kỳ quốc gia nào có thể thống trị Mỹ hay các nước đồng minh của Mỹ. Đối với nhà nghiên cứu về chính sách đối ngoại Mỹ, Isabelle Vagnoux, chính sách của Mỹ đối với Trung Quốc vẫn có một sự liên tục. Điểm thay đổi ở đây là giọng điệu của chính quyền Trump có vẻ hòa dịu hơn so với nhiệm kỳ đầu tiên. « Donald Trump từng có một bước ngoặt rõ ràng hướng đến vùng Ấn Độ - Thái Bình Dương, xem Trung Quốc là mối đe dọa chính cho an ninh nước Mỹ. Điều này đã có dưới thời Obama nhưng còn khá kín đáo. Chính quyền Trump nhiệm kỳ I là chính quyền đầu tiên thực sự coi Trung Quốc là kẻ thù và đã tăng cường các mối quan hệ đồng minh, bao gồm cả liên minh quân sự tại vùng Ấn Độ - Thái Bình Dương. Hơn nữa, ông Biden đã theo đuổi đường lối tương tự. Nhưng trong chiến lược mới này, Trung Quốc được đối xử khá tốt đó là vì ông Trump từ chối mọi sự đối đầu. Điều ông muốn chứng tỏ ở đây là Mỹ vẫn tiếp tục duy trì vị thế mạnh mẽ tại vùng Ấn Độ - Thái Bình Dương nhưng tránh mọi sự đối đầu. » Đồng minh nên « tự lo » an ninh của chính mình Ưu tiên thứ ba được NDS đề cập đến là « Tăng cường chia sẻ trách nhiệm với các đồng minh và đối tác của Hoa Kỳ ». Giống như NSS đã dự kiến, đây là chiến lược tham gia có mục tiêu ở nước ngoài, tập trung rõ ràng vào việc thúc đẩy các lợi ích cụ thể và thiết thực của Mỹ. Trong cách tiếp cận « Nước Mỹ trên hết » và dựa theo lẽ thường, các mối liên minh và đối tác với Mỹ đóng vai trò quan trọng. Ngoài hai ưu tiên trên, NDS 2026 nhìn nhận sự tồn tại dai dẳng của nhiều mối đe dọa khác, nhưng cho rằng các nước đồng minh từ Á đến Âu nên gánh vác phần lớn trọng trách và trên tuyến đầu vì đó là lợi ích của chính các nước đó, để ngăn chặn và làm đối trọng với Trung Quốc ở Ấn Độ - Thái Bình Dương hay đối phó với mối họa hạt nhân Bắc Triều Tiên ở Đông Bắc Á hay nguy cơ chiến tranh với Nga tại châu Âu, vốn dĩ được đánh giá là « ít nghiêm trọng hơn » cho Mỹ và không đe dọa đến Mỹ. Do vậy, NDS hối thúc các nước đồng minh nên nhanh chóng đáp ứng các tiêu chuẩn toàn cầu mới do tổng thống Trump thiết lập tại thượng đỉnh NATO ở La Haye năm 2025, theo đó, các nước đồng minh nên dành chi tiêu cho quốc phòng là 5% và Hoa Kỳ chỉ sẽ cung cấp các hỗ trợ quân sự cần thiết một khi các nước thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ trên. Nhìn từ góc độ này, nhà nghiên cứu Elie Tenenbaum, trả lời báo Pháp Le Figaro đánh giá, « Hoa Kỳ dự định sẽ tiếp tục tham gia, nhưng ở mức độ hạn chế hơn. Trách nhiệm chính hiện nay thuộc về các đồng minh, với trọng tâm là tăng chi tiêu quốc phòng. Đặc biệt, Israel đang được coi là một “đồng minh kiểu mẫu”, có khả năng đảm bảo quốc phòng cho chính mình. Thông điệp đưa ra, theo một nghĩa nào đó, là “Quý vị hãy tự lo cho mình, rồi Mỹ sẽ giúp quý vị”. » Phục hồi nền công nghiệp Mỹ Cuối cùng, NDS 2026 đặt ưu tiên cho việc « tăng cường sức sống cho nền tảng công nghiệp quốc phòng Mỹ ». Chính quyền Trump II kỳ vọng phục hồi nền công nghiệp Mỹ bằng cách đưa các ngành công nghiệp chiến lược trở về Mỹ và hồi sinh những ngành công nghiệp mà các thế

    11 min
  4. JAN 22

    Dựa Mỹ để bảo vệ Ukraina hay bảo vệ Groenland chống Mỹ: Châu Âu bị đẩy vào thế đường cùng

    Đầu năm 2026, phe cầm quyền của tổng thống Mỹ Donald Trump một lần nữa khiến nhiều đồng minh châu Âu « choáng váng », khi đơn phương tuyên bố Washington sẽ kiểm soát đảo Groenland thuộc chủ quyền của Đan Mạch, thành viên khối NATO, trong ít tuần lễ tới. Hành xử của Nhà Trắng đẩy châu Âu vào thế đường cùng. Châu Âu phản ứng ra sao ? Vụ Groenland nói gì về quan hệ Hoa Kỳ - Châu Âu đang bước vào giai đoạn ngày càng bất định ? Hãy bỏ rơi Groenland để đổi lấy « an ninh cho Ukraina »: Trump ngửa bài Tối 04/01/2026, hơn một ngày sau chiến dịch tấn công chớp nhoáng Venezuela, bắt sống tổng thống quốc gia Nam Mỹ đưa về Hoa Kỳ, Donald Trump tuyên bố nước Mỹ cần đảo Groenland « vì lý do an ninh quốc gia ». Để bảo vệ vùng Bắc Cực ở Bắc Đại Tây Dương khỏi các tham vọng của Nga và Trung Quốc, như ông Trump liên tục nhấn mạnh lâu nay. Tổng thống Mỹ khẳng định như đinh đóng cột : « chúng tôi sẽ kiểm soát Groenland trong khoảng hai tháng nữa… chúng tôi sẽ trở lại bàn về Groenland trong 20 ngày nữa ». Một ngày trước đó, bà Katie Miller, vợ của phó văn phòng Nhà Trắng Stephen Miller ( được coi là người có nhiều ảnh hưởng với chính sách quốc tế của tổng thống Mỹ), trên mạng X, đăng tải hình lá cờ Mỹ trên đảo Groenland với một chữ hoa duy nhất « SOON » (tạm dịch là : SẮP RỒI). Nửa tháng sau, lá bài lật ngửa. Trước thềm Diễn đàn Kinh tế thường niên Davos (Thụy Sĩ), quy tụ giới lãnh đạo toàn cầu, tổng thống Donald Trump đưa ra một tuyên bố trịch thượng : « Châu Âu nên quên chuyện Groenland đi để tập trung vào hồ sơ Ukraina ». Trả lời đài NBC News, ngày 18/01, bộ trưởng Tài Chính Mỹ Scott Bessent giải thích rõ về lời cảnh báo của tổng thống : « Các nhà lãnh đạo châu Âu sẽ phải hiểu rằng họ cần nằm dưới cái ô bảo đảm an ninh của Mỹ. Điều gì sẽ xảy ra ở Ukraina, nếu Mỹ rút đi các hỗ trợ? Toàn bộ mọi thứ sẽ sụp đổ. » Nhà báo Pierre Haski chuyên về địa chính trị quốc tế ghi nhận « một tình huống chưa từng có đối với Liên Hiệp Châu Âu », phải cùng lúc đối mặt với các đe dọa từ Nga và Mỹ, trên hai mặt trận « Ukraina và Groenland ». Châu Âu phải đối mặt với cuộc xâm lăng của một đối thủ, « đã từng là đồng minh chính của mình » (« De l’Ukraine au Groenland, l’Europe sous un double feu », Le Nouvel Obs). Sự lúng túng, bị động của châu Âu… Chuyên gia Federico Santopinto, giám đốc nghiên cứu Viện Quan hệ Quốc tế và Chiến lược (IRIS), phụ trách Chương trình Châu Âu, Liên Âu, NATO, đưa ra một ghi nhận chung về phản ứng của châu Âu : « Các nước châu Âu hoàn toàn bị choáng váng. Họ không còn biết phải làm gì. Ngay cả người Đức cũng tỏ ra lúng túng. Họ có thể hiểu rõ vấn đề, nhưng thể hiện thái độ gần như thúc thủ bị động. Họ quyết định rút một số binh sĩ đã triển khai trước đó tại Groenland. Tâm trạng choáng váng thông thường kéo dài không lâu. Nhưng lần này là một tình trạng choáng váng kéo dài. Các nước châu Âu chưa thực sự đoàn kết lại để có được một lập trường chung về những thay đổi lớn lao đang diễn ra trên thế giới, và đặc biệt là tại Mỹ. » Đan Mạch chắc chắn là một trong những nước châu Âu bị tác động nặng nề nhất bởi chính sách độc đoán và thô bạo của nước Mỹ, quốc gia thường được coi là đồng minh trụ cột, bời Đan Mạch cũng là một trong các thành viên NATO gắn chặt nhất số phận của mình với nước Mỹ. Đọc thêm - Thủ tướng Đan Mạch: Nếu Mỹ chiếm đảo Groenland, liên minh Âu - Mỹ sẽ tan vỡ Trả lời Radio France, chuyên gia Kristian Soby Kristensen, giám đốc Viện Chiến lược và nghiên cứu về Chiến tranh Học Viện Quốc phòng Hoàng gia Đan Mạch, nhận xét : « Ít nhất trong 30 năm qua đã có sự đồng thuận rộng rãi ở Đan Mạch rằng mối quan hệ xuyên Đại Tây Dương là nền tảng của chính sách quốc phòng và an ninh của Đan Mạch. Các chính trị gia Đan Mạch đã làm mọi thứ có thể để xích lại gần Mỹ nhiều nhất có thể. Một trong những đồng nghiệp của tôi thường mô tả lập trường của Đan Mạch là phụ thuộc nặng nề vào Mỹ ». … và tâm thế « sung sướng là chư hầu »  Tuy nhiên, không chỉ Đan Mạch mà toàn bộ châu lục phụ thuộc nặng nề vào Mỹ về an ninh. Nhà địa chính trị học Gilles Gressani lưu ý: « Thách thức lớn là các nước châu Âu chúng ta hoàn toàn nằm trong vùng ảnh hưởng của Mỹ. Chúng ta đã bị đặt vào vị thế là chư hầu của Mỹ từ lâu. Về cơ bản, tổng thống Mỹ Donald Trump, khi tìm cách buộc chúng ta phải tuân theo cách nhìn của ông ta, buộc chúng ta phải tuân theo các lợi ích của ông ta, đã thách thức : Các vị có thể làm được gì để có thể chống lại những gì mà tôi áp đặt với các vị ?  Nếu trở ngược lại với lịch sử, có thể thấy châu Âu về mặt nào đó chấp nhận đã là chư hầu của Mỹ ». (« Quel est le plan de Donald Trump pour briser l'UE et l'ordre mondial ? / Đâu là kế hoạch của Donald Trump nhằm phá vỡ Liên Âu và trật tự thế giới ? » - C Ce Soir, ngày 20/01/2026). Nhà địa chính trị học Gilles Gressani, đứng đầu tạp chí chuyên về chính trị quốc tế Le Grand Continent, là tác giả của khái niệm « vassalisation heureuse » (tạm dịch là « sung sướng là chư hầu »), được nhiều người sử dụng sau đó để nhấn mạnh đến hiểm họa, mà ông coi là lớn nhất với các nước châu Âu hiện nay, đó là hoàn toàn bị gạt sang bên lề cuộc chơi toàn cầu, nếu tiếp tục phó thác các vấn đề chiến lược an ninh của châu lục cho nước Mỹ thời Donald Trump, với các tham vọng đế quốc ngày càng thể hiện rõ.  Để Trump lấn tới ở Groenland, Châu Âu sẽ lụi tàn Tâm thế « sung sướng làm chư hầu » của Mỹ ở đa số các nước châu Âu và chính sách quyết đoán, hung hãn của nước Mỹ thời Donald Trump đang đẩy châu Âu vào thế đường cùng. Thái độ bị động của châu Âu trong việc bảo vệ Groenland đặt Liên Âu trước nguy cơ tồn vong. Học giả Jacques Attali, nguyên cố vấn đặc biệt của tổng thống François Mitterand, cảnh báo : « Để đảm bảo sự ủng hộ của Trump cho một thỏa thuận lâu dài nhằm cứu Ukraina, châu Âu đang kiềm chế, không thực hiện bất kỳ biện pháp trả đũa thương mại nào, bất kỳ lệnh trừng phạt kỹ thuật số nào và bất kỳ sự bảo vệ đáng tin cậy nào đối với toàn vẹn lãnh thổ của Groenland. Tính toán này là dễ hiểu, bởi nếu Ukraina sụp đổ, toàn bộ châu Âu - không có sự hỗ trợ của Mỹ - có nguy cơ bị Nga xâm lược. Tuy nhiên, hành động như vậy, châu Âu sẽ không cứu được Ukraina, và họ cũng sẽ mất Groenland. Khi đó, họ sẽ đánh mất chính mình. » (Les Echos, ngày 09/01/2026).  Ba kịch bản với Groenland: Châu Âu đối xử thế nào với « đồng minh kẻ cướp » ? Châu Âu bị đẩy vào thế đường cùng buộc phải tìm lối thoái. Ít ngày sau đe dọa của tổng thống Mỹ sẽ kiểm soát Groenland trong hai tháng tới, Viện Jacques Delors đưa ra ba kịch bản với Groenland (« Groenland : Trois scénarios pour l’Europe face à un allié prédateur /  Groenland: Ba kịch bản cho châu Âu đối mặt với đồng minh kẻ cướp »). Ngoài kịch bản bất lực hay đầu hàng (Viện Jacques Delors gọi là « Kịch bản Munich vùng Bắc Cực »), hai kịch bản còn lại là « Đối đầu » và « Phòng thủ ngăn ngừa, tránh đụng độ » (còn gọi là « Kịch bản răn đe »). Đọc thêm : Tại Mỹ, hai dự luật được trình lên Quốc Hội ngăn chặn chính quyền Trump sáp nhập một đồng minh NATO Theo kịch bản « Phòng thủ theo hướng ngăn ngừa, tránh đụng độ », các quốc gia châu Âu, gồm trước hết Pháp, Anh, Đức và các nước Bắc Âu, triển khai lực lượng một cách kín đáo (tàu chiến, phương tiện trên không, đơn vị bộ binh nhẹ…) tại Groenland theo yêu cầu của Đan Mạch, với danh nghĩa chống Nga và Trung Quốc. Mục tiêu không phải là đối đầu với Mỹ, mà là làm cho việc sáp nhập trở nên « phải trả giá cao về mặt chính trị » đối với phe Trump. Trump sẽ phải ra lệnh tấn công đồng minh và sẽ gặp sự phản đối từ phía Quốc Hội Mỹ. Theo Viện Jacques Delors, trong hoàn cảnh hiện nay kịch bản này là « lựa chọn hợp lý nhất để ngăn chặn việc

    9 min
  5. JAN 15

    Dầu lửa, hạt nhân : Hoa Kỳ trong tình trạng « khẩn cấp năng lượng » ?

    Một năm sau khi tuyên bố « tình trạng khẩn cấp năng lượng » tại Mỹ, Donald Trump đã chiếm được quyền kiểm soát dầu hỏa Venezuela. Nhưng trong cuộc cạnh tranh giành thế thống trị năng lượng thế giới với Trung Quốc, Hoa Kỳ không dừng ở nguồn nhiên liệu hóa thạch mà nắm luôn cả năng lượng hạt nhân. Ngày 20/01/2025, trong ngày nhậm chức, nhà tỷ phú Mỹ Donald Trump đã tuyên bố : « Cuộc khủng hoảng lạm phát là do chi tiêu quá mức và giá năng lượng leo thang. Đó là lý do vì sao hôm nay, tôi cũng sẽ tuyên bố tình trạng khẩn cấp năng lượng quốc gia. Chúng ta sẽ khoan dầu, khoan dầu, khoan dầu nữa ! » "Khẩn cấp năng lượng" : Nước Mỹ lâm nguy ? Hơn ba tuần sau, ngày 14/02/2025, nguyên thủ Mỹ ký sắc lệnh thành lập « Hội đồng Quốc gia về Thống trị Năng lượng ». Theo Nhà Trắng, hội đồng này sẽ điều phối chính sách năng lượng và đơn giản hóa thủ tục cấp phép, sản xuất và phân phối các nguồn năng lượng khác nhau. Trên đài France Culture ngày 12/01/2026, nhà nghiên cứu Thibault Michel, Trung tâm Năng lượng và Khí hậu thuộc Viện Quan hệ Quốc tế Pháp (IFRI), trước hết, giải thích quan điểm của chính quyền Trump về « tình trạng khẩn cấp năng lượng ». « Theo tôi, điều cần hiểu trước tiên là chính quyền Trump, ngay từ nhiệm kỳ I, thực sự đã có một cách tiếp cận, đó là sự thống trị năng lượng. Thế thống trị này vượt lên trên cả vấn đề an ninh năng lượng đơn thuần. Rõ ràng đây không chỉ là vấn đề nắm chủ quyền đối với nguồn cung năng lượng của chính mình, mà còn sử dụng năng lượng như một công cụ cả trong thương mại và địa chính trị, một công cụ để gây ảnh hưởng trên toàn thế giới. Và điều này có thể được thực hiện thông qua việc cung cấp dầu mỏ, khí đốt, năng lượng cho toàn cầu. » Và việc ban hành tình trạng khẩn cấp đã cho phép chính quyền Trump có thể hành động thường xuyên bằng sắc lệnh mà không cần thông qua Quốc Hội, đó là những gì ông Trump đã làm khi ký đến sáu hay bảy sắc lệnh ngay sau khi nhậm chức. Nhà nghiên cứu tại viện IFRI giải thích tiếp : « Sau đó còn có những sắc lệnh khác liên quan đến năng lượng hạt nhân. Rõ ràng là có lý do biện minh ở đây như ông Trump đã từng nói trong bài phát biểu hồi tháng 12/2025, xin trích, "tôi thừa hưởng một thảm họa". Vì vậy, đây là tình trạng khẩn cấp, chúng ta phải hành động. Nhưng bên cạnh đó, người ta thực sự đang thấy rõ tham vọng thống trị và tiềm năng mà cách tiếp cận khẩn cấp này mang lại. » Cũng trong ngày nhậm chức, nguyên thủ Mỹ còn nói thêm « điều chúng ta muốn làm là giữ AI, tức trí tuệ nhân tạo, ở trong nước ». Ông thông báo những khoản đầu tư trị giá 500 tỷ đô la của khu vực tư nhân để xây dựng các trung tâm dữ liệu. Đối với bộ trưởng An ninh Nội địa Doug Burgum, « Hoa Kỳ đang lao vào một cuộc đua về vũ khí trên phương diện AI với Trung Quốc. Cách thức duy nhất để giành thắng lợi là có nhiều điện năng hơn nữa ». Trung tâm dữ liệu : Những cỗ máy « háu » năng lượng Theo Le Monde Diplomatique, số ra tháng 01/2026, tại Mỹ trong giai đoạn 2022-2024, đầu tư vào các trung tâm dữ liệu ở chiếm 84% tổng vốn cam kết ở Virginia, bang tập trung nhiều trung tâm nhất. Trên toàn quốc, chi tiêu cho các trung tâm dữ liệu và các hoạt động công nghệ dường như đã giúp tăng tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của Hoa Kỳ thêm 0,5 điểm trong quý 2 năm 2025. Việc đầu tư vào trung tâm dữ liệu không chỉ mang tính kinh tế, mà còn là một thách thức chiến lược. Trả lời nhà báo độc lập Eva Thiébaud, tác giả bài viết « Vì sao Hoa Kỳ tái khởi động hạt nhân dân sự ? », đăng trên báo Le Monde Diplomatique, chuyên gia về kinh tế - chính trị các giao diện kỹ thuật số Vili Lehdonvirta, đại học Aalto ở Phần Lan, phân tích : « Nhìn từ góc độ quân sự, các tập đoàn công nghệ khổng lồ và các trung tâm dữ liệu của họ hỗ trợ chính phủ bằng cách lưu trữ và xử lý, thông qua trí tuệ nhân tạo, khối lượng thông tin khổng lồ được thu thập từ camera hoặc bộ cảm biến trong vùng chiến sự, như những gì đã xảy ra với Israel và cuộc tấn công của họ ở Palestine. Và ngoài lĩnh vực quân sự, Edward Snowden đã cho chúng ta thấy các công ty công nghệ có thể đồng ý cung cấp quyền truy cập dữ liệu của họ cho chính phủ Mỹ, do đó chúng có một tầm quan trọng đối với tình báo. » Tuy nhiên, việc đầu tư vào trung tâm dữ liệu và AI tại Mỹ, ngoài những rủi ro địa chính trị như gián đoạn nguồn cung đất hiếm, đang vấp phải một trở ngại lớn ở trong nước : Tình trạng thiếu điện do thiếu mạng lưới truyền tải và đòi hỏi nhiều thời gian để cải thiện. Le Monde Diplomatique nêu ví dụ Dominion, nhà sản xuất, điều hành và phân phối điện lớn nhất tại bang Virginia, hồi tháng 07/2024, đã gởi thư thông báo với khách hàng rằng việc kết nối với các đường dây công suất lớn sẽ phải kéo dài thêm từ 12 đến 36 tháng so với trước đây, tức là phải mất từ 4 đến 7 năm. Hạt nhân : Nguồn năng lượng dồi dào Ngày 23/05/2025, tổng thống Mỹ ký sắc lệnh nhắm mở ra « một kỷ nguyên hạt nhân mới ». Ông kêu gọi triển khai 300GW điện hạt nhân bổ sung từ đây đến năm 2050. Nhà Trắng đầu tư vào 10 lò phản ứng hạt nhân đang được xây dựng từ đây đến năm 2030. Ngày 28/10/2025, Washington thông báo một đối tác chiến lược trị giá 80 tỷ đô la với tập đoàn năng lượng hạt nhân Westinghouse Electric Company, nhằm tái triển khai ngành công nghiệp hạt nhân quốc gia, có khả năng cung cấp năng lượng trước sự bùng nổ nhu cầu từ các trung tâm dữ liệu và trí tuệ nhân tạo. Trên đài France Culture, nhà báo Eva Thiébaud, giải thích, « Ai cũng nhận thấy hiện nay chúng ta đang trải qua thời kỳ bùng nổ trí tuệ nhân tạo, với rất nhiều trung tâm dữ liệu đang được xây dựng ở Hoa Kỳ, vốn tiêu thụ và sẽ tiếp tục tiêu thụ ngày càng nhiều năng lượng, mặc dù các dự báo hiện tại đầy rẫy sự bất định. Vì vậy, các trung tâm dữ liệu này cần được cung cấp năng lượng, và để làm được điều đó, có một số giải pháp năng lượng khả dụng. Tất nhiên, có các nhà máy điện chạy bằng khí đốt và, tại sao không phải là năng lượng hạt nhân trong tương lai ? Chính vì lẽ đó mà thông báo này đã được đưa ra gần đây. » Ngoài ra, chính quyền Trump còn có thể trông cậy vào các đại tập đoàn công nghệ. Các hãng lớn như Google AI và Google DeepMind, Meta AI, Nvidia, Amazon Web Services (AWS) hay như Microsoft, vốn xem hạt nhân như là một nguồn năng lượng ổn định nhất cho các trung tâm dữ liệu, để phát triển các công nghệ hạt nhân mới như mô hình « lò phản ứng mô-đun nhỏ », một công nghệ được cho là có nhiều lợi thế, có thể cung cấp năng lượng trực tiếp cho các trung tâm dữ liệu, hạn chế phát thải khí nhà kính và tự giải phóng khỏi lưới điện. Hay như việc Trump Media, công ty mẹ của mạng xã hội Truth Social ưa thích của tổng thống Trump, thông báo liên kết với hãng Mỹ TAE chuyên về phát triển công nghệ phản ứng tổng hợp hạt nhân, mà Trung Quốc hiện đang dẫn đầu. Nhưng việc xây dựng các nhà máy hạt nhân dân sự mới không phải là điều dễ dàng, bởi vì, « các nhà máy điện hạt nhân là những dự án cực kỳ phức tạp, cần rất nhiều thời gian để triển khai, và hiện nay năng lượng hạt nhân tiêu tốn của Hoa Kỳ nhiều hơn so với việc xây dựng các nhà máy điện khí đốt », theo như nhận xét của nhà báo Eva Thiébaud. Theo nhà báo độc lập này, « đây là lý do vì sao hiện nay, bên hưởng lợi chính từ sự bùng nổ trí tuệ nhân tạo, vốn tiêu thụ nhiều năng lượng là khí đốt, và có lẽ bước tiếp theo là năng lượng hạt nhân. Nhưng quả thật, năng lượng nguyên tử rất đắt đỏ và rất khó để triển khai. Người ta phải chờ xem chính quyền Trump thực sự có đủ nguồn lực để đáp ứng tham vọng đó hay không. Điều chắc chắn là hiện nay có nhiều thông báo về các lò phản ứng mô-đun nhỏ (SMR) nhưng chúng ta cần xem liệu việc sản xuất điện bằng các lò phản ứng nhỏ với giá cạnh tranh có khả thi hay không. Hiện tại, các nhà sản xuất lớn tron

    11 min
  6. JAN 8

    Can thiệp quân sự chống Venezuela giúp Trump áp đặt quan điểm « Nước Mỹ trên hết »

    Cuộc can thiệp quân sự chớp nhoáng trong vài tiếng đồng hồ của các lực lượng Mỹ tại Venezuela để bắt tổng thống Nicolas Maduro đưa sang Hoa Kỳ ngày 03/01/2026 là một diễn biến bất ngờ với đông đảo công chúng. Hành động không thông qua Quốc Hội Mỹ, đứng ngoài mọi khuôn khổ luật pháp quốc tế của chính quyền Trump được nhiều nhà quan sát xem như là một cuộc tấn công vào nền móng của kiến trúc an ninh quốc tế, do chính Hoa Kỳ chủ trương. Với những ai tin tưởng tổng thống Mỹ Donald Trump là người theo chủ nghĩa biệt lập, xa lánh mọi can thiệp quân sự bên ngoài, và chỉ hành động trong trường hợp bất đắc dĩ, sẽ ngạc nhiên về chiến dịch quân sự quy mô lớn, bắt giữ tổng thống một quốc gia có chủ quyền. Tuy nhiên, giới quan sát ghi nhận chiến lược của phe cầm quyền tại Mỹ đối với Venezuela thể hiện rõ quốc gia Nam Mỹ này đã được sử dụng như một phương tiện thực thi chủ trương « Nước Mỹ trên hết » của Donald Trump, và chủ trương « Nước Mỹ trên hết » chỉ có thể thành công nếu Washington áp đặt trở lại quyền kiểm soát với khu vực Tây Bán Cầu. Chống « khủng bố ma túy » chỉ là bình phong Vì sao Donald Trump chọn Venezuela làm mục tiêu của cuộc can thiệp quân sự chưa từng có này ? Nhà báo Gille Paris của Le Monde, trong bài « Đối với Donald Trump, chủ trương ‘‘Nước Mỹ trên hết’’ được thực thi trước hết qua trường hợp Venezuela », nêu bật việc tổng thống Mỹ ngay từ khi trở lại cầm quyền đầu năm 2025, đã chuẩn bị các điều kiện cho mục tiêu kiểm soát Venezuela : từ việc ban hành sắc lệnh tổng thống về việc xác định các tổ chức tội phạm và các băng đảng buôn lậu ma túy là « tổ chức khủng bố nước ngoài », một công cụ tư pháp chống lại chế độ Caracas, cho đến việc triển khai lực lượng quân sự quy mô lớn áp sát Venezuela nhân danh lá bài chống « khủng bố ma túy ». Các hoạt động này diễn ra song hành với nỗ lực của chính quyền Trump khẳng định quyền lực của một siêu cường có thể hành xử tùy ý, bất chấp mọi khuôn khổ, đặc biệt tại khu vực châu Mỹ Latinh, vốn được coi là « sân sau » của nước Mỹ trong suốt thời kỳ Chiến tranh Lạnh cũng như nhiều thập niên trước đó. Kẻ mạnh có thể chà đạp mọi khuôn khổ: « Sự thật vĩnh cửu trong quan hệ quốc tế » Cuộc chiến chống « khủng bố ma túy » của chính quyền Trump được nhiều chuyên gia xem như là một bình phong để che đậy các tham vọng khác. Tháng 6/2025, trả lời phỏng vấn tạp chí The Atlantic, tổng thống Mỹ khẳng định có toàn quyền quyết định điều gì có thể đưa vào hay không đưa vào định nghĩa « Nước Mỹ trên hết ». Chiến lược an ninh quốc gia điều chỉnh, được công bố vào tháng 12/2025, ít tuần lễ trước cuộc can thiệp quân sự tại Venezuela, cho thấy rõ chủ trương của tổng thống Mỹ sẵn sàng hành động bất chấp mọi khuôn khổ pháp lý hay đạo lý: « Ảnh hưởng của các quốc gia lớn nhất, giàu nhất và mạnh nhất luôn vượt ra mọi khuôn khổ là một sự thật vĩnh cửu trong quan hệ quốc tế ». Liên quan đến khu vực Mỹ Latinh, chiến lược này nêu rõ là Mỹ phải tìm cách tiếp cận các nguồn tài nguyên và vị trí chiến lược, đồng thời đảm bảo rằng các chính phủ trong khu vực « đủ ổn định và được quản lý tốt để ngăn chặn và hạn chế tình trạng di cư ồ ạt đến Hoa Kỳ ». Theo tài liệu này, Hoa Kỳ « sẽ ngăn chặn các đối thủ ngoài khu vực có cơ hội triển khai lực lượng hoặc các khả năng đe dọa khác, hoặc sở hữu hoặc kiểm soát các tài sản chiến lược » trong khu vực, ám chỉ đến Trung Quốc, quốc gia mua dầu mỏ chính của Venezuela. Châu Mỹ Latinh nói riêng và Tây Bán Cầu nói chung đã được tái xác định là khu vực gắn liền với lợi ích sống còn của nước Mỹ dưới thời Trump. Ngay từ đầu nhiệm kỳ, tổng thống Mỹ đã nhiều lần tuyên bố về chủ trương sáp nhập Canada, Groenland và kênh đào Panama. Tuy nhiên, Venezuela đã được chọn làm điểm tấn công đầu tiên. Dầu mỏ Venezuela: Duyên nợ trăm năm và tham vọng thống trị của Mỹ Nếu như chế độ độc tài của tổng thống Nicolas Maduro thường xuyên bị chính quyền Trump lên án, dầu mỏ được coi là lý do chủ yếu khiến Nhà Trắng can thiệp quân sự tại Venezuela. Ông Trump liên tục khẳng định nước Mỹ phải giành lại quyền kiểm soát các nguồn tài nguyên đã bị chế độ Chavez tước đoạt. Việc lãnh đạo cánh tả Hugo Chavez lên nắm quyền vào năm 1999 đã chấm dứt giai đoạn quan hệ được coi là ổn định, kéo dài gần thế kỉ giữa chính quyền Venezuela trong các thời kỳ khác nhau và Washington. Chính quyền của tổng thống Bush con từng ủng hộ cuộc đảo chính hụt chống chế độ Chavez hồi năm 2002. Quan hệ « dầu mỏ » Mỹ - Venezuela bắt đầu từ năm 1908, sau khi tư lệnh quân đội, phó tổng thống Juan Vicente Gómez lật đổ tổng thống Cipriano Castro, với sự hỗ trợ của hải quân Mỹ, Venezuela bước vào một thời kỳ liên minh thực dụng với Washington. Gómez mở cửa hoàn toàn ngành dầu mỏ cho các tập đoàn dầu khí Mỹ, đặt nền móng cho mối « quan hệ dầu mỏ » kéo dài hàng thập kỷ. Tuần báo Le Point, trong bài phân tích mang tựa đề « De Monroe à Trump : Le Venezuela éternel laboratoire de l’empire américain » (Từ Monroe đến Trump : Venezuela luôn là địa bàn thử nghiệm cho chính sách đế quốc của nước Mỹ), ghi nhận : bất chấp quan hệ song phương căng thẳng, Venezuela vẫn tiếp tục là nhà cung cấp dầu mỏ chính của Mỹ, cho dù chính quyền Chavez mở rộng quan hệ với Cuba, Iran, Nga và Trung Quốc. Dưới thời Chavez, trao đổi thương mại Mỹ - Venezuela, với hàng hóa chính là dầu mỏ, lên tới 50 tỉ đô la vào năm 2007. Sự phụ thuộc lẫn nhau về năng lượng khiến Washington hạn chế các trừng phạt đối với chế độ Caracas. Việc chính quyền Venezuela quốc hữu hóa ngành dầu mỏ từ năm 1976 đã không phá vỡ thế cân bằng này : Venezuela tiếp tục được coi là nhà cung cấp đáng tin cậy cho Mỹ, nên Washington chấp nhận sự độc lập tương đối của Caracas trong Tổ chức các quốc gia xuất khẩu dầu mỏ (OPEC). Donald Trump trong nhiệm kỳ thứ nhất đã thi hành chiến lược « gây áp lực tối đa » với Venezuela, nhằm buộc tổng thống Maduro, cầm quyền từ năm 2013, phải có nhiều nhân nhượng. Tập đoàn Mỹ Chevron, đối tác liên doanh chính của tập đoàn dầu mỏ quốc gia Venezuela (PDVSA), là công ty duy nhất được phép vận chuyển dầu thô từ Venezuela sang Mỹ với khoảng 100.000 đến 150.000 thùng dầu mỗi ngày, ngay trong thời gian Washington phong tỏa các tuyến đường hàng hải, và ra lệnh cấm Venezuela xuất khẩu dầu. Hơn 40 lần Mỹ thay đổi chính quyền tại châu Mỹ Latinh, nhưng Venezuela là trường hợp đặc biệt Theo thống kê của nhà sử học John Coatsworth, được trang mạng Le Grand Continent dẫn lại, từ năm 1898 đến năm 1994, nước Mỹ đã can thiệp 41 lần vào khu vực châu Mỹ Latinh để thay đổi chính quyền. Tuy nhiên, cuộc can thiệp vừa qua chống tổng thống Nicolas Maduro được xem như một trường hợp đặc biệt. Việc Mỹ đưa binh sĩ can thiệp trực tiếp vào lãnh thổ một quốc gia Mỹ Latinh để bắt giữ hoặc loại bỏ người đứng đầu nhà nước đương nhiệm chỉ xảy ra hai lần. Một lần tại Grenada năm 1983, và một lần vào năm 1989 tại Panama. Hai chiến dịch này đều nhắm vào lãnh đạo các quốc gia nhỏ với ít ảnh hưởng quốc tế. Với việc bắt giữ nhà lãnh đạo Venezuela, mặc dù Washington không công nhận ông là tổng thống hợp pháp, Hoa Kỳ đã tấn công một quốc gia có tầm vóc hoàn toàn khác, cả về quy mô và tầm ảnh hưởng khu vực và quốc tế. Thách thức Nga, Trung, hạ nhục cánh tả Về các lý do Mỹ can thiệp vào Venezuela, chuyên gia về châu Mỹ Latinh Clément Thibaud, giám đốc nghiên cứu trường Cao học Khoa học Xã hội (EHESS), đưa ra một nhận định tổng quan trong cuộc trả lời phỏng vấn đài Pháp France Culture (La Doctrine Monroe expliquée):   « Châu Mỹ Latinh phần nào giống như một phòng thí nghiệm cho những gì có thể xảy ra tiếp theo phần còn lại của thế giới, bởi vì Hoa Kỳ khá quen thuộc với khu vực này, họ ít gặp rủi ro hơn khi hành động. Thực tế, tôi cho rằng chúng ta

    8 min
  7. 12/18/2025

    2025: Ukraina, eo biển Đài Loan, vịnh Caribê và Chiến lược An ninh Quốc gia Mỹ

    Năm 2025 sắp khép lại nhưng nước Nga tuyên bố sẽ chẳng có « hưu chiến » tại Ukraina vào mùa lễ Noel. Tại châu Á, xung đột Thái Lan và Cam Bốt tái bùng phát, gần một triệu người phải sơ tán, trong khi quan hệ Trung Quốc và Nhật Bản căng thẳng do vấn đề Đài Loan. Ở châu Mỹ Latinh, chính quyền Trump tiếp tục gia tăng áp lực với Venezuela. Còn ở Gaza, người dân Palestine chẳng biết ngày nào sẽ được bình an trở lại. Tuy nhiên, việc tổng thống Mỹ Donald Trump hôm 05/12/2025 công bố Chiến lược An ninh Quốc gia mới (NSS 2025) đã làm dấy lên nhiều tranh luận tại châu Âu vào lúc các cuộc đàm phán cho hòa bình cho Ukraina đang diễn ra căng thẳng. Tài liệu đánh dấu một bước ngoặt quan trọng cho chính sách đối ngoại của Mỹ khẳng định Tây bán cầu (châu Mỹ) trở thành ưu tiên hàng đầu. Donald Trump, « cướp biển vùng Caribê » Theo Kevin Parthenay, giáo sư đại học Tours, thành viên Viện Đại học Pháp, việc công bố tài liệu này « không gây ngạc nhiên ». Văn bản chính thức hóa và tạo « sự mạch lạc » cho các hành động mà Hoa Kỳ đã và đang thực hiện tại lục địa, từ việc can thiệp vào bầu cử, gây sức ép để tái triển khai quân đội, hay đe dọa dùng vũ lực, tùy theo đặc thù của mỗi nước mà chính quyền Trump có những cách thức hành động khác nhau. Đây được coi là một « sự mở rộng » hay một dạng « cập nhật của học thuyết Monroe », được thiết lập vào thế kỷ XIX, nhằm mục đích thiết lập thế bá quyền của Mỹ trong khu vực và ngăn cản các cường quốc khác ngoài Hoa Kỳ can thiệp vào « bán cầu châu Mỹ ». Điều này cho thấy học thuyết này vẫn đứng vững với thời gian và để lại hai hệ luận. Trên đài RFI (1/12/2025), Kevin Parthenay, nhà nghiên cứu về Khoa học Chính trị, giải thích tiếp : « Hệ quả Roosevelt, được thực hiện vào đầu thế kỷ 20, đã đưa Học thuyết Monroe lên một tầm cao hơn. Học thuyết đó tuyên bố rằng các cường quốc ngoài khu vực không chỉ không được quyền can thiệp vào không gian ảnh hưởng của Mỹ, mà những ai cố gắng tiếp cận khu vực này sẽ phải đối mặt với sự trả đũa. Vì vậy, ở đây chúng ta có một hệ luận mới từ Donald Trump, người gửi một thông điệp tương tự, theo đó Hoa Kỳ hiện đang tái khẳng định quyền bá chủ của mình đối với không gian của Mỹ và do vậy, chúng ta sẽ cố gắng ngăn chặn, được sử dụng trong tài liệu, nhằm ngăn chặn bất kỳ cường quốc nước ngoài nào tìm cách can thiệp hoặc mở rộng sự hiện diện của họ trên lục địa ». Tài liệu này được cho là đã tạo nên một « sự đột phá » so với chính sách được theo đuổi dưới thời các tổng thống Barack Obama và Joe Biden, vốn chỉ « tập trung vào các khu vực khác » trên thế giới, và châu Mỹ Latinh không được coi là một khu vực chiến lược. Từ khi trở lại Nhà Trắng, Donald Trump tin rằng sự ổn định của đất nước ông phụ thuộc, ít nhất một phần, vào những gì xảy ra ở châu Mỹ Latinh. Chỉ có điều, cách thức hành động của chính quyền Trump tỏ ra có phần bạo lực, mang tính cưỡng ép như những gì diễn ra tại vùng vịnh Caribê trong những tháng gần đây, đến mức tờ El Pais Amercica không ngần ngại có bài viết với hàng tựa « Donald Trump, cướp biển vùng Caribê ! » Châu Âu – Mỹ : Quan hệ liên kết có điều kiện Chiến lược mới này là hiện thân cho học thuyết « Nước Mỹ trên hết » : Hoa Kỳ chủ trương giảm bớt một số nghĩa vụ toàn cầu, ưu tiên bảo vệ lãnh thổ quốc gia, an ninh kinh tế và tái công nghiệp hóa đất nước, cũng như quyền chủ quyền và giảm bớt sự phụ thuộc trong nhiều lĩnh vực chiến lược. Sự hiện diện quân sự của Mỹ sẽ được điều chỉnh, từ bỏ - hay chí ít là giảm bớt – các cam kết quân sự tại những chiến trường « ít thiết yếu » cho an ninh quốc gia Hoa Kỳ. Trong tầm nhìn này, NSS 2025 ngầm định nghĩa lại mối quan hệ Hoa Kỳ và châu Âu – không còn là một quan hệ đối tác cân bằng toàn cầu, mà là một sự liên kết có điều kiện, theo hình thức « chia sẻ gánh nặng » và nhất là châu Âu được kêu gọi đảm nhận trách nhiệm nhiều hơn đối với an ninh của chính mình. Đây là một cú sốc chính trị cho Liên Hiệp Châu Âu vào lúc các nước trong khu vực xem Nga như là một mối đe dọa an ninh ngày càng lớn trong bối cảnh chiến tranh Ukraina có những diễn tiến bất lợi cho Kiev, đang chịu nhiều sức ép từ phía Washington, hối thúc tổng thống Zelensky nên nhượng lãnh thổ để chấm dứt chiến tranh. Sự hụt hẫng này của châu Âu một phần là do những đánh giá sai lầm của khối, cho rằng Donald Trump là kẻ thù của tư duy dài hạn, được điều khiển bởi bản năng. Đối với Olivier Zajec, giảng viên trường đại học Lyon III và là nhà sáng lập Viện Nghiên cứu Chiến lược và Quốc phòng (IESD), trái với những nhận định trên, Donald Trump ngay từ đầu nhiệm kỳ một đã có một kế hoạch chiến lược dài hạn, liên quan đến điều mà ông gọi là « vị trí của nước Mỹ trong một hệ thống quốc tế đang được tái định hình tùy theo các phạm vi quyền lực, phạm vi gây ảnh hưởng và phạm vi chia sẻ ảnh hưởng các các cường quốc trong khuôn khổ điều mà người ta có thể gọi là các cực đối lập cấp độ một ». Trả lời chuyên mục « Les grands entretiens d'Anne Rosencher », tuần báo L’Express, chuyên gia về Lịch sử Quan hệ Quốc tế Đương đại, phân tích : « Có ba điều quan trọng đối với Hoa Kỳ khi nói đến việc bảo vệ lợi ích quốc gia : Sức mạnh quân sự, hay sức mạnh nói chung, sự thịnh vượng kinh tế và tính chính trực về đạo đức. Và trên thực tế, Trump là người đầu tiên không đề cập đến tính chính trực về đạo đức và không đưa nó vào phương trình của mình. Kim chỉ nam của ông là kim chỉ nam dài hạn : Đó là sự thịnh vượng kinh tế và sức mạnh quân sự. Và với điều đó, ông tin rằng quyền tự do hành động của mình sẽ được tối đa hóa trong một hệ thống quốc tế mới, nơi Hoa Kỳ phải đóng vai trò lãnh đạo (…) Vì vậy, trong tầm nhìn này của ông, chiến lược vĩ đại của ông, ông chèo lái, điều hướng, liên tục đổi hướng, và đôi khi chúng ta phải theo ông ấy (…)  Kế hoạch của ông ấy là bảo vệ lợi ích của Mỹ ở khắp mọi nơi, với bất kỳ ai, kể cả với đồng minh hay chống lại đồng minh, và trong bất kỳ hoàn cảnh nào. » Chiến tranh Ukraina : Sẽ không có thỏa thuận hòa bình ! Thế nên, trong hồ sơ Ukraina, tuy cảm thấy mệt mỏi về cuộc chiến, nguyên thủ Mỹ cũng không muốn nhượng bộ tất cả mọi thứ cho Nga. Theo ông Trump, « phải kềm chế Nga nhưng không được đẩy lùi họ hoặc coi Nga là kẻ thù không thể hòa giải. Trump tin rằng chúng ta có thể đối thoại với tất cả mọi người bất kể sự kinh hoàng và hậu quả của chiến tranh. Và ông ấy vẫn chưa từ bỏ hy vọng biến Nga thành đối tác trong vấn đề này hay vấn đề khác trong khuôn khổ thách thức khác, đó là cuộc đối đầu với Trung Quốc », chuyên gia Olivier Zajec đánh giá. Cũng theo nhà nghiên cứu này, Donald Trump là một người ủng hộ tư tưởng tân chủ nghĩa hiện thực mang tính công kích. Mọi thứ có thể chiếm đoạt đều phải chiếm đoạt, để có thể thoát khỏi điều được gọi là « tình thế tiến thoái lưỡng nan của sự bất định ». Đối với Donald Trump, hồ sơ Ukraina còn là vấn đề « cân bằng quyền lực ». Kiev không thể thất thủ và cán cân quyền lực trên lục địa già không được phép bị phá vỡ, bởi vì Mỹ cũng không được lợi gì nếu những điều này diễn ra. Đối với Olivier Zajec, « việc để Ukraina bị thôn tính hoàn toàn sẽ làm tổn hại đến uy tín của Hoa Kỳ, bất kể một số người trong vòng thân cận của Trump nghĩ gì - những người sẵn sàng hy sinh Ukraina. Tôi tin rằng ông ấy không cùng quan điểm đó. Ông ta nhận thức được mối quan hệ giữa cán cân quyền lực và cán cân danh tiếng, một mối quan hệ thường bị bỏ qua, và đó là lý do tại sao Kiev không được phép sụp đổ. Vì vậy, mục tiêu là tạo ra thế bế tắc và tê liệt, theo kiểu Triều Tiên. Sẽ không có thỏa thuận hòa bình mà chỉ là một kiểu đình chiến và một khu vực quân sự hóa khác,

    12 min
  8. 12/11/2025

    Mỹ không muốn giữ vai trò trụ cột trong NATO: Kịch bản khó tránh trong những năm tới

    Các nước châu Âu đang đứng trước áp lực ngày càng mạnh từ phía chính quyền Mỹ đòi phải đầu tư mạnh cho quốc phòng. Tổng thống Donald Trump đe dọa Mỹ sẽ không thực thi cam kết hậu thuẫn các thành viên nào không đáp ứng các đòi hỏi của Washington. Nhiều nhà quan sát thậm chí nêu khả năng Washington rút khỏi NATO, liên minh quân sự lâu đời, thường được coi là một trụ cột không thể thiếu của sức mạnh phương Tây. Thực hư ra sao ? 2027: Áp lực đáng sợ Đầu tháng 12/2025, truyền thông phương Tây dẫn lại các nguồn tin nắm rõ các trao đổi đang diễn ra giữa bộ Quốc Phòng Mỹ và các nhà ngoại giao châu Âu, theo đó, Washington muốn châu Âu từ nay đến năm 2027, đảm nhiệm một phần lớn lực lượng vũ trang quy ước của NATO, từ tình báo đến hệ thống phòng thủ tên lửa. Lầu Năm Góc đã tỏ ra không hài lòng về tiến độ tăng cường năng lực phòng thủ của châu Âu kể từ khi Nga tiến hành cuộc xâm lược Ukraina trên quy mô lớn đầu năm 2022. Việc chính quyền Trump đòi hỏi các nước châu Âu đảm nhiệm một vai trò lớn hơn gấp bội trong NATO đặt châu Âu trước nhiều thách thức. Tướng François Chauvancy, chuyên gia địa chính trị, trong một cuộc tọa đàm trên đài Pháp LCI đầu tháng 12/2025, giải thích về vai trò chủ đạo của Mỹ với NATO : « Khi chúng ta nói về 60.000 người Mỹ, tôi xin nhắc lại, chỉ có 60.000 người trên tổng số 1,4 triệu quân nhân ở châu Âu, thì con số quân nhân Mỹ rõ ràng là không đáng kể. Tuy nhiên, số lượng máy bay lại rất đáng kể, rồi còn có các căn cứ không quân, trong đó có căn cứ không quân lớn Rammstein. Và không thể phủ nhận là tình báo Mỹ đã mang lại cho NATO sức mạnh to lớn. Tôi nghĩ rằng nếu không có tình báo Mỹ, và đây là điểm yếu của chúng ta, chúng ta sẽ rơi vào tình thế khó khăn, nếu không cẩn thận, giống như trường hợp với Ukraina. Nếu như các vị không ngoan ngoãn, chúng tôi sẽ cắt ! Trong hai năm nữa, chúng ta sẽ không có được thông tin tình báo như với người Mỹ hiện nay. » Ngoài lực lượng vũ trang quy ước, nước Mỹ với hơn 5.000 đầu đạn hạt nhân là một sức mạnh răn đe chủ chốt của NATO, bảo vệ châu Âu trước các đe dọa của Nga. Hoa Kỳ, trụ cột khó thay thế  Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (tức khối NATO) là một « liên minh chính trị và quân sự » được thành lập năm 1949, với thành viên sáng lập là 12 quốc gia châu Âu và Bắc Mỹ, trong thời kỳ đầu Chiến tranh Lạnh, với mục tiêu ban đầu là đảm bảo an ninh tập thể chống lại đe dọa từ Liên Xô. Kể từ khi Chiến tranh Lạnh kết thúc, NATO kết nạp thêm nhiều thành viên mới, bao gồm các quốc gia thuộc khối Đông Âu cũ. Hiện tại NATO có 32 thành viên. Nguyên tắc được coi là trung tâm của NATO đó là điều 5 của hiệp ước, quy định một cuộc tấn công chống lại một thành viên được coi là một cuộc tấn công chống lại tất cả các thành viên. NATO, với vai trò chủ đạo của Hoa Kỳ, được coi là hậu thuẫn vững chắc đối với an ninh của châu Âu. Mỹ muốn rút khỏi vị trí Tổng tư lệnh NATO: Một tín hiệu mạnh Chính quyền Trump không chỉ yêu cầu các nước châu Âu gia tăng đầu tư gấp bội cho quốc phòng NATO. Ngay từ đầu năm nay, Washingtin đã phát tín hiệu sẵn sàng chuyển giao vị trí tổng tư lệnh các lực lượng NATO tại châu Âu (SACEUR), chức vụ quân sự cao cấp nhất của liên minh, cho người châu Âu. Chức vụ lãnh đạo quân sự của NATO, theo thông lệ, luôn do một tướng Mỹ nắm giữ suốt 75 năm qua, trong lúc người châu Âu đảm nhiệm chức vụ tổng thư ký. Người đầu tiên nắm giữ chức tư lệnh NATO là tướng Mỹ Eisenhower của Hoa Kỳ, tư lệnh tối cao quân đội châu Âu trong Thế chiến II và tổng thống thứ 34 của nước Mỹ.   Hơn nửa năm sau, hồi tháng 11 vừa qua, đại sứ Mỹ tại NATO, Matthew Whitaker, trong một hội nghị về an ninh tại Berlin đã bắn tiếng là Hoa Kỳ muốn Đức đảm nhiệm vai trò lãnh đạo quân sự của NATO trong tương lai (Euronews). Sau khi thông tin này được tung ra hồi tháng 3/2025, đô đốc Mỹ James Stavridis, cựu tổng tư lệnh quân đội NATO tại châu Âu (từ năm 2009 đến 2013), nhận định: quyết định này, nếu được thực thi, sẽ « là một sai lầm chính trị to lớn », « Hoa Kỳ sẽ mất đi ảnh hưởng lớn trong khối NATO, và điều này sẽ được xem là bước đầu tiên hướng tới việc Mỹ rút lui hoàn toàn khỏi Liên minh Đại Tây Dương » (thư trả lời đài Mỹ NBC News). Kịch bản Mỹ « chính thức » rút hẳn khỏi NATO rất khó xảy ra Khả năng Mỹ rút khỏi NATO ra sao ? Ông Camille Grand, cựu trợ lý tổng thư ký NATO (2016-2022), chuyên gia viện tư vấn chính trị Hội đồng Quan hệ Quốc tế châu Âu, hồi tháng 8/2025, trong bài phân tích về chủ đề « NATO có thể tồn tại mà không có Hoa Kỳ hay không », nhận định : « Tôi có thể sẽ ngay lập tức bác bỏ ý tưởng về việc Mỹ rút khỏi NATO một cách chính thức với một tuyên bố, ví dụ như 6 tháng trước khi rút. Đây sẽ là điều gần như bất khả thi. Có nhiều lý do. Trước hết, vì mọi thứ phức tạp hơn thế. Cách làm việc của Donald Trump không phải như vậy. Thứ hai là Quốc hội Mỹ đã thông qua một quy định phức tạp để giải thích khi nào Quốc Hội cần được tham vấn. Dù sao, cũng khó mà tưởng tượng Quốc hội sẽ hoàn toàn tuân theo lệnh của Trump. Quốc hội Mỹ đã yêu cầu là để rút khỏi NATO cần phải có một cuộc bỏ phiếu với điều kiện tương tự như khi phê chuẩn. Quyết định này đã được thông qua với 98 phiếu tại Thượng viện Mỹ. Vì vậy, đi ngược lại quyết định đó, ngay cả với Trump, cũng là một thách thức chính trị lớn. » Đọc thêm : Hạ Viện Mỹ thông qua ngân sách quốc phòng kỷ lục và tiếp tục duy trì quân đội ở châu Âu Quốc Hội Mỹ có vai trò đối trọng đáng kể với hành pháp về chủ đề này. Ngày 10/12, Hạ Viện Mỹ, với sự ủng hộ của lưỡng đảng, đã thông qua dự luật về chiến lược quốc phòng 2026, với nhiều điều khoản duy trì sự hiện diện của quân đội Mỹ ở châu Âu, trái ngược với những tín hiệu gần đây từ Nhà Trắng, muốn cắt giảm. Các nhà lập pháp đã bỏ phiếu với tỷ lệ 312-112 ủng hộ dự luật, hạn chế khả năng của chính quyền Trump trong việc giảm số lượng binh sĩ Mỹ tại châu Âu và Hàn Quốc, cung cấp viện trợ cho Ukraina. Cho đến nay, với lưỡng đảng Mỹ, NATO vẫn là trụ cột của sức mạnh toàn cầu của nước Mỹ. Kịch bản nhiều khả năng: Chính quyền Trump không thực thi cam kết bảo vệ đồng minh Cựu trợ lý tổng thư ký NATO Camille Grand nhấn mạnh kịch bản nhiều khả năng hơn là chính quyền Trump có thể sẽ chọn cách không thực thi các cam kết với NATO, với thẩm quyền của hành pháp: « Trên thực tế, giả thuyết mà tôi muốn phát triển là ý tưởng về một sự rút lui trên thực tế hơn là một sự rút lui chính thức. Trump đã muốn làm điều này trong nhiệm kỳ đầu tiên của ông, nhưng chưa thực hiện được, cụ thể là giảm bớt lực lượng Mỹ ở châu Âu. Ta nhớ rằng trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh, có khoảng 280.000 lính Mỹ ở châu Âu trước khi xảy ra cuộc khủng hoảng Ukraina. Con số này giảm xuống còn khoảng 65.000 đến 75.000. Mỹ có thể rút các sĩ quan khỏi các vị trí quan trọng trong khối NATO. Nhưng đối với tôi, giả thuyết khả thi và đáng lo ngại nhất là một thông điệp liên quan đến Điều 5 của Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương. Cụ thể là Mỹ không còn đứng về phía các đồng minh, vì tổng thống Mỹ đã tuyên bố như vậy. Trump đã nói trong chiến dịch tranh cử rằng sẽ không bảo vệ một quốc gia nào không chi ít nhất 2% GDP cho quốc phòng. Điều 5 của Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương, được xác lập năm 1949, để lại nhiều khoảng trống trong khâu triển khai thực thi nghĩa vụ đoàn kết bảo vệ đồng minh. Nước Mỹ có thể rút lui một cách lặng lẽ hoặc ồn ào thông qua các tuyên bố, nhưng không theo một cách thức có trật tự và chính thức. Mỹ sẽ làm xói mòn cam kết với liên minh NATO, mà không hoàn toàn rời bỏ một cách chính thức. » Cơ hội « hiếm có » với châu Âu Việc Mỹ thoái lui khỏi NATO có phải là điều tồi tệ với châu Âu hay không ? Trong lúc nhiều người lên tiếng chỉ trí

    8 min

About

Thời sự quốc tế nổi bật qua lăng kính của RFI

More From RFI Tiếng Việt

You Might Also Like