Tạp chí tiêu điểm

Thời sự quốc tế nổi bật qua lăng kính của RFI

  1. 1d ago

    2026 : Kỳ World Cup mang đậm mầu sắc chính trị của Donald Trump

    Ngày 11/06/2026, giải Vô địch Bóng đá Thế giới lần thứ 23 chính thức khai mạc tại ba nước đồng tổ chức là Canada, Hoa Kỳ và Mêhicô, với trận chung kết diễn ra tại New York ngày 19/07/2026. Giữa những tranh cãi về khâu tổ chức, các chỉ trích về chính sách nhập cư, hạn chế visa nhập cảnh và các căng thẳng địa chính trị, tổng thống Mỹ Donald Trump muốn biến kỳ World Cup 2026 thành một vũ đài, thể hiện quyền lực và tầm nhìn về quan hệ quốc tế của ông. Đây là lần đầu tiên lễ hội bóng đá lớn nhất hành tinh, diễn ra mỗi bốn năm một lần, được ba nước đồng tổ chức. Sự kiện này khẳng định hơn nữa xu thế đồng tổ chức các cuộc tranh tài thể thao lớn bắt đầu từ mùa Euro 2008 tại Thụy Sĩ và Áo, Euro 2012 tại Ba Lan và Ukraina, và gần đây nhất là mùa Euro 2020, bị dời lại một năm do đại dịch Covid, diễn ra tại ít nhất 11 nước chủ nhà. Vào năm 2030, Cúp Bóng đá Thế giới sẽ diễn ra tại Tây ban Nha, Bồ Đào Nha và Maroc, với ba trận đấu khác ở Achentina, Paraguay và Uruguay. Đồng tổ chức, đồng chia sẻ chi phí, nhưng cạnh tranh hình ảnh chủ nhà Trong phiên bản 2026, việc chọn Canada, Hoa Kỳ và Mêhicô, được FIFA thông qua vào năm 2018, và theo sáng kiến của cựu tổng thống Mỹ Barack Obama, phản ảnh mong muốn xây dựng một sự kiện bóng đá cấp châu lục quy mô lớn. Theo giải thích của Cyrille Bret, chuyên gia về quan hệ quốc tế, với trang The Conversation, mục tiêu đặt ra là nhằm đáp ứng các yêu cầu kinh tế, theo đó, ba nước cùng chia sẻ chi phí tổ chức, dùng chung cơ sở hạ tầng và hạn chế việc xây dựng các công trình mới. « Những khía cạnh này càng thêm quan trọng hơn khi đây sẽ là kỳ World Cup lớn nhất trong lịch sử : Lần đầu tiên có 48 đội tuyển tham gia vòng chung kết, thi đấu tổng cộng 104 trận. Bảy kỳ World Cup trước đó, kể từ kỳ tổ chức ở Pháp năm 1998, đều có 32 đội tham gia, đấu 64 trận. Con số này còn thấp hơn trước đó nữa, khi chỉ có 24 đội từ năm 1982 đến 1994 và chỉ có 16 đội trước giai đoạn này. Sự gia tăng này là đáng kể và có thể là chưa kết thúc, bởi vì FIFA đang xem xét mở rộng lên 64 đội ngay từ năm 2030. » Tuy diễn ra tại ba nước, nhưng mọi sự chú ý chủ yếu đổ dồn vào Hoa Kỳ, bởi vì 78 trong số 104 trận tranh tài sẽ diễn ra trên lãnh thổ Mỹ, và do vậy Mỹ sẽ là nơi có mật độ phủ sóng truyền thông cao nhất. Trên phương diện xây dựng « thương hiệu quốc gia », đây thực sự là một lợi thế đáng kể. Cyrille Bret lưu ý, « trong vòng một tháng, các hình ảnh được phát sóng ra toàn thế giới chủ yếu sẽ giới thiệu các thành phố lớn của Mỹ. » Nhưng để có được lợi thế này, nhà địa chính trị học về thể thao, Pascal Boniface, giám đốc Viện Quan hệ Quốc tế và Chiến lược (IRIS), trong chương trình truyền hình của France 24, nhắc lại, đích thân Donald Trump, trong nhiệm kỳ I đã can thiệp « một cách thô bạo » trong quá trình bầu chọn ứng viên đăng cai World Cup : « Lần đầu tiên một tổng thống đe dọa trừng phạt những nước nào không bỏ phiếu cho Mỹ. Thông thường một tổng thống, một nguyên thủ quốc gia chỉ làm công tác quan hệ công chúng. Vì mỗi liên đoàn có một lá phiếu, và người ta biết ai bỏ phiếu cho ai, thế nên ông Trump đã đe dọa sẽ trừng phạt những nước nào bỏ phiếu cho Maroc, một ứng viên khác. Đây thực sự là một tiền lệ chưa từng có. » Dù có ít trận đấu diễn ra trên lãnh thổ, nhưng Canada và Mêhicô cũng sẽ nỗ lực thể hiện tầm cỡ của mình trong việc bảo đảm an ninh, giao thông và cơ sở hạ tầng. Chuyên gia Cyrille Bret cho rằng « hai nước còn lại có thể tạo sự khác biệt thông qua hình ảnh như giới thiệu thành phố chủ nhà, cảnh quang hay di sản của họ, những yếu tố vô cùng quý giá, góp phần xây dựng danh tiếng quốc tế, một thương hiệu quốc gia tiếng tăm ». Cũng theo vị chuyên gia về quan hệ quốc tế, tuy đồng tổ chức nhưng còn có sự cạnh tranh về lòng hiếu khách. Các cổ động viên trên toàn thế giới sẽ so sánh cách tiếp đón tại mỗi nước. Liệu rằng nước Mỹ của Donald Trump với chủ trương « Nước Mỹ trên hết » có sẽ được đánh giá là nơi tiếp đón nồng nhiệt nhất so với hai quốc gia láng giềng hay không ? Trump đăng cai World Cup nhưng hạn chế cổ động viên nhập cảnh Về điểm này, Hoa Kỳ có lẽ đang mất lợi thế trước hai đối thủ cạnh tranh là Canada và Mêhicô. Việc đăng cai một sự kiện thể thao lớn cho phép nước chủ nhà nhấn mạnh tầm quan trọng của một quốc gia. nhưng những căng thẳng chính trị nội bộ và các xung đột địa chính trị đang làm dấy lên nỗi lo cho một thảm họa thể thao to lớn. Chính sách siết chặt nhập cư và hạn chế visa nhập cảnh của chính quyền Trump đang đi ngược lại với tinh thần của World Cup là mở cửa ra thế giới. Theo quan điểm của Cyrille Bret, đây chính là sự mâu thuẫn cốt lõi của chủ nghĩa Trump. Một mặt ông tìm cách thể hiện sự hiện diện toàn cầu của nước Mỹ, và mặt khác, ông chủ trương đóng cửa biên giới nghiêm ngặt, ngăn cản công dân các quốc gia có đủ điều kiện tham dự World Cup đến Mỹ cổ vũ cho đội nhà. Trong một phóng sự của France 24, Boubacar Seye, chủ tịch hiệp hội Horizon sans Frontières, bảo vệ quyền người di cư Senegal, quốc gia nằm trong danh sách các nước bị hạn chế cấp visa, đã chỉ trích mạnh mẽ chính sách này của chính quyền Trump là khó hiểu : « Lễ hội đã bị phá hỏng rồi. Bởi vì không thể tổ chức World Cup mà không có người hâm mộ. Điều đó là chưa từng có tiền lệ. Senegal cần phản đối bằng con đường ngoại giao. Họ cần liên hệ với FIFA, họ cần liên hệ với các tổ chức nhân quyền. » Chính sách cứng rắn này của Trump là hữu ích về mặt chính trị. Hình ảnh về sự kiên quyết bảo vệ biên giới vẫn được một bộ phận cử tri của ông ủng hộ. Cách đánh giá này cũng được Kevin Veyssière, chuyên gia địa chính trị thể thao, trả lời France 24 cùng chia sẻ : « Trên bình diện đối nội, ông sử dụng giải đấu để thách thức việc đăng cai các trận đấu của một số thành phố do đảng Dân Chủ điều hành và có bất đồng với chính sách của ông. Điều này là quan trọng bởi vì bầu cử giữa kỳ sẽ diễn ra vài tháng sau kỳ World Cup. Ông hy vọng rằng mùa bóng này sẽ là một lợi thế để giành thắng lợi bầu cử ». Nước chủ nhà và nước dự giải trong chiến tranh Một ẩn số khác trong kỳ World Cup lần này là sự tham dự của Iran. Lần đầu tiên trong lịch sử bóng đá, nước chủ nhà và nước tham dự giải đấu trong tình trạng chiến tranh từ hơn ba tháng nay. Sự hiện diện của tuyển Iran trở thành một thách thức ngoại giao. Nhà địa chính trị về thể thao Pascal Boniface nhắc lại, trong quá khứ, vào năm 1998, khi Mỹ và Iran vào thời điểm đó cũng trong tình trạng chiến tranh, đã cho thế giới thấy một hình ảnh tích cực : « Vào năm 1998, hai đội đã chụp ảnh chung, và các cầu thủ Iran đã tặng hoa hồng trắng cho các cầu thủ Mỹ. Đó là thời kỳ xích lại gần nhau về mặt ngoại giao giữa Hoa Kỳ dưới thời Bill Clinton và Iran dưới thời Katami. » Về phần mình, Cyrille Bret lưu ý : « Những cuộc tranh tài thể thao lớn không tạo ra những căng thẳng quốc tế nhưng chúng làm nổi rõ những vấn đề đó. Thể thức tham gia của Iran sẽ phụ thuộc chủ yếu vào tình trạng quan hệ giữa Washington và Teheran vào thời điểm diễn ra giải đấu – một mối quan hệ biến động gần như hàng ngày. Vấn đề này có thể trở thành, giống như một số vụ tẩy chay Olympic trong quá khứ, một công cụ để gây áp lực hoặc đàm phán. Người ta đã biết rằng đội tuyển Iran, theo nguyên tắc sẽ thi đấu các trận của họ trên lãnh thổ Hoa Kỳ, cuối cùng đóng trại tại Tijuana, Mêhicô, gần biên giới với Mỹ, và sẽ phải di chuyển đi về trong cùng một ngày. Nhưng World Cup chỉ đơn thuần là sự phản ánh của một động lực quyền lực đã tồn tại từ trước. » Ở đây một lần nữa chính quyền Trump áp đặt luật chơi đối với một sự kiện thể thao lớn. Trả lời France 24 Kevin Veyssière cho rằng, « trên trường quốc tế, Hoa Kỳ rõ ràng không cần World Cup để củng cố quyền lực mề

    11 min
  2. Jun 4

    Hòa bình cho Ukraina: Đối thoại EU – Nga và những bài học Minsk

    Đầu năm 2026, nhiều thúc đẩy từ phía Nga cũng như nội bộ chính giới châu Âu để Liên Âu trực tiếp đối thoại với điện Kremlin nhằm tìm ra giải pháp chấm dứt cuộc chiến tranh Nga – Ukraina, kéo dài từ hơn 4 năm nay. Đầu tháng 6, trước thềm thượng đỉnh của khối 27 nước ngày 18-19/06/2026, theo một số thông tin báo chí, giới lãnh đạo châu Âu có thể đề nghị với Nga « một thỏa thuận ngừng bắn », như một điều kiện tiên quyết trước khi bước vào đàm phán chính thức.  *** Việc khối 27 nước tìm lập trường thống nhất để đối thoại trực tiếp với Nga là một diễn biến mới, và đáng được khích lệ, trong bối cảnh cho đến nay, « Liên Hiệp Châu Âu gánh vác một phần chủ yếu và ngày càng lớn cái giá về kinh tế, tài chính cũng như về chính trị của cuộc xung đột này, nhưng lại bị gạt ra bên lề trong các cuộc đàm phán quan trọng » (Le Diplomat). Thống nhất lập trường, duy trì áp lực để buộc Nga có giải pháp chấm dứt chiến tranh là điều cần thiết, tuy nhiên, nhiều chuyên gia hàng đầu cảnh báo, một thỏa thuận ngừng bắn vội vàng với Nga là lợi bất cập hại. Đọc thêm : Nan giải của châu Âu là tìm được “tiếng nói chung” để đối thoại Putin « Trên thực tế, một thỏa thuận ngừng bắn vội vàng hoặc được thiết kế kém có thể khiến việc đạt được một giải pháp lâu dài trở nên khó khăn hơn », theo nhận định của chuyên gia Trung tâm tư vấn độc lập Chatham House, thuộc Royal Institute of International Affairs, có trụ sở tại Luân Đôn (bài « Một thỏa thuận ngừng bắn giữa Nga và Ukraina có thể gây nguy hiểm cho an ninh của Ukraine và châu Âu như thế nào? » của ông Simon Smith, đồng tác giả, đồng phụ trách chương trình nghiên cứu về khu vực Á – Âu và Nga). Nhận định của chuyên gia Chatham House ngụ ý nhắc đến vết xe đổ của hai thỏa thuận ngừng bắn Minsk I và Minsk II, được xác lập hồi 2014-2015, rút cục đã bị nhiều người coi như một « thất bại của ngoại giao châu Âu », tạo điều kiện cho Nga tiếp tục lấn tới bảy năm sau đó, với cuộc xâm lăng trên quy mô lớn, kéo dài cho đến nay. Thỏa thuận Minsk I và Minsk II cụ thể ra sao ? Các thỏa thuận, được ký kết tại Minsk, thủ đô Belarus, trong hai đợt, tháng 9/2014 (tên chính thức là Nghị định thư Minsk, thường được gọi là Thỏa thuận Minsk I), và tháng 2/2015 (« Gói biện pháp nhằm thực thi các Thỏa thuận Minsk », thường gọi là Thỏa thuận Minsk II), có mục tiêu hướng đến chấm dứt xung đột ở miền đông Ukraina. Ký kết hai thỏa thuận này là các thành viên của nhóm tiếp xúc ba bên, bao gồm các đại diện của Nga và Ukraina, cùng đại diện của Tổ chức An ninh và Hợp tác châu Âu - OSCE. Thỏa thuận sau đó được các lực lượng ly khai được Nga hậu thuẫn ký kết. Các thỏa thuận này bao gồm 13 điểm: ngoài lệnh ngừng bắn, là việc rút vũ khí hạng nặng ra xa đường chiến tuyến, trao đổi tù nhân và con tin. Các thỏa thuận cũng quy định cải cách hiến pháp ở Ukraina để ban hành quy chế đặc biệt của hai vùng lãnh thổ, chiếm một phần của hai tỉnh Luhansk và Donetsk, do phe ly khai kiểm soát. Hai thỏa thuận này là kết quả các vận động ngoại giao của tổng thống Pháp François Hollande và thủ tướng Đức Angela Merkel, phối hợp với tổng thống Nga Vladimir Putin và đương kim tổng thống Ukraina Petro Poroshenko. Sự kết hợp của Bộ Tứ này thường được gọi là « Công thức Normadie », do bắt nguồn từ cuộc gặp không chính thức giữa lãnh đạo bốn nước tại lâu đài Château de Bénouville (Calvados), vùng Normandie - Pháp, bên lề lễ kỷ niệm 70 năm ngày đồng minh đổ bộ trong Thế chiến Hai, vài tháng sau khi chiến tranh bùng nổ ở Donbass.   Ít ngày sau khi Thỏa thuận Minsk II được đúc kết, Hội Đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc đã ra một nghị quyết, yêu cầu các bên tôn trọng Thỏa thuận này, nhưng không mang tính cưỡng chế. Vì sao các thỏa thuận Minsk bị coi là nguy hại cho Ukraina ? Đằng sau các biện pháp có vẻ rất bài bản như trên là một thực tế hoàn toàn khác. Viện Nghiên cứu Chiến tranh ISW, có trụ sở Washington, trong một bài phân tích về « Những bài học rút ra từ Thỏa thuận Minsk » (Lessons of the Minsk Deal), nhận định hệ quả nói chung của các Thỏa thuận Minsk này là đã không mang lại nền hòa bình lâu dài mà chủ yếu giúp Nga có thời gian tái tổ chức lực lượng, tăng cường hậu thuẫn phe ly khai, chấp nhận « đóng băng chiến sự », củng cố nền kinh tế chiến tranh để chuẩn bị cho cuộc tấn công trong tương lai. Chuyên gia Viện Nghiên cứu Chiến tranh Mỹ nhấn mạnh, một thỏa thuận ngừng bắn mới được đưa ra nhanh chóng, vội vã và thiếu bảo đảm có thể lặp lại mô hình của các thỏa thuận Minsk, cho phép Nga phục hồi sức mạnh, thay vì buộc Matxcơva phải thay đổi các tính toán chiến lược. Đọc thêm : Bất đồng Nga-Ukraina về Donbass có thể khiến Thỏa thuận Minsk tan vỡ ? Chuyên gia chính trị quốc tế Kristian Åtland, người Na Uy, tác giả nhiều khảo cứu về các thỏa thuận Minsk, nhấn mạnh là các thỏa thuận này là hoàn toàn « không hiệu quả », « không công bằng », « không bền vững », Ukraina đã bị buộc phải chấp nhận trong bối cảnh lực lượng ly khai được Nga hậu thuẫn đẩy quân đội Ukraina vào chân tường tại vùng Donbass (« War, diplomacy, and more war: why did the Minsk agreements fail? », Springer, 2024). Vị chuyên gia này cũng là tác giả bài « Đàm phán ngừng bắn Nga-Ukraina: Những bài học từ Tiến trình thất bại của các thỏa thuận Minsk » (2025). Đàm phán bên họng súng : Hàng nghìn binh sĩ Ukraina bị bao vây, Putin báo động nguy cơ thảm sát Hai thỏa thuận được ký kết đúng vào thời điểm hàng nghìn binh sĩ Ukraina bị vây hãm tại Ilovaisk (từ ngày 7/8 đến ngày 2/9/2014) và Debaltseve (từ 14/01 đến 20/02/2015). Nhà ngoại giao Pháp Jacques Audibert, cố vấn của tổng thống Hollande, người có mặt trực tiếp trong các đàm phán dẫn đến hai thỏa thuận nói trên, cho biết cụ thể: « Tình hình càng trở nên căng thẳng hơn, bởi rõ ràng là ông Putin đã cố tình kích động. Tuyên bố đầu tiên của ông ấy trong cuộc đàm phán này là: ‘‘Tôi xin lỗi, có 8.000 binh sĩ bị mắc kẹt trong vòng vây ở Debaltseve. Bao vây họ là các lực lượng pháo binh của quân  ly khai mà tôi không thể kiểm soát được. Tôi không thể làm gì được ! Vì tôi là người Nga mà ! Tất cả những binh sĩ này đều có nguy cơ bị thảm sát, nếu chúng ta không đạt được thỏa thuận tối hôm nay." Đó là bầu không khí mở đầu cuộc đàm phán kéo dài 16 giờ. Rõ ràng khi bạn bị đặt vào trong tình huống căng thẳng và hoàn toàn khác biệt như thế này, khi ai đó nói thẳng với bạn rằng, có thể có hàng ngàn người chết, nếu đàm phán thất bại, bạn sẽ phải ở trong tâm trạng căng thẳng tột độ. Điều này đúng với tất cả mọi người, nhưng đặc biệt là với người Ukraina. » Nga đã sử dụng việc leo thang quân sự có chủ đích để buộc Kiev chấp nhận các nhượng bộ lớn, trong bối cảnh Kiev cũng chịu áp lực nhiều từ các nước phương Tây ủng hộ tiến trình Minsk, để buộc phải ký kết các thỏa thuận này.   Hàng loạt điều bất khả: Ngôn từ mơ hồ, Kiev không được quyền kiểm soát biên giới… Ngoài chuyện ý đồ và mục tiêu của các bên, chuyên gia Na Uy Kristian Åtland nêu bật diễn đạt mơ hồ trong các thỏa thuận cũng là một nguyên nhân trực tiếp dẫn đến việc Thỏa thuận trở nên bất khả thi ngay từ đầu (« The vagueness and ambiguity of the language used in the Minsk agreements became an obstacle to the agreements’ implementation »). Các thỏa thuận nói trên không có giá trị pháp lý khi chỉ được ký kết bởi các đại diện cấp thấp, gồm cựu tổng thống Ukraina, Leonid Koutchma, đại sứ Nga tại Ukraina và đại diện của OSCE.  Không chỉ đến sau này, mà ngay vào lúc Thỏa thuận Minsk II được ký kết, truyền thông Pháp đã ghi nhận triển vọng thỏa thuận bất khả thi, đặc biệt với việc Ukraina sẽ chỉ được quyền kiểm soát hơn 400 km đường biên giới Ukraina – Nga, nằm giữa các khu vực ly khai ở Donbass và lãnh thổ Nga, một khi bầu cử địa phương ở các vùng ly khai được tổ chức, mà thời gian lại chưa được ấn định. Tổ chức An ninh và Hợp tác ch

    9 min
  3. May 28

    Hàn Quốc trước áp lực sửa đổi Hiến pháp để cải thiện quan hệ với Bắc Triều Tiên

    Tháng 5/2026, bộ Thống Nhất Hàn Quốc, với Sách Trắng Thống nhất, lần đầu tiên đưa ra quan điểm coi quan hệ giữa Seoul và Bình Nhưỡng là « quan hệ giữa hai Nhà nước ». Chính sách trên đây của Seoul được đưa ra trong bối cảnh Bắc Triều Tiên vừa sửa đổi Hiến pháp, từ bỏ mục tiêu thống nhất và phân định rõ lãnh thổ hai miền Nam - Bắc. Theo nhiều nhà quan sát, Hàn Quốc đang bị đặt trước áp lực phải sửa đổi triệt để Hiến pháp để cải thiện quan hệ với chế độ Bắc Triều Tiên, trong bối cảnh mọi nỗ lực ngoại giao không mang lại kết quả, kể từ thất bại của thượng đỉnh Kim Jong Un – Donald Trump ở Hà Nội năm 2019. *** Đã hơn bảy thập niên kể từ chiến tranh Triều Tiên (1950-1953), đối với đông đảo người dân Hàn Quốc, hai miền Nam Bắc tuy thuộc về hai chế độ khác nhau nhưng vẫn là một nước. Chủ trương tái thống nhất hai miền cũng được ghi rõ trong Hiến pháp Đại Hàn Dân Quốc năm 1987. Đối với xã hội Bắc Triều Tiên, lý tưởng tái thống nhất nằm trong học thuyết chính thống của chế độ họ Kim. Bắc Triều Tiên từ bỏ chủ thuyết tái thống nhất:  « Một cuộc cách mạng » Việc chế độ Kim Jong Un chính thức sửa đổi Hiến pháp từ bỏ mục tiêu tái thống nhất, coi Hàn Quốc là một quốc gia nước ngoài, là một thay đổi triệt để, kết thúc chủ trương thống nhất hai miền, được chính quyền hai bên đồng thuận với Tuyên bố Chung Nam - Bắc ngày 04/07 năm 1972 (The July 4 South-North Joint Communiqué). Theo điều 2 của Hiến pháp Bắc Triều Tiên, được sửa đổi hồi tháng 3/2026, « Lãnh thổ CHDCND Triều Tiên được xác định là vùng đất giáp với CHND Trung Hoa và Liên bang Nga ở phía bắc, và Cộng hòa Triều Tiên ở phía nam, bao gồm lãnh hải và không phận được thiết lập trên cơ sở này ». Mấy dòng chữ ngắn ngủi đang mang lại một đảo lộn. Trả lời trang mạng chuyên về Bắc Triều Tiên NK News, có trụ sở tại Seoul, chuyên gia về bán đảo Triều Tiên Andrei Lankov, Đại học Kookmin, Seoul, và giám đốc nhóm chuyên gia tư vấn về bán đảo Triều Tiên Korea Risk Group, coi đó gần như là « một cuộc cách mạng »:   « Bước đầu tiên là từ tháng 12/2023, Kim Jong-un bắt đầu thay đổi giọng điệu. Ông bắt đầu nói rằng việc thống nhất, ý tưởng về sự thống nhất, là một sai lầm. Tuyên bố này gần như là cách mạng, bởi vì nó làm suy yếu một phần tính chính danh của chính lãnh đạo Bắc Triều Tiên, vốn được thừa hưởng từ cha và ông nội mình, khi nói rằng sứ mệnh của họ đã thất bại, là sai lầm. Về cơ bản, ông nói rằng những gì mà họ từng tin tưởng là sai. Trong một thời gian dài, lý tưởng thống nhất này được trình bày như một sự kiện hạnh phúc (happy event) sẽ giúp giải quyết mọi vấn đề của đất nước. Như thể đó là mục tiêu cuối cùng của lịch sử. Điều này đúng với ít nhất là ở Bắc Triều Tiên và cả ở Hàn Quốc nữa, dù ở mức độ thấp hơn. Cánh tả triệt để ở Hàn Quốc vốn rất ngưỡng mộ ý tưởng này. Họ thậm chí còn tạo ra một lý thuyết gọi là “hệ thống chia cắt” (theory of the divided system), theo đó mọi vấn đề của xã hội Hàn Quốc về cơ bản đều là các hậu quả của việc đất nước bị chia cắt. Đột nhiên vào tháng 12/2023, Kim Jong-un tuyên bố rằng điều đó sẽ không xảy ra, rằng đó là một sai lầm. Xin nhấn mạnh rằng điều ấy cũng giống như việc nói với các tín đồ Thiên Chúa giáo rằng họ không nên chờ đợi ngày Chúa tái lâm nữa. » Xóa sạch các biểu tượng hướng đến tái thống nhất tại Bắc Triều Tiên Sau tuyên bố tháng 12/2023 của lãnh đạo Bắc Triều Tiên, chế độ Bình Nhưỡng đã thực thi hàng loạt biện pháp nhằm khẳng định đoạn tuyệt với đồng thuận hai miền về tái thống nhất tồn tại từ hơn nửa thế kỷ. Ngày 15/01/2024, Kim Jong Un ra lệnh phá hủy tất cả các biểu tượng thống nhất liên Triều, bao gồm cắt đứt vĩnh viễn các tuyến đường sắt nối hai miền. Đọc thêm - Kim Jong-un đoạn tuyệt với Hàn Quốc : Cú sốc mạnh trên bán đảo Triều Tiên Ngày 22–23/1/2024, Cổng Thống nhất, tượng đài 30 mét cao ở Bình Nhưỡng tượng trưng cho nỗ lực thống nhất của hai thế hệ lãnh đạo Bắc Triều Tiên, được xây dựng năm 2001 dưới thời Kim Jong Il, bị phá hủy. Các tượng đài thống nhất khác trên toàn quốc bị phá hủy, các khẩu hiệu liên quan bị xóa bỏ. Kể từ đầu năm 2024, Bình Nhưỡng xóa bỏ các từ như « thống nhất », « hòa giải », « đồng bào » khỏi sách giáo khoa. Tháng 2/2025: Trung tâm đoàn tụ gia đình ở núi Kim Cang (Kumgang), nơi từng tổ chức các cuộc đoàn tụ cho hàng ngàn gia đình bị chia ly kể từ Chiến tranh Triều Tiên, bị phá hủy. Tháng 5/2025: Đại sảnh Thống nhất tại Bàn Môn Điếm (Panmunjom), nơi từng diễn ra các hội nghị thượng đỉnh liên Triều năm 2018, bị đổi tên. « Tái thống nhất hòa bình » : Ảo ảnh đồng sàng dị mộng Trước khi chế độ Bắc Triều Tiên cắt đứt với chủ trương tái thống nhất, đối với nhiều chuyên gia, lý tưởng này một mặt quá xa rời với thực tế, nhưng mặt khác lại được coi là điều bắt rễ sâu trong cả hai xã hội miền Nam và miền Bắc. Chuyên gia về bán đảo Triều Tiên Andrei Lankov mô tả tình trạng mâu thuẫn cao độ khi tâm lý « tái thống nhất hòa bình » là ảo ảnh đồng sàng dị mộng : « Bắc Triều Tiên, ngay từ khi thành lập, luôn xem mình là một phần của một quốc gia bị chia cắt. Lập trường chính thức của Bắc Triều Tiên luôn là chính phủ  Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên là chính phủ hợp pháp duy nhất trên toàn bộ bán đảo Triều Tiên. Họ xem nhà nước, mà ta thường gọi là Hàn Quốc, chỉ là một phần lãnh thổ của nước Triều Tiên. Trong một thời gian dài, theo quan điểm đó, chính quyền Hàn Quốc không được xem là chính phủ của một nước có chủ quyền, mà chỉ là một tập đoàn phản bội được Mỹ nuôi. Điều thú vị là lập trường của Hàn Quốc về cơ bản là hình ảnh phản chiếu lập trường của miền Bắc (mirror image). Họ nói rằng CHDCND Triều Tiên thực chất không tồn tại, rằng đó là một thế lực phản quốc và về cơ bản quân đội Bắc Triều Tiên chỉ là một băng nhóm tội phạm và khủng bố, theo quan điểm chính thức. Và sớm hay muộn, Đại Hàn Dân Quốc cũng sẽ tái thống nhất đất nước, lý tưởng nhất là thông qua đàm phán hòa bình, ít nhất trên giấy tờ là như vậy. Thành thật mà nói, điều đó từ trước đến nay chẳng khác gì một ảo ảnh, hay có lẽ chỉ là một màn hỏa mù. Tôi nghĩ rằng bất kỳ một chính trị gia ở Nam hay Bắc mà thực sự tin vào điều đó thì hoặc phải cực kỳ điên rồ, hoặc rất ngây thơ. Nhưng luận điệu đó lại rất hiệu quả đối với công chúng mang tinh thần dân tộc chủ nghĩa, và chủ nghĩa dân tộc là một sức mạnh cực kỳ lớn ở cả hai miền. Đó là một phần của truyền thống có từ lâu đời. » Đọc thêm - Hòa giải Nam - Bắc Triều Tiên : Những cơ hội bị bỏ lỡ và hy vọng Chính sách « Hai Nhà nước » của BTT gây phân hóa cao độ tại Hàn Quốc Việc chế độ Bình Nhưỡng đoạn tuyệt với chính sách thống nhất hai miền gây phân hóa sâu sắc trong chính giới Hàn Quốc. Bộ trưởng bộ Thống Nhất Hàn Quốc Chung Dong Young là người đứng ở tuyến đầu. Từ mùa hè năm ngoái, bộ trưởng Thống nhất Hàn Quốc liên tục đưa ra các phát biểu cổ vũ cho việc công nhận Bắc Triều Tiên là một quốc gia độc lập, cùng lúc không từ bỏ chủ trương thống nhất, được ghi trong Hiến pháp. Trong một hội thảo hồi tháng 9/2025, bộ trưởng Chung Dong-young nhấn mạnh « hai miền Triều Tiên là hai quốc gia riêng, xét theo luật pháp quốc tế, và chính trị quốc tế », đã gia nhập Liên Hiệp Quốc bằng con đường riêng, và điều quan trọng là « chấm dứt sự thù địch giữa hai bên ». Dân biểu Ahn Cheol Soo của đảng đối lập cánh hữu PPP cáo buộc bộ trưởng Chung Dong Yong vi phạm Hiến pháp, khi công nhận lập trường về hai nhà nước trên bán đảo Triều Tiên, vì Điều 3 của Hiến pháp Hàn Quốc định nghĩa lãnh thổ Đại Hàn Dân Quốc bao gồm toàn bộ bán đảo. Lãnh đạo nhóm dân biểu đảng PPP, Song Eon Seok, cảnh báo rằng việc công nhận hai nhà nư

    10 min
  4. May 21

    Tiếp đón Trump và Putin, Tập Cận Bình biến Trung Quốc thành « điểm hẹn » hàng đầu thế giới ?

    Trong vòng chưa đầy một tuần, lãnh đạo Trung Quốc Tập Cận Bình đã lần lượt tiếp đón hai nguyên thủ hàng đầu thế giới: Tổng thống Mỹ Donald Trump và nguyên thủ Nga Vladimir Putin. Nhưng trước hai cuộc gặp thượng đỉnh đó, Trung Quốc đã lần lượt trải thảm đỏ đón nhiều nguyên thủ, lãnh đạo chính phủ khác từ Anh, Pháp, Đức, cho đến Canada và sắp tới đây là tổng thống Brazil. Liệu lời mời đến Bắc Kinh có trở thành một tấm vé được săn đón nhất hiện nay ? Một điều chắc chắn, đó là chính quyền Trung Quốc đã khéo léo dàn dựng hai chuyến thăm thượng đỉnh vừa qua. Chuyến đi của Donald Trump đã được lên kế hoạch từ lâu, chỉ bị hoãn do chiến tranh Iran. Tương tự, tổng thống Nga đã được đồng cấp Trung Quốc mời đến Bắc Kinh từ tháng 02/2026, nhưng lịch trình đã được thúc đẩy sớm hơn dự kiến. Nhưng sự trọng thị và những nghi lễ mà Tập Cận Bình dành cho hai đồng cấp hầu như không có gì khác : Cùng một đội tiếp đón danh dự, một cuộc duyệt binh, và một buổi tiếp đón long trọng tại Đại Lễ đường Nhân dân. Bộ ba chiến lược Nga-Mỹ-Trung Đây là lần đầu tiên Trung Quốc liên tiếp đón hai nguyên thủ Mỹ và Nga trong cùng một tháng. Một mặt, những cuộc gặp này làm nổi rõ các nỗ lực của Bắc Kinh trong việc xử lý các mối quan hệ với hai cường quốc Nga và Mỹ, đồng thời khẳng định vị thế một cường quốc thiết yếu trong một trật tự thế giới ngày càng bị phân mảnh. Mặt khác, hai cuộc họp thượng đỉnh này cho thấy có những chuyển động trong tam giác chiến lược Nga-Mỹ-Trung, được cho là một trong những bộ ba năng động nhất, mang yếu tố quyết định cho việc định hình quỹ đạo hệ thống quốc tế đang có những biến đổi. Mối quan hệ giữa Matxcơva và Bắc Kinh những năm gần đây càng ngày càng được thắt chặt, trong khi quan hệ Mỹ - Trung chuyển thành một cuộc đối đầu gay gắt, đặc biệt là kể từ nhiệm kỳ I của Donald Trump. Tuy nhiên, những phát biểu của Donald Trump trong cuộc họp với Tập Cận Bình hôm 14/05/2026 rằng hai nhà lãnh đạo duy trì một mối quan hệ « tuyệt vời », « lâu nhất » chưa bao giờ có giữa các nguyên thủ của hai nước, đã cho thấy ông Trump đang nhận ra một « thực tế mới », đó là « Trung Quốc có một vị thế quan trọng và Hoa Kỳ không thể đánh bại ». Và trong mối quan hệ tay ba này, vị trí của ba cường quốc trong tam giác đang có sự thay đổi từ Nga-Mỹ-Trung sang thành Nga-Trung-Mỹ, ở đó « Trung Quốc ngày nay chiếm vị trí trung tâm và giữ một vai trò chủ chốt », theo như nhận định từ nhà nghiên cứu Trịnh Vĩnh Niên (Zheng Yongnian), giáo sư ngành chính sách công, trường đại học Hồng Kông với trang South China Morning Post. Trung – Mỹ : Đối thủ ngang vai ngang vế Còn theo chuyên gia hàng đầu về chính sách đối ngoại của Trung Quốc, bà Theresa Fallon, giám đốc Trung tâm Nghiên cứu về Nga, châu Âu và châu Á, trụ sở tại Bruxelles, trả lời kênh truyền hình Deutsche Welle, cuộc gặp thượng đỉnh Trump – Tập thể hiện một sự chấp nhận một hình thức G2, nghĩa là một thế giới lưỡng cực mà ở đó Hoa Kỳ nhìn nhận Trung Quốc là một đối thủ « ngang tầm ». Theo bà, « chính quyền Trump đã cho phép điều đó xảy ra. Dưới thời tổng thống Obama, khi Trung Quốc muốn được coi là đối tác ngang hàng, Mỹ đã phản đối kịch liệt và nói "Không, không, không, đây không phải là thượng đỉnh G2". Vì vậy, giờ đây chúng ta đang chứng kiến một sự chuyển dịch âm thầm, mặc dù điều đó vẫn chưa hoàn toàn rõ ràng. Người ta thấy Trump tỏ ra rất thân thiện trong khi ông Tập vẫn giữ sự điềm tĩnh và không mấy gì nồng ấm ». Dù vậy, nhà nghiên cứu về chính sách Trung Quốc cho rằng Donald Trump đã mắc sai lầm, khi trong các cuộc họp tại Bắc Kinh đã gợi ý rằng việc bán vũ khí cho Đài Loan là một con bài mặc cả, điều mà chưa một tổng thống Mỹ nào làm. Bà giải thích : « Bằng cách như thế, Trump đang làm suy yếu dần các thỏa thuận đã được thiết lập và nguyên trạng ở eo biển Đài Loan. Ông đang đưa ra những tín hiệu trái ngược và tất cả các đồng minh trong khu vực đang chăm chú theo dõi. Điều này có ý nghĩa gì cho họ ? Liệu họ có phải thận trọng hơn với Trung Quốc hay không ? Liệu sự cẩn trọng này cuối cùng có sẽ biến thành sự nhượng bộ hay không ? Giờ còn phải chờ xem, do lập trường của Trump là khá bất ổn ». Chính sự bất nhất này của ông Trump trong hồ sơ Đài Loan và trong chiến lược đối với Trung Quốc đã khiến nhiều nước khác, kể cả các nước đồng minh, cảm thấy bất an. Điều này giải thích vì sao lãnh đạo các nước đó cố gắng tiếp cận Tập Cận Bình và hiện tượng này mang lại cảm giác mọi thứ đang tăng tốc, theo như nhận xét của bà Therese Fallon. Tập Cận Bình : Nhà đàm phán cứng rắn Chỉ có điều như quan sát từ nhiều nhà phân tích, đến Bắc Kinh lần này, cả hai nguyên thủ Nga, Mỹ, đều trong thế yếu, vào lúc cả Nga lẫn Mỹ đều đang bị lún sâu vào những cuộc chiến tranh do chính họ gây ra. Tuy được tiếp đón long trọng, cả hai phái đoàn Nga và Mỹ đều ra về với những thỏa thuận ít ỏi, không như kỳ vọng. Ở đây, một lần nữa, Tập Cận Bình đã thể hiện rõ khả năng làm chủ tình thế, và không phải là người dễ dàng bỏ lỡ cơ hội áp đặt các điều khoản của mình. Về hồ sơ đường ống dẫn khí « Sức mạnh Siberia 2 » của Nga, ông Tập Cận Bình tiếp tục trì hoãn các cuộc đàm phán, trong khi đồng cấp Nga trước khi đến Bắc Kinh rất kỳ vọng đạt một thỏa thuận vào lúc kinh tế Nga gặp khó khăn do các lệnh cấm vận của phương Tây và những đòn tấn công bằng drone của Ukraina nhắm vào các cơ sở năng lượng. Sự từ chối không phải là dứt khoát, nhưng nó thậm chí còn tệ hơn. Người phát ngôn điện Kremlin nói rằng cuộc đàm phán có « tiến bộ lớn », đôi bên có « sự hiểu biết chung về các thông số chính » của dự án, trước khi thừa nhận « vẫn cần phải thống nhất một số chi tiết » và nhất là chưa có « thời hạn thực hiện » nào được đề cập. Nói cách khác, Tập Cận Bình chưa chấp thuận dự án. Ông Putin trở về Matxcơva tay không. Bà Theresa Fallon lưu ý, Trung Quốc luôn là một nhà đàm phán cứng rắn, « thực sự hiểu họ đang nắm giữ Nga trong tay và họ sẽ không dễ dàng nhượng bộ Putin ». Với Trump, cùng một thái độ và sự lạnh lùng mang tính chủ quyền. Tổng thống Mỹ đã đến đề nghị « người bạn lớn » của mình giúp ông mở khóa eo biển Hormuz. Bắc Kinh, một đồng minh của Teheran và là khách hàng lớn của dầu khí Iran, có đủ đòn bẩy cần thiết. Nhưng Tập Cận Bình đã không sử dụng nó. Trump ra về với một số hợp đồng, lời hứa và những lời nói suông. Tại eo biển Hormuz, mọi thứ vẫn không thay đổi. Nhà lãnh đạo ở Bắc Kinh không vội vàng. Ông có đủ khả năng để chờ đợi – và quan sát đối thủ của mình ngày càng mất kiên nhẫn. Chính điều này cho thấy ông ta đã vươn lên một đẳng cấp khác, theo quan sát của Le Point. Nga, một cạnh của tam giác, một quân cờ của Trung Quốc Nhìn chung, theo quan điểm của chuyên gia Theresa Fallon, Trung Quốc hiện nay là đối thủ cạnh tranh hàng đầu của Mỹ, đặc biệt là trong cuộc đua trí tuệ nhân tạo. Trong cuộc đua này, ai thắng cuộc sẽ trở thành lãnh đạo thế giới và đây là điều Trung Quốc cũng như Mỹ đang nỗ lực hướng đến. Dù vậy, vị giám đốc Trung tâm Nghiên cứu về Nga, châu Âu và châu Á, nhìn nhận hiện tại có một tam giác chiến lược giữa Nga, Trung Quốc và Mỹ. « Ít nhất đó là cảm nhận của tôi từ những cuộc gặp này. Nhưng rõ ràng, Nga là phần ngắn nhất của tam giác đó và Trung Quốc sẽ sử dụng Nga để thực sự tiến quân vì Nga chống phương Tây, vì vậy Trung Quốc và Nga cùng nhau có chung mục tiêu chống phương Tây, và điều đó là có lợi cho cả hai bên vì họ có chung đường biên giới dài. Như một học giả Trung Quốc nói với tôi: "Lý do chúng ta phải tiếp tục ôm Nga là vì chúng ta đang chuẩn bị cho chiến tranh. Vì vậy, chúng ta cần Nga trong trại của mình chứ không phải ở ngoài trại." Vì vậy, bất kể điều gì xảy ra, tôi nghĩ Trung Quốc m

    9 min
  5. May 14

    Thượng đỉnh Mỹ - Trung : Leo thang hay hạ nhiệt căng thẳng thương mại ?

    Ngày 14/05/2026, tổng thống Mỹ Donald Trump bắt đầu chuyến thăm Bắc Kinh. Sau những màn đón tiếp long trọng, nguyên thủ Mỹ cùng đồng cấp Trung Quốc Tập Cận Bình bước vào những vòng đàm phán, được dự báo là căng thẳng, về nhiều chủ đề. Tuy nhiên, theo nhận định từ giới quan sát, hồ sơ thương mại chắc chắn là ưu tiên thảo luận hàng đầu giữa hai nguyên thủ. Liệu rằng đôi bên có hóa giải được những căng thẳng, hay lại tiếp tục leo thang đối đầu ? Điều đầu tiên được hầu hết giới chuyên gia chia sẻ là, khác với cuộc gặp thượng đỉnh năm 2017, ông Donald Trump đến Bắc Kinh lần này trong một vị thế yếu. Cuộc chiến chống Iran do Mỹ và Israel phát động rơi vào bế tắc, trong khi cuộc chiến thuế quan mà tổng thống Trump khởi xướng vào năm 2025 không đem lại kết quả như ông muốn. Hoa Kỳ không những không chặn được đà tăng trưởng xuất khẩu của Trung Quốc bất chấp các nỗ lực của chính quyền Trump, mà còn phải hứng chịu các đòn trả đũa thương mại, công nghệ nặng nề từ Bắc Kinh. Theo nhật báo kinh tế Pháp Les Echos ngày 13/05/2026, hàng Made in China xuất sang Mỹ đã giảm mạnh trong vòng hai năm, từ mức gần 109 tỷ đô la (trong quý I/2024) xuống còn trên 67 tỷ trong quý I/2026. Nếu tính riêng trong vòng 12 tháng qua, với mức thuế từ 25-30%, nhập khẩu hàng hóa Trung Quốc vào Mỹ đã giảm 38%, một con số to lớn. Tuy nhiên, những con số này làm lu mờ một hiện tượng khác. Khi nhìn kỹ các dòng chảy thương mại, người ta sẽ thấy rằng, trong năm 2025, tỷ trọng hàng nhập khẩu từ Đài Loan vào Mỹ tăng vọt đến 94%, từ Việt Nam là 50%. Trên báo kinh tế Les Echos, Maxime Darmet, chuyên gia kinh tế tại Allianz Trade, nhận định « điều đó có nghĩa là ngành xuất khẩu Trung Quốc đang sử dụng các kênh gián tiếp. Các nhà công nghiệp Trung Quốc xuất khẩu những bán thành phẩm của họ sang các nước thứ ba, đặc biệt là Đông Nam Á, những nước này sử dụng chúng trong các dây chuyền sản xuất của mình để rồi sau đó bán thành phẩm sang Hoa Kỳ. » Hiện tượng này phản ảnh rõ năng lực thích ứng với tốc độ kỷ lục của ngành xuất khẩu Trung Quốc. Bất chấp những rào cản thuế quan, hàng hóa của Trung Quốc vẫn đến được tay người tiêu dùng Mỹ. Các số liệu thống kê của Trung Quốc thể hiện rõ nét xu hướng này : Xuất khẩu của Trung Quốc sang Đông Nam Á tăng vọt, gần như tỷ lệ thuận với mức tăng xuất khẩu của Đài Loan hay Việt Nam sang Hoa Kỳ. Cán cân thương mại vẫn nghiêng về phía Trung Quốc khi mà mức thuế nhập khẩu áp đặt cho hàng hóa của Đài Loan chỉ ở mức 3% và Việt Nam là 12% vào cuối năm 2025, trước khi có phán quyết của Tòa án Tối cao Mỹ cấm các mức thuế quan « đối ứng » do tổng thống Trump ban hành. Hệ quả là trong quý I/2026, Hoa Kỳ ghi nhận mức thâm hụt thương mại là 251 tỷ đô la, so với 274 tỷ cùng kỳ vào năm 2024. Ba mục tiêu của Donald Trump Làm thế nào điều chỉnh cán cân thương mại Mỹ - Trung vào lúc lạm phát tại Mỹ tăng cao, uy tín của ông ngày càng suy giảm khi chỉ còn vài tháng nữa là diễn ra cuộc bầu cử giữa kỳ tại Mỹ ? Trong toàn cảnh này, tổng thống Mỹ Donald Trump đến Trung Quốc với ba mục tiêu chính, theo đánh giá từ nhà phân tích về chính sách kinh tế, Agatha Kratz, thuộc nhóm tư vấn độc lập Rhodium Group, trong chương trình Affaires Etrangères, đài phát thanh France Culture, ngày 09/05/2026. Đầu tiên hết, Donald Trump muốn chuyển hướng công luận về cuộc chiến ở Iran và mang về Mỹ một số thành công như các hứa hẹn mua thêm hàng hóa Mỹ như dầu khí, nông sản, máy bay Boeing, hay những tin tốt lành cho chip bán dẫn… từ Trung Quốc. Khía cạnh thứ hai có một vị trí quan trọng : Hoa Kỳ muốn bảo đảm nguồn cung ứng đất hiếm liên tục từ Trung Quốc. Trên đài France Culture, chuyên gia kinh tế giải thích : « Rõ ràng Bắc Kinh đang nắm giữ quyền kiểm soát chặt chẽ sản xuất cũng như chế biến đất hiếm và sản xuất nam châm vĩnh cửu, những thứ cực kỳ quan trọng trong tất cả các ngành công nghiệp như công nghiệp ô tô, công nghiệp điện tử, và đặc biệt quan trọng là công nghiệp quân sự, trong bối cảnh Hoa Kỳ đã sử dụng hết một phần lớn kho vũ khí của mình và cần phải xây dựng lại, nên cần các nguyên tố đất hiếm. Do đó, nếu họ muốn chế tạo tên lửa và phục hồi năng lực quân sự và nếu muốn tiếp tục cuộc chiến ở Iran, họ cần Bắc Kinh tiếp tục cung cấp các loại đất hiếm đó. Điều này vô cùng quan trọng, và tôi nghĩ nó sẽ là một phần của cuộc thảo luận. » Vẫn theo bà Agatha Kratz, điểm thứ ba có liên quan đến cuộc chiến thuế quan của Mỹ và hiện đang vấp phải hai trở ngại : « Đầu tiên là phán quyết của Tòa án Tối cao liên quan đến thuế quan IEEPA (Đạo luật Quyền lực Kinh tế Khẩn cấp Quốc tế), phán quyết hồi tháng 2/2026 tuyên bố các loại thuế quan "đối ứng" này là bất hợp pháp. Sau đó, Tòa án Thương mại Quốc tế Mỹ (Court of International Trade - CIT) hôm 07/05, lại tuyên bố các thuế quan mới 10% theo Điều 122, được áp dụng lại sau phán quyết của Tòa án Tối cao, là bất hợp pháp. Vì vậy, hiện tại thuế quan của Hoa Kỳ đối với Trung Quốc chỉ ở mức trung bình 11%. Mức thuế này cực kỳ hạn chế nếu so sánh với mức thuế 15% đối với Liên Hiệp Châu Âu theo thỏa thuận song phương, mức thuế 18% đối với Ấn Độ, mức thuế 19% đối với Indonesia, v.v. Trung Quốc rõ ràng đang ở một vị thế cực kỳ thuận lợi, và điều đó khiến Hoa Kỳ cảm thấy rất khó chịu bởi vì, mục tiêu sau cùng của họ là giảm thiểu rủi ro trong quan hệ kinh tế với Trung Quốc, cố gắng đưa một số chuỗi giá trị trở lại Hoa Kỳ nếu có thể, hoặc ít nhất là đến các quốc gia thân thiện hơn. Và trong bối cảnh này, nếu thuế quan đối với Trung Quốc quá thấp, điều đó là không thể. Tôi nghĩ rằng đã có những công tác chuẩn bị và đàm phán sơ bộ cho việc tăng thuế quan đối với Trung Quốc, điều mà Bắc Kinh rõ ràng đã cố gắng chống lại bằng mọi cách. Đặc biệt là với Jamieson Lee Greer, người đang dẫn đầu tất cả các cuộc đàm phán thương mại, Hoa Kỳ đang cố gắng đàm phán và thúc đẩy việc tăng thuế quan hàng hóa Trung Quốc với Bắc Kinh. Tôi không chắc Mỹ sẽ thành công hay không, nhưng dù sao đi nữa, đó cũng là một trong những mục tiêu. » Bốn đòi hỏi của Tập Cận Bình Theo báo Pháp Les Echos, thặng dư thương mại Trung Quốc trong năm 2025 đạt mức kỷ lục 1.200 tỷ đô la, tức chiếm 1% GDP của toàn cầu. Theo kinh tế gia Maxime Darmet, hiện tượng này cho thấy « Trung Quốc vẫn đang dư thừa hàng hóa do tiêu thụ chưa đủ, còn Mỹ vẫn thâm hụt do tiêu thụ quá mức. Vì vậy, thuế quan không tác động đến những mất cân bằng lớn trên toàn cầu. Chúng chỉ làm chuyển hướng dòng chảy thương mại. » Nhưng cuộc chiến tranh chống Iran do Mỹ và Israel tiến hành đang bắt đầu có những tác động đối với nền kinh tế Trung Quốc. Vốn đã trì trệ một phần do cuộc chiến thuế quan, căng thẳng xung quanh eo biển Hormuz khiến giá năng lượng tăng cao, gây khó khăn cho xuất khẩu của nền kinh tế thứ hai thế giới. Hơn nữa, việc Quốc Hội Mỹ siết chặt các luật lệ kiểm soát xuất khẩu linh kiện bán dẫn gây cản trở cho nhiều lĩnh vực công nghệ chủ chốt của Trung Quốc. Đối với chuyên gia Agatha Kratz, chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình có bốn điều muốn đàm phán trong thượng đỉnh lần này : « Đầu tiên hết là ổn định tình hình Iran. Trong ngắn hạn, tình hình kinh tế Trung Quốc khá tích cực, bởi vì Bắc Kinh có nhiều nguồn lực để kiểm soát lạm phát do giá năng lượng cao. Bởi vì nước này ít phụ thuộc vào dầu mỏ hơn so với nhiều nước châu Á, thậm chí so với cả nhiều nước châu Âu. Vì vậy trong ngắn hạn, tình hình là khá dễ quản lý. Nhưng trong dài hạn, điều này là đáng lo, bởi vì tình trạng đó có nguy cơ đẩy châu Âu và Đông Nam Á rơi vào suy thoái. Đây là hai thị trường xuất khẩu quan trọng nhất, chiếm đến 50% kim ngạch xuất khẩu của Trung Quốc, mà xuất khẩu chiếm đến 50% tăng trưởng kinh tế. Để dễ hình dung, việc ổn định tình hình ở Iran là vô cùng cần thiết. Thứ hai là

    11 min
  6. May 7

    Dầu mỏ, « vũ khí » chủ lực trong cuộc xung đột Mỹ - Iran

    Cuộc chiến Mỹ - Israel chống Iran không chỉ là một cuộc đối đầu quân sự. Dầu mỏ là mặt trận khác. Đối với chính quyền Donald Trump, mục tiêu chính thức là để ngăn chặn tham vọng sở hữu vũ khí hạt nhân của Teheran, nhưng nhiên liệu dầu khí nói chung và dầu lửa nói riêng ngay lập tức trở thành « vũ khí » mà Iran sử dụng để đáp trả Mỹ. Iran phong tỏa eo biển Hormuz và tấn công nhắm nhiều cơ sở dầu khí của các đồng minh của Hoa Kỳ tại vùng Vịnh. Về phần mình, Washington sử dụng dầu mỏ như một phương tiện chủ yếu để gây áp lực buộc Iran phải nhân nhượng. Vì sao dầu mỏ trở thành « vũ khí » chủ lực trong cuộc xung đột Mỹ - Iran ? Chuyên gia Pierre Razoux, giám đốc khoa học của Viện Nghiên cứu Chiến lược thuộc Quỹ Địa Trung Hải (FMES), trả lời đài Radio France, nhận định : « Trên thực tế, dầu mỏ đã là nguồn tài nguyên chính của Iran trong ít nhất 60 hoặc 70 năm, kể từ thời đế quốc Iran đến thời cách mạng Iran. Giờ đây, khi Iran hoàn toàn bị cô lập, nếu thực sự muốn kiếm ngoại tệ để hoạt động, nước này phải dựa vào xuất khẩu dầu mỏ, vốn chịu lệnh trừng phạt rất mạnh từ cộng đồng quốc tế. Vì vậy, toàn bộ vấn đề là làm thế nào để vượt qua những lệnh trừng phạt này. » Đóng cửa eo biển Hormuz: Đòn trả đũa làm rung chuyển thế giới   Kinh tế Iran vốn đã bị kiềm tỏa nghiêm trọng do lệnh cấm vận dầu mỏ để ngăn chặn tham vọng hạt nhân của Teheran. Cuộc tấn công chớp nhoáng của liên quân Mỹ - Israel hạ sát lãnh đạo tối cao Iran, giáo chủ Ali Khamenei, và tiếp theo đó là các cuộc tấn công ồ ạt nhắm vào các cơ quan đầu não, các đơn vị vũ trang Iran, đẩy chế độ Cộng hòa Hồi giáo vào chân tường. Hai ngày sau, ngày 2/3/2026, Iran chính thức đóng cửa eo biển Hormuz, một tuyến đường thủy chiến lược của vận tải dầu mỏ toàn cầu. Giá dầu thô Brent đã vượt mốc 100 đôla/thùng vào ngày 8/3, lần đầu tiên kể từ bốn năm.  Eo biển Hormuz là tuyến đường vận chuyển khoảng 20 triệu thùng dầu và sản phẩm dầu mỏ mỗi ngày, chiếm từ 20 đến 30% lượng dầu thô toàn cầu. Các nước xuất khẩu dầu mỏ lớn trong vùng Vịnh phải cắt giảm sản lượng khoảng 11 triệu thùng/ngày. Thế giới bên bờ vực đại khủng hoảng năng lượng, khiến nhiều người nghĩ đến bóng ma khủng hoảng dầu lửa thập niên 1970. Mỹ không tấn công cơ sở dầu khí Iran: Vì sao ? Trong chiến dịch Epic Fury tấn công Iran, quân đội Mỹ đã tấn công hàng nghìn mục tiêu, trong đó có các cơ sở quân sự, nhà máy hạt nhân, trụ sở chính quyền Iran, nhưng có một điểm được nhiều nhà quan sát lưu ý là chính quyền Trump về mặt chính thức khẳng định không đụng đến các các cơ sở dầu mỏ của Iran. Chuyên gia Pierre Razoux, giám đốc khoa học của Viện Nghiên cứu Chiến lược thuộc Quỹ Địa Trung Hải (FMES), trên đài Radio France nhận định : « Hoa Kỳ coi cuộc chiến chống Iran như một phần của cuộc cạnh tranh toàn cầu với Trung Quốc. Washington về cơ bản muốn nói với Bắc Kinh rằng chúng tôi đã vô hiệu hóa dầu mỏ của Venezuela, chiếm 5% lượng nhập khẩu của Trung Quốc. Giờ đây, chúng tôi đang tiếp tục vô hiệu hóa dầu mỏ của Iran, chiếm 15% lượng nhập khẩu của Trung Quốc. Vì vậy, kể từ khi Donald Trump dự kiến ​​đến Bắc Kinh vào cuối tháng 3, ngay cả khi cuộc gặp này có thể bị trì hoãn một chút, ông vẫn có đòn bẩy đối với Trung Quốc. Chính vì vậy, mục tiêu của Hoa Kỳ không phải là phá hủy cơ sở hạ tầng dầu mỏ của Iran, mà là làm tê liệt trong một khoảng thời gian nhất định, đủ lâu để đàm phán với Trung Quốc. Trong khi đó, ngược lại, Israel có thể có lợi ích trong việc phá hủy, hoặc ít nhất là làm suy yếu đáng kể, năng lực sản xuất của Iran. Mục tiêu chính xác của Israel là gây thiệt hại nghiêm trọng và, có thể nói, phá vỡ hệ thống dầu lửa của Iran. Vì vậy, tôi nghĩ chúng ta thực sự cần nhìn nhận vấn đề theo cách đó ở cấp độ toàn cầu. » Nhận định của chuyên gia Pierre Razoux được đưa ra ít ngày sau cuộc tấn công của Israel ngày 18/03, nhắm vào một mỏ khí đốt tự nhiên lớn nhất thế giới South Pars/North Dome, của Iran và Qatar tại vùng Vịnh. Iran cáo buộc Mỹ - Israel và đã trả đũa ngay lập tức về vụ oanh kích này với cuộc tấn công vào một cơ sở khí đốt chính của nước láng giềng Qatar, đồng thời đe dọa tiếp tục tấn công trả đũa cơ sở dầu khí của các đồng minh khác của Mỹ, như Ả Rập Xê Út và Các Tiểu Vương Quốc Ả Rập Thống nhất. Tổng thống Donald Trump ngay lập tức khẳng định cuộc tấn công do Israel tiến hành và yêu cầu Tel Aviv đình chỉ mọi cuộc tấn công tương tự trong tương lai, có nguy cơ làm khủng hoảng nhiên liệu thêm trầm trọng. Mỹ phong toả eo biển sau khi can thiệp quân sự không đạt mục tiêu Tiếp theo việc Iran phong tỏa gần như toàn bộ việc đi lại qua eo biển Hormuz, ngoại trừ một số tàu thuyền của các quốc gia thân hữu như Trung Quốc, đến lượt Washington ngăn chặn tàu đến và rời các cảng biển của Iran, kể từ ngày 13/04. Quyết định được đưa ra ngay sau khi cuộc đàm phán trực tiếp đầu tiên giữa Mỹ và Iran tại Islamabad ngày 12/04 thất bại. Vì sao Washington đưa ra biện pháp này, một tháng rưỡi sau khi mở màn cuộc tấn công Iran ? Trong cuộc tọa đàm do đài France 24 tổ chức, ông Adel Bakawan, giám đốc Viện nghiên cứu châu Âu về Trung Đông và Bắc Phi (European Institute for Studies on the Middle East and North Africa), nhận định :  « Donald Trump quả thực có một chiến lược. Chiến lược của ông là buộc chế độ này đầu hàng thông qua đàm phán. Ông đã không thành công. Trump bắt đầu ném bom để buộc chế độ này đầu hàng. Ông cũng đã không thành công. Trump lại thử con đường ngoại giao. Ông vẫn không thành công. Giờ đây Trump nghĩ ông đã tìm ra phương pháp đúng đắn.  Đó là cố gắng bóp nghẹt nền kinh tế của chế độ Cộng hòa Hồi giáo cho đến khi Lực lượng Vệ binh Cộng hòa phải cầu xin Donald Trump. Tôi xin phép nói hình ảnh một chút. Họ sẽ cầu xin, Donald Trump hãy trở lại bàn đàm phán đi, chúng tôi chắc chắn sẽ đầu hàng. » Buộc Iran đóng cửa giếng dầu để huỷ diệt tiềm lực kinh tế: Kỳ vọng của Trump Dựa trên những gì Nhà Trắng tính toán có thể bóp nghẹt nền kinh tế Iran với lệnh phong tỏa ngày 13/04 ? Chuyên gia David Rigoulet-Roze, tổng biên tập tạp chí « Orients Stratégiques », trên đài France 24, cho biết : « Tổng thống Mỹ chính thức nói rằng điều đó sẽ mất ít nhất hai tháng. Các cố vấn của ông nói rằng họ đang thảo luận về thời gian tối thiểu hai tháng để biện pháp này có hiệu quả, bởi vì có vấn đề về kho chứa dầu. Việc không còn nơi chứa sẽ dẫn đến việc các giếng dầu phải đóng cửa. Và một khi giếng dầu bị đóng, sẽ có vấn đề về ngập nước, có nghĩa là không thể khai thác được dầu nữa. Điều này đặc biệt đúng nếu có những giếng dầu cũ. Họ không thể làm chúng hồi sinh. Điều này gây áp lực rất lớn đối với hệ thống sản xuất dầu của Iran.»   Trump tin tưởng là phong tỏa hiệu quả hơn ném bom Homayoun Falakshahi, chuyên gia phân tích về dầu mỏ của công ty dữ liệu hàng hải Kpler, có trụ sở tại Paris (France 24), cho rằng Iran có thể khôi phục được các mỏ, nhưng ngược lại sẽ mất thu nhập do dầu không thể được chuyển ra ngoài. Hai tháng là thời gian mà chính quyền Trump dự kiến sẽ chặn đứng được nguồn thu của Teheran, vốn đã bị siết chặt do các trừng phạt: « Iran đã có rất nhiều kinh nghiệm trong việc này. Vì vậy, tôi nghĩ họ sẽ có thể đưa sản lượng trở lại bình thường khi có thể. Nhưng điều đó tốn tiền. Việc mất thời gian đồng nghĩa với việc tốn tiền. Trên thực tế, chúng ta đang ở trong tình huống mà, theo ước tính của chúng tôi, Iran có thể cầm cự được hai tháng. Nếu lệnh phong tỏa kéo dài hai tháng, doanh thu của Iran sẽ giảm xuống bằng không. Vì sao? Bởi vì họ có dầu ở ngoài khơi, được lưu trữ gần Singapore và Trung Quốc. Tổng cộng là 120 triệu thùng, tương đương với khoảng hai tháng xuất khẩu. Không kể lượng dầu xuất khẩu hiện tại từ Iran không thể vượt qua được lệ

    9 min
  7. Apr 30

    Khủng hoảng hậu Brexit, Trump, Hormuz : Anh Quốc tìm cách xích lại gần Liên Hiệp Châu Âu

    Chính phủ Anh đang chuẩn bị một dự luật quan trọng nhằm thúc đẩy chương trình « reset » (khởi động lại) quan hệ với Liên Hiệp Châu Âu (EU), mười năm sau Trưng cầu dân ý Brexit, đưa Anh ra khỏi EU. Dự luật được đưa ra trong bối cảnh thế giới đối mặt với chính sách thuế quan bất nhất của chính quyền Trump và cuộc khủng hoảng eo biển Hormuz giữa Mỹ và Iran có nguy cơ làm tê liệt nền kinh tế thế giới. Điểm đáng chú ý nhất của dự luật này, nếu được thông qua sớm, là cho phép chính phủ Anh tự động phối hợp và cập nhật các quy định trong nước tương thích với quy chế của Thị trường chung EU (dynamic alignment), mà không cần phải thông qua các cuộc bỏ phiếu chi tiết tại Quốc Hội cho mỗi lần thay đổi.  Thông tín viên Nguyễn Giang tại Luân Đôn giải thích những khó khăn mà nước Anh đang đối mặt, cũng như những điểm chính trong dự luật mới của chính phủ Keir Starmer. RFI Tiếng Việt : Thân chào anh Nguyễn Giang. Đầu tiên, xin anh nhắc lại cho khán thính giả của RFI biết về những gì xảy ra sau khi Hiệp định Brexit chính thức có hiệu lực vào năm 2020. Nền kinh tế Anh Quốc vận hành ra sau bên ngoài Liên Hiệp Châu Âu? Giao thương giữa Anh Quốc và EU được thực hiện như thế nào? TTV. Nguyễn Giang : Kể từ năm 2020, Anh Quốc không còn là thành viên Liên Hiệp Châu Âu và thị trường chung châu Âu nữa nên Luân Đôn phải nỗ lực ký kết các hiệp định tự do thương mại với các nước ở xa như Úc, Hàn Quốc, Ấn Độ và cả Việt Nam. Đây là cách bù lại thiệt hại do việc mất quy chế thành viên EU. Anh cũng đặt nhiều hy vọng vào việc ký được Hiệp định mậu dịch tự do với Hoa Kỳ, nên trên thực tế thì thời của tổng thống Donald Trump đem lại khá nhiều bất ổn cho Anh, với các mức thuế quan lúc thì nói là cắt giảm khá nhiều (xuống 10% cho hàng xuất khẩu của Anh sang Mỹ, tùy quota ngành nghề), có lúc lại ở vào cảnh bị Hoa Kỳ đe dọa thay đổi. Xin nhắc là thỏa thuận thương mại Anh-Mỹ đã được ký vào tháng 5/2025, nhưng mới giữa tháng 4 năm nay (2026), Tổng thống Trump lại đe dọa “có thể thay đổi bất cứ lúc nào” vì lý do địa chính trị và vì yêu sách của Mỹ. Như thế, nhìn quanh thì Anh thấy EU vẫn là bạn hàng lớn, gần nhất. Brexit cũng khiến tăng trưởng kinh tế Anh giảm đáng kể. Một bài đăng tháng 2/2026 của nhóm tác giả Nicholas Bloom, Paul Mizen và Gregory Thwaites từ các đại học Stanford University (Mỹ), King’s College London và ĐH Nottingham (Anh) nêu ra con số ước tính khủng khiếp. Theo họ thì Brexit làm thiệt hại của Anh trong những năm qua là 6-8% GDP. Nhìn vào tương lai, thiệt hại tiếp tục sẽ làm sụt giảm chừng 4% GDP mỗi năm, theo nhóm nghiên cứu này, nếu quan hệ Anh-EU vẫn như hiện nay về kinh tế - thương mại. Chính phủ Lao động hiện nay thì coi tăng trưởng là ưu tiên số 1 cho mọi chính sách, nên việc tạo môi trường tương thích về kinh tế với EU là cách họ chọn để khởi động kinh tế Anh vốn tăng trưởng rất yếu, chỉ còn 0,1% trong quý 4 năm 2025. Mười năm sau ngày trưng cầu dân ý và sáu năm thực hiện Brexit, thủ tướng Anh gần đây tuyên bố muốn đảo ngược một số điều khoản của Brexit. Đó là những điều khoản gì ? Liên quan đến những lĩnh vực nào ? TTV. Nguyễn Giang : Tôi xin khẳng định rằng về ngôn từ chính thức, từ thủ tướng Keir Starmer và các thông báo của chính phủ Anh, đây không phải là tiến trình đảo ngược một số điều khoản của Brexit, mặc dù phe đối lập nói như vậy. Cụ thể là thì Anh chỉ muốn, vào những năm tới, kết nối lại gần hơn với EU và tuân theo các tiêu chuẩn EU trong 4 lĩnh vực. Một là nông nghiệp và thực phẩm. Đây là ưu tiên hàng đầu. Anh muốn ký kết một thỏa thuận về tiêu chuẩn vệ sinh dịch tễ để giảm bớt việc kiểm tra biên giới đối với thực phẩm, đồ uống và các sản phẩm động thực vật. Hai là công nghiệp xe hơi. Anh muốn phối hợp các tiêu chuẩn kỹ thuật để đảm bảo xe sản xuất tại Anh có thể lưu thông thuận tiện sang thị trường EU, mà không gặp trở ngại về quy định mới. Ba là lĩnh vực năng lượng và biến đổi khí hậu: Hai bên sẽ kết nối lại hệ thống giao dịch khí thải (Emissions Trading Scheme) và hợp tác chặt chẽ trong thị trường điện năng để giảm chi phí năng lượng. Lĩnh vực thứ tư, có vẻ dễ hơn cả vì không mang tính kinh tế, là Anh và EU sẽ tiếp tục phối hợp công tác an ninh biên giới và di trú. Hai bên đã và đang trao đổi thông tin và phối hợp các quy trình kiểm soát biên giới, chia sẻ dữ liệu tội phạm. Anh có thể giải thích kỹ hơn quy chế « tương thích chủ động » của luật Anh với luật EU ? TTV. Nguyễn Giang : Đây là quy chế thực ra đã áp dụng ở phạm vi hẹp giữa Anh và EU ở Bắc Ireland. Ví dụ trong xuất nhập khẩu nông sản. Quy định về tỷ lệ thuốc trừ sâu dùng trong nông nghiệp với một số loại cây trồng tạo ra hàng xuất khẩu trao đổi thương mại Bắc Ireland thuộc Anh và CH Ireland thuộc EU đã được áp dụng như sau: Phía Anh đồng ý tự tuân theo quy định về tỷ lệ thuốc trừ sâu trong trồng cấy cây xanh, chẳng hạn ở Bắc Ireland, theo tiêu chuẩn EU, việc xuất nhập khẩu cây giữa hai miền Nam-Bắc Ireland không cần kiểm tra thêm. Nay thì  Anh sẵn sàng để từng ngành nghề, do các bộ khác nhau phụ trách, tự động điều chỉnh quy định của mình theo tiêu chuẩn của EU, mỗi khi EU chỉnh sửa các tiêu chuẩn của họ. Lấy ví dụ, nếu EU quy định pin cho xe ô-tô động cơ điện phải có tới 55% thành phần kỹ thuật, công nghệ bản địa chứ không phải hàng Trung Quốc, hay của nước thứ ba nào khác, Anh sẽ tự làm đúng như vậy khi ban hành quy định về pin cho xe chạy điện. Như thế thì hai bên có thể bán pin xe sang thị trường của nhau mà không cần đàm phán về thuế quan nữa. Cơ chế này, nếu được thông qua bằng một đạo luật vào dịp hè năm nay, sẽ được áp dụng cho các ngành kinh tế khác trên toàn Vương quốc Anh trong quan hệ với EU. Trên thực tế thì hai bên đã thảo luận về tiêu chuẩn sản phẩm (Hóa chất và hàng tiêu dùng). Anh có xu hướng bám sát các tiêu chuẩn an toàn hóa chất (REACH) và bảo vệ người tiêu dùng của EU, để tránh tình trạng hàng hóa Anh bị từ chối tại biên giới do khác biệt về tiêu chuẩn. Việc mở rộng theo từng khu vực kinh tế (sector by sector) là những bước đi thận trọng để triển khai chiến lược “tương thích hóa” kinh tế hai bên.  Hôm 15/04/2026, EU đã nhận lại Anh vào chương trình giáo dục Erasmus, nay được gọi là Erasmus +, sẽ được triển khai từ 2027. Theo chính phủ Anh thì ít nhất 100 nghìn sinh viên, thanh niên sẽ được hưởng lợi chỉ trong năm đầu tiên từ việc Anh quay lại chương trình đào tạo, trao đổi giáo dục, văn hóa này. Tôi muốn nói thêm là EU đã ký mở rộng hợp tác tương tự với Thụy Sĩ, nước nằm giữa châu Âu nhưng không phải là thành viên Liên Hiệp Châu Âu, tuy không dùng ngôn từ như các dự tính ký với Anh. Tháng 2 năm nay, EU và Thụy Sĩ đã ký thỏa thuận tăng cường hợp tác trong bốn lĩnh vực: thực phẩm, điện, bảo vệ biên giới và khai thác không gian vũ trụ. Có thể thấy là ba lĩnh vực đầu gần như giống hệt với những gì EU có thể sẽ ký với Anh. Vì sao thủ tướng Anh, Kier Starmer muốn thực hiện dự luật đó vào lúc này ? Thực trạng nền kinh tế Anh hiện nay ra sao ? TTV. Nguyễn Giang : Đầu tiên là bối cảnh quốc tế ngày một khó khăn, về an ninh năng lượng, về chuỗi cung ứng, do chiến sự Trung Đông, do cuộc chiến thuế quan Hoa Kỳ-Trung Quốc, chiến tranh ở Ukraina, đã khiến việc sáp lại gần với láng giềng lớn nhất, và đối tác thương mại quan trọng là EU, trở nên cấp bách với Anh. Như chính lời Thủ tướng Keir Starmer nói với BBC hôm 13/04, thì 10 năm sau Trưng cầu dân ý Brexit, Anh Quốc “cần nhìn về phía trước, không nhìn lại quá khứ”, và khi mà “xung đột lớn, bất ổn lớn (massive conflict, great uncertainty) đang xảy ra trên thế giới thì “vì quyền lợi của mình, Vương quốc Anh cần có một quan hệ gần gũi hơn, mạnh mẽ hơn với châu Âu”. Ông cho rằng nhu cầu đó đến từ thực tiễn hiện nay, và đúng với cả quốc phòng, an ninh, năng lượng và kinh tế. Thứ hai là nhu cầu kích hoạt tăng trư

    12 min
  8. Apr 23

    Cuộc chiến ''bất cân xứng'' chống Mỹ: Phe Houthi ở Yemen, chỗ dựa đắc lực của Iran

    Trong cuộc chiến Mỹ-Israel chống Iran, bùng lên từ cuối tháng 2/2026, có một ẩn số quan trọng : Phản ứng của lực lượng Houthi. Theo nhiều nhà quan sát, cho dù Houthi chỉ là một cộng đồng thiểu số tại Yemen, nhưng nếu lực lượng này quyết định tham chiến, tác động sẽ rất lớn đến khu vực. Vì sao ? Chiến tranh Iran : Houthi nhập cuộc ngày 28/03/2026 Sau gần một tháng kể từ đầu cuộc chiến, ngày 28/03, lực lượng Houthi tấn công Israel bằng tên lửa. Cuộc tấn công đã được thông báo vào hôm trước : Mục tiêu là để ngăn ngừa Israel và Mỹ leo thang quân sự chống Iran. Trên đài France 24, cựu đại sứ Pháp tại Qatar và Ả Rập Xê Út, Bertrand Besancenot, nhận định: « Đây là một tín hiệu quan trọng, theo tôi. Tín hiệu này cho thấy, thật không may, Teheran muốn khẳng định chúng ta đang ở trong giai đoạn leo thang xung đột. Do đó, việc lực lượng Houthi bắt đầu tham gia vào cuộc xung đột, bất chấp thỏa thuận ngừng bắn với Mỹ trước đó, rõ ràng có nghĩa là Teheran trên thực tế đã yêu cầu lực lượng Houthi can thiệp. » Từ thời điểm đó đến nay, quân Houthi dùng tên lửa đạn đạo oanh kích Israel ít nhất bốn lần vào các vị trí chiến lược, trong đó đáng chú ý có đợt tấn công ngày 02/04 cùng ngày với đợt oanh kích lớn nhất của Iran nhắm vào Israel từ đầu chiến tranh.   Tấn công Israel và cản trở giao thông ở Hồng Hải để phản đối chiến tranh của Israel tại Gaza Đây không phải là lần đầu quân Houthi tham chiến. Kể từ khi bùng nổ cuộc chiến tranh của Israel chống Hamas tại Gaza từ cuối năm 2023, để trả đũa vụ tấn công khủng bố của Hamas trên đất Israel, cái tên Houthi đã được thế giới biết đến rộng rãi. Tính đến đầu năm 2024, Houthi dùng ít nhất 40 tên lửa đạn đạo và hàng trăm drone tấn công Isarel, và khoảng 30 tàu thuyền trên biển Hồng Hải, nối liền Địa Trung Hải với Ấn Độ Dương. Ông David Rigoulet-Roze, nhà nghiên cứu tại Viện Phân tích chiến lược Pháp (Institut Français d’Analyse stratégique - IFAS), chuyên gia về Trung Đông và bán đảo Ả Rập, nhận định: « Sau ngày 7/10/2023, lực lượng Houthi là một trong các bên đầu tiên thể hiện ủng hộ về mặt quân sự đối với Hamas trong cuộc chiến ở Gaza. Đã có một kho vũ khí tồn tại dưới thời cựu tổng thống Saleh trước khi bị lật đổ, nhưng rõ ràng hệ thống vũ khí của lực lượng Houthi đã phát triển, nhờ sự hỗ trợ của người Iran, đặc biệt là Lực lượng Vệ binh Cách mạng, và của Hezbollah, giúp Houthi tăng cường khả năng tên lửa đạn đạo. » (Chương trình Arte Les Houthis : l’engrenage continue au Moyen-Orient ? / Lực lượng Houthi: Vòng xoáy bạo lực ở Trung Đông có tiếp tục?). Houthi là ai ? Lực lượng Houthi có tên gọi chính thức là Ansar Allah, tức « những người trung thành với Thượng Đế », được thành lập trong thập niên 1990, sau khi hai miền Yemen thống nhất dưới quyền lãnh đạo của gia tộc Saleh. Houthi là tên của nhà sáng lập phong trào Hussein Badreddin al-Houthi, thuộc bộ tộc Houthi, thành viên một trong ba liên minh bộ tộc lớn nhất ở vùng núi miền bắc Yemen. Nhà sáng lập Houthi thuộc tiểu nhánh Hồi giáo Zaydism, hệ phái Hồi giáo Shia. Zaydism là nhánh tôn giáo chiếm khoảng 20 đến 30% dân số Yemen (tiểu nhánh này có rất nhiều khác biệt so với nhánh imam thứ 12 / Twelver Shi'ism, cũng thuộc hệ phái Shia, là nhánh tôn giáo chủ lưu tại Iran). Phong trào vũ trang của Houthi chống chế độ bị cáo buộc tham nhũng và tàn bạo của gia tộc Saleh thân Ả Rập Xê Út bùng lên vào năm 2003 khi Mỹ tấn công Irak. Năm 2011, cách mạng bùng nổ tại Yemen trong bối cảnh phong trào Mùa Xuân Ả Rập. Tổng thống Saleh bị lật đổ. Nội chiến bùng lên năm 2014, với ba lực lượng chính : (1) phong trào ly khai muốn tái lập nước Nam Yemen, được Các Tiểu Vương Quốc Ả Rập Thống nhất hậu thuẫn,  (2) chính phủ Saleh lưu vong, được quốc tế công nhận, và (3) người Houthi.   Cách mạng, nội chiến và can thiệp nước ngoài: Houthi tìm hậu thuẫn của Iran Cuộc can thiệp quân sự của liên quân quốc tế do Ả Rập Xê Út đứng đầu, với hậu thuẫn của Mỹ nhằm tái lập chính phủ Saleh, kết thúc với thỏa thuận ngừng bắn năm 2022 dưới sự bảo trợ của Liên Hiệp Quốc. Gần 400.000 người thiệt mạng tại Yemen, trong 7 năm chiến tranh. Yemen hiện tại được coi là một trong những xứ sở khốn khổ nhất thế giới, với 18 triệu trong số hơn 40 triệu dân bị thiếu ăn trầm trọng, thiếu nước sạch và phương tiện y tế. Lực lượng Houthi hiện kiểm soát khoảng 30% lãnh thổ Yemen, tại các vùng rừng núi hiểm trở, và các địa bàn chiến lược chủ yếu, như các vùng ven biển và vùng giáp biên với Ả Rập Xê Út. Chính trong bối cảnh cách mạng, nội chiến và can thiệp nước ngoài này, quan hệ giữa Houthi và Iran được siết chặt. Bà Agnès Levallois, chủ tịch Viện Nghiên cứu Trung Đông Địa Trung Hải (IReMMO), chuyên về vùng Cận Đông, nhận định (chương trình của Arte) : « Chúng ta hãy trở lại năm 2015, khi Ả Rập Xê Út quyết định phát động chiến tranh chống lực lượng Houthi, nổi lên sau các cuộc biểu tình năm 2011 buộc tổng thống Saleh phải ra đi. Phong trào phản kháng Mùa Xuân Ả Rập 2011 cũng đã lan đến Yemen. Sau khi tổng thống Saleh ra đi, đã có những cuộc đối đầu giữa các lực lượng khác nhau cấu thành nên xã hội Yemen. Lực lượng Houthi là một thành phần của xã hội Yemen, chủ yếu là người Hồi giáo theo hệ phái Shia, đã tìm đến Iran để nhận được các hỗ trợ. Đây là chiến lược được xác lập trong bối cảnh các cuộc nổi dậy sau phong trào Mùa Xuân Ả Rập năm 2011. » Eo biển Bab el-Mandeb, một huyết mạch hàng hải Á – Âu Theo một báo cáo của Liên Hiệp Quốc, lực lượng Houthi vào năm 2024 có khoảng 350.000 binh sĩ. Một lá chủ bài của Houthi là eo biển Bab el-Mandeb, tuyến hàng hải gần nhất nối liền châu Á với châu Âu, nơi trung chuyển của khoảng 10% thương mại hàng hải quốc tế (xem thêm về eo biển Bal el-Mandeb trên trang CNES - Trung tâm nghiên cứu Không gian Quốc gia Pháp). Tướng Dominique Trinquand, cựu lãnh đạo phái bộ quân sự của Pháp tại Liên Hiệp Quốc, nhấn mạnh đến nguy cơ Houthi phong tỏa eo biển: « Điều này có thể dẫn đến hệ quả gì ? Có thể nói một cách đơn giản là xung đột sẽ được mở rộng. Ngoài eo biển Hormuz, còn có một eo biển cực kỳ quan trọng khác là eo biển Bab el-Mandeb ở Hồng Hải. Lực lượng Houthi đã từng gây thiệt hại và làm gián đoạn đáng kể khu vực này trong nhiều năm. Có một lực lượng  hải quân của châu Âu được triển khai để bảo vệ Hồng Hải. Nhưng nếu lực lượng Houthi quyết định nhập cuộc và nếu như họ vẫn có đủ tên lửa để ngăn chặn tuyến đường hàng hải đó, thì xung đột sẽ mở rộng và tình hình sẽ trở nên ngày càng phức tạp hơn, bởi với việc hai eo biển Hormuz và Bab el-Mandeb ở Hồng Hải bị ngăn chặn, không một con tàu nào có thể đi qua tại khu vực này. » Sẵn sàng tham gia cuộc chiến « bất cân xứng » chống đại cường Cho đến nay, lực lượng Houthi mới tấn công Israel và chưa có hành động ngăn cản tự do hàng hải tại eo biển Bab el-Mandeb, thỏa thuận hưu chiến với Mỹ vẫn được duy trì theo nhiều nhà quan sát, trái ngược với nhận định của cựu đại sứ Pháp tại Ả Rập Xê Út. Chuyên gia Viện Phân tích chiến lược Pháp David Rigoulet-Roze lưu ý, với cuộc tấn công này, lực lượng Houthi muốn bắn tín hiệu đến Mỹ và Ả Rập Xê Út (chương trình Arte) : « Ẩn dưới hành động này, phe Houthi đã ngầm gửi đi một thông điệp đến Mỹ và Ả Rập Xê Út. Cụ thể là lực lượng Houthi có khả năng lập một liên minh với Teheran để phản công. Điều quan trọng cần nhớ là kể từ năm 2015, lực lượng Houthi đã liên tục oanh kích Ả Rập Xê Út bằng tên lửa. Sân bay của Các Tiểu Vương Quốc Ả Rập Thống nhất cũng từng bị tấn công. Ả Rập Xê Út sẽ phải đối đầu với hai địch thủ. Đây là điều không thể bỏ qua, cho dù khả năng hoạt động của lực lượng Houthi vẫn còn bị hạn chế. Việc có thêm mối đe dọa tiềm tàng ở sau lưng, bên cạnh mối đe dọa trực tiếp từ Iran, quả thực là khiến Ả Rập Xê Út lâm vào thế khó. Vì vậy, lực lượng Houthi không chỉ gây khó

    10 min

About

Thời sự quốc tế nổi bật qua lăng kính của RFI

More From RFI Tiếng Việt

You Might Also Like