Sư Nguyên Tuệ - Gosinga

Sư Nguyên Tuệ

Sư Nguyên Tuệ Gosinga giảng về Thiền Tứ niệm xứ, Bát Chánh Đạo, Chánh niệm, Luân Hồi Tái Sinh

  1. Aug 10

    TU CHỈ VÀ TU QUÁN: Định đưa đến Tâm giải thoát, Tuệ đưa đến Tuệ giải thoát | Sư Nguyên Tuệ

    Bài pháp này khởi từ một đoạn kinh ngắn trong Nikaya nói về Thượng trí, trí tuệ giác ngộ. Pháp cần liễu tri với thượng trí là năm thủ uẩn, tức sự thật Khổ và nguyên nhân Khổ. Pháp phải đoạn tận là vô minh và tham ái. Pháp phải tu tập là Chỉ và Quán, tức Định và Tuệ. Pháp phải chứng ngộ là Minh và giải thoát, tức Tâm giải thoát và Tuệ giải thoát.🍃 Mục đích tu ChỉChỉ, trong Hán Việt, là đình chỉ, là dừng lại. Trong lộ trình tâm Bát Tà Đạo, sau khi tâm Thấy thấy đối tượng thì tâm Biết khởi lên; do cái Biết này là vô minh chấp ngã nên làm phát sinh tham sân si, chính là nguyên nhân phát sinh khổ. Tu Chỉ để tách cái Thấy ra khỏi cái Biết:1/ Tu tập Chánh định là tên gọi khác của tu Chỉ. Khi chú tâm liên tục cảm giác toàn thân, phát sinh trạng thái định, lộ trình tâm dừng lại ở cái Thấy, không có cái Biết khởi lên.2/ Kinh nghiệm cái Thấy thuần túy, thấy mọi việc đang xảy ra mà không suy nghĩ, không nhận xét, không đánh giá, thuật ngữ gọi là Tỉnh giác.3/ Kinh nghiệm khi an trú cái Thấy thuần túy thì không có tham sân si, không khổ vui với đối tượng, tức chấm dứt khổ ngay bây giờ và tại đây.4/ Kinh nghiệm tâm trạng tích cực, vui, thoải mái do chú tâm liên tục cảm giác toàn thân khởi lên.5/ Tuệ tri cái Thấy thuần túy có tính chất vô niệm, vô ngôn, vô phân biệt, đó là cái Thấy Không tánh.6/ Tuệ tri Tâm giải thoát do Chánh định phát sinh, độc lập không ràng buộc, giải thoát không hệ lụy với đối tượng. Cái vui ấy không do năm trần phát sinh mà do Chánh định, là cái vui giải thoát.🧘 Mục đích tu QuánTu Quán cũng là tu tập Tuệ, theo tiến trình Văn, Tư, Tu, để thay đổi tâm Biết từ vô minh, tà kiến thành Minh, chánh kiến, do vậy kinh nghiệm Tuệ giải thoát:1/ Tuệ tri về sự giác ngộ của Đức Phật: nhờ như thật tuệ tri sự tập khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly của Thọ mà Như Lai được giải thoát hoàn toàn, không chấp thủ.2/ Hiểu đúng thực tại là Tâm, là cảm thọ, chứ không phải thế giới vật chất. Cái được Thấy là cảm thọ, cái được Biết là tư tưởng.3/ Hiểu đúng lý duyên khởi: hai nhân tương tác rồi cùng diệt mới phát sinh quả; tất cả Danh và Sắc đều do duyên mà khởi.4/ Hiểu đúng hệ quả của duyên khởi: các sự vật hiện tượng, vật chất hay tinh thần, đều vô thường, vô chủ vô sở hữu, tức vô ngã.5/ Hiểu đúng các thứ tâm trong bốn nhóm Thọ, Tưởng, Hành, Thức, tức Cảm giác, Thấy, Hành, Biết.6/ Hiểu đúng Khổ, Tập, Diệt, Đạo, tức Tứ Thánh Đế.7/ Hiểu đúng Minh và vô minh tất cả các pháp, tức Trạch pháp.8/ Hiểu đúng sự thật và an trú Tuệ giải thoát.🌿 Như vậy, tu Chỉ đưa đến Tâm giải thoát, tu Quán đưa đến Tuệ giải thoát. Cả hai đều là pháp phải tu tập với thượng trí, để chứng ngộ Minh và giải thoát.#BátChánhĐạo #SưNguyênTuệ #Nikaya #TuChỉTuQuán #ĐịnhTuệ #TâmGiảiThoát

  2. Aug 9

    TỰ MÌNH MÂU THUẪN VỚI CHÍNH MÌNH | Sư Nguyên Tuệ

    Bài pháp này chỉ ra một sự thật ít ai để ý: trừ các bậc Thánh đã giác ngộ, cả nhân loại đang sống lối sống tự mình mâu thuẫn với chính mình, bởi vì sống với hiểu biết sai sự thật. Mâu thuẫn thì nhiều, nhưng nổi bật hơn cả là luôn sống với hai cực đoan Thích và Ghét. Còn bậc Thánh đã giác ngộ thì ly hai cực đoan đó, sống lối sống Trung Đạo, không thích cũng không ghét pháp nào.🍃 Khi một người thích cái gì thì ghét những gì ngược lại, từ mức nhỏ là không thích cho đến mức cao là tức tối, giận dữ. Và khi thích cái gì đó thì không phải thích mãi: luôn có một khoảng thời gian là thích, sau đó là chán, rồi thậm chí ghét chính cái đó. Vì lộ trình tâm của mỗi người luôn đi từ Thích đến Chán rồi đến Ghét, nên con người nay thích cái này mai thích cái kia, nay ghét cái này mai lại thích chính cái đã từng ghét. Lối sống tự mình mâu thuẫn với chính mình vì vậy là điều hiển nhiên ở con người bình thường, cuộc sống chỉ xoay quanh thích ghét, đắp đổi từ thích sang ghét và ngược lại.🌿 Trong đạo Phật hiện nay cũng luôn có hai cực đoan tu hành là tham ái lợi dưỡng và khổ hạnh hành xác, cả hai đều do hiểu biết xuất phát từ hai cực đoan Thích và Ghét mà ra. Trong nhận thức chung, người tu phải từ bỏ được tham ái lợi dưỡng, phải trở thành bần tăng mới là chân tu. Cho nên khi thấy có vị xuất gia đi xe sang, dùng điện thoại xịn thì nhiều người phản cảm; còn khi xuất hiện vị sống khổ hạnh, kham nhẫn thì dễ được ca ngợi và đi theo.🧘 Nhưng theo sự thật Đức Phật chỉ ra, người tu khổ hạnh cũng chỉ thoát khỏi cực đoan tham ái lợi dưỡng để chuyển sang tham ái khổ hạnh mà thôi, còn bản chất tâm Thích và Ghét thì đâu có thay đổi. Người học Phật, nếu hiểu Đức Phật đã từ bỏ khổ hạnh và đã tuyên bố ngay trong kinh Chuyển Pháp Luân, lần thuyết giảng đầu tiên, rằng khổ hạnh là một cực đoan, là hạ liệt, đê tiện, không xứng bậc Thánh, thì sẽ khởi lên thắc mắc: Ngài có thể tán thán việc thực hành khổ hạnh không? Ngài có thể tiền hậu bất nhất, tự mình chống đối lại chính mình không?🍃 Chỉ có bậc giác ngộ mới sống ly được hai cực đoan trên. Nhờ thực hành Tứ Niệm Xứ, lộ trình tâm của người bình thường có Thích và Ghét được thay đổi triệt để sang lộ trình tâm Bát Chánh Đạo của bậc Thánh, không có Thích và Ghét, đồng thời không có Khổ, nên giải thoát, chấm dứt khổ hoàn toàn. Để thực hành được điều đó, người học Phật cần trải qua ít nhất một lần học đầy đủ về pháp học Tứ Thánh Đế, pháp hành Tứ Niệm Xứ, và thân chứng được pháp thành, tức khởi lên được lộ trình tâm Bát Chánh Đạo. Khi đó mới có khả năng tự mình tiếp tục tu tập cho đến khi chấm dứt Khổ, sống lối sống thích nghi, giải thoát, không còn tự mình mâu thuẫn với chính mình.#BátChánhĐạo #SưNguyênTuệ #Nikaya #TrungĐạo #ThíchGhét #TứNiệmXứ

  3. Aug 7

    LÝ DO CA NGỢI KHỔ HẠNH HÀNH XÁC: cái vĩ đại phải đổi bằng khổ đau, còn Bát Chánh Đạo thì Không

    Bài pháp này lý giải vì sao không riêng người phương Đông mà cả người phương Tây cũng ca ngợi khổ hạnh hành xác. Bởi họ đã thấy một sự thật đang diễn ra trong đời sống nhân loại, đặc biệt nơi các vĩ nhân, những người nổi tiếng: tất cả những gì tốt đẹp nhất, vĩ đại nhất mà con người có được thì phải đánh đổi bằng những đau khổ vĩ đại tương xứng.🍃 Sư mượn chủ đề tác phẩm Tiếng Chim Hót Trong Bụi Mận Gai để làm rõ. Truyền thuyết kể về loài chim chỉ hót một lần duy nhất trong đời, nhưng tiếng hót ấy hay nhất thế gian. Nó rời tổ đi tìm bụi mận gai, giữa đám cành gai góc cất tiếng hát và lao ngực vào chiếc gai dài nhất, nhọn nhất, vượt lên trên nỗi đau khôn tả mà vừa hót vừa lịm dần. Bài ca có một không hai ấy phải đổi bằng chính mạng sống mới có được, cả thế gian lặng đi lắng nghe. Thông điệp là: tất cả những gì tốt đẹp nhất chỉ có được khi ta chịu trả giá bằng nỗi khổ đau vĩ đại.🌿 Đó là quy luật đang chi phối đời sống nhân loại. Chừng nào còn đi tìm những giá trị vĩ đại, còn phấn đấu để trở thành con người vĩ đại, thì phải đánh đổi bằng những khổ đau vĩ đại, phải đánh đổi bằng việc bị hành xác và tự hành xác.🧘 Chỉ khi hiểu biết đúng sự thật mới thấy mục đích của cuộc đời là chấm dứt khổ đau, chứ không phải trở thành người vĩ đại hay đạt được những giá trị vĩ đại. Do đó, hiểu biết đúng sự thật thì chỉ cần đạt được cái Không: không vô minh, không chấp ngã, không tham sân si. Cái Không đó không có một giá trị vĩ đại nào hết; cái Không đó chính là đoạn tận khổ đau, cả thân lẫn tâm.🍃 Vì vậy, Bát Chánh Đạo là con đường có cái Không đó: con đường bằng phẳng, không chông gai, không nguy hiểm, không bị hành xác cũng không tự hành xác. Mỗi bước đi trên con đường đó là mỗi bước an lạc, chấm dứt khổ thân và khổ tâm, là bước đi tự do, không ràng buộc, giải thoát, không hệ lụy. Đó là Con Đường Cổ Xưa mà các vị Phật đã từng đi, nay đã bị che lấp, chỉ có những người trí mới có duyên bắt gặp.#BátChánhĐạo #SưNguyênTuệ #Nikaya #KhổHạnh #CáiKhông #ConĐườngCổXưa

  4. Aug 6

    🪷 5 ĐIỀU KHỔ HẠNH VÀ 13 HẠNH ĐẦU ĐÀ: lời Phật dạy hay kiến giải của người đời sau

    Bài pháp ngắn này truy nguyên nguồn gốc của mười ba hạnh đầu đà, đối chiếu với năm điều khổ hạnh mà Đề Bà Đạt Đa từng trình lên và Đức Phật đã từ chối. Thời nào cũng vậy, tham ái lợi dưỡng và khổ hạnh hành xác là hai cực đoan ăn sâu trong tâm thức nhân loại, khi đủ nhân duyên bên ngoài thì biểu hiện ra cực đoan này hoặc cực đoan kia.🌿 Đề Bà Đạt Đa xuất gia theo Phật, thời kỳ đầu rất tinh tấn, nhưng về sau do không lĩnh hội được những điều sâu kín vi diệu của Giáo Pháp nên tìm cách tranh giành quyền lãnh đạo Tăng đoàn. Ông trình lên Phật năm điều khổ hạnh, bắt buộc các Tỷ kheo phải tuân theo:1/ Suốt đời khất thực, không nhận thức ăn dâng cúng hay thí chủ mời đến nhà.2/ Suốt đời không được ăn thịt cá.3/ Lượm những mảnh vải cháy dở nơi thiêu xác người để may y phấn tảo, không nhận y áo dâng cúng.4/ Ngủ nghỉ dưới gốc cây, không được ngủ nơi có mái che.5/ Suốt đời sống trong rừng, nơi hoang vắng.🍃 Đức Phật không chấp nhận năm điều này. Lấy cớ đó, Đề Bà Đạt Đa tuyên bố Sa môn Gotama không hành khổ hạnh nên đã tu sai pháp, chỉ có tu khổ hạnh mới giải thoát. Năm trăm vị Tỷ kheo đang được Phật truyền dạy Tứ Thánh Đế và Tứ Niệm Xứ liền bỏ Phật đi theo ông. Điều đó cho thấy tà kiến khổ hạnh đã huân tập sâu xa trong tâm thức đến mức nào.🧘 Chính Đức Phật, sáu năm đầu sau khi xuất gia cũng đã theo khổ hạnh, kiên cường cho đến kiệt sức, mà không thoát khỏi khổ, lại càng khổ thêm. Nhờ đó Ngài tuệ tri khổ hạnh là sai lầm và từ bỏ. Ngài tìm ra nguyên nhân phát sinh khổ là tham ái năm thứ sắc đẹp, tiếng hay, hương thơm, vị ngon, xúc chạm êm ái, chứ không phải chính năm thứ đó. Và Ngài khám phá phương pháp tu tâm, tức tu Định và Tuệ, để thay đổi tâm Thấy và tâm Biết, chấm dứt tham ái, chấm dứt Khổ. Phương pháp ấy khác hẳn khổ hạnh hành xác, vốn chỉ là tu miệng, tu tay, tu chân. Sau khi giác ngộ, Ngài vẫn sống giữa năm thứ ấy nhưng không tham ái, không ràng buộc.🌿 Mười một thế kỷ sau khi Phật nhập diệt mới xuất hiện mười ba pháp hạnh đầu đà: hạnh y phấn tảo; hạnh ba y; hạnh khất thực; hạnh khất thực từng nhà; hạnh ăn một lần; hạnh ăn bằng bình bát; hạnh không nhận thêm đồ ăn; hạnh ở rừng; hạnh ở gốc cây; hạnh ở bãi đất trống; hạnh ở nghĩa địa; hạnh ở chỗ nào cũng được; hạnh ngủ ngồi. Căn bản đó là cụ thể hóa bốn trong năm điều khổ hạnh của Đề Bà Đạt Đa, trừ ăn chay và hạnh ngủ ngồi.🍃 Tam Tạng giáo điển gồm Kinh, Luật và Luận. Kinh do Phật thuyết giảng, Luật do Phật chế định, còn Luận là do các luận sư trình bày kiến giải của mình, không phải của Phật. Mười ba hạnh đầu đà không có chỗ nào trong Tạng Kinh, cũng không có trong Tạng Luật, mà xuất hiện trong Thanh Tịnh Đạo Luận của luận sư Phật Âm, thế kỷ thứ năm sau Tây lịch. Đó là kiến giải của người đời sau, nối lại con đường khổ hạnh mà Đề Bà Đạt Đa đã đề xướng và Đức Phật đã từ chối.☸️ Sư Nguyên Tuệ#BátChánhĐạo #SưNguyênTuệ #Nikaya #HạnhĐầuĐà #KhổHạnh #ThanhTịnhĐạoLuận

  5. Aug 5

    GIỚI VÀ LUẬT KHÔNG PHẢI LÀ MỘT | Sư Nguyên Tuệ

    🪷 GIỚI VÀ LUẬT KHÔNG PHẢI LÀ MỘT — Giới thuộc Bát Chánh Đạo, Luật là điều kiện của Tăng đoànBài pháp ngắn này chỉ ra một chỗ thường bị đồng hóa: Giới và Luật đều do Đức Phật chế định, nhưng hoàn toàn khác nhau về bản chất. Giới thuộc về Pháp, nằm trong Tứ Thánh Đế, cụ thể là Bát Chánh Đạo. Còn điều luật là yếu tố để Tăng đoàn tồn tại và vận hành, không phải giáo nghĩa, không phải đường lối tu hành.🍃 Bát Chánh Đạo gồm tám chi phần, chia làm ba nhóm. Nhóm Định gồm Chánh niệm, Chánh tinh tấn, Chánh định. Nhóm Tuệ gồm Chánh tư duy, Chánh tri kiến. Nhóm Giới gồm Chánh ngữ, Chánh nghiệp, Chánh mạng.🍃 Giới trong Bát Chánh Đạo là lời nói hành động không có tham sân si, không tạo tác ra khổ vui, được gọi là Vô tác giải thoát. Ngược lại, trên Bát Tà Đạo là Tà ngữ, Tà nghiệp, Tà mạng, do tham sân si phát sinh, tạo tác khổ vui và ràng buộc.🧘 Lời nói hành động xảy ra nơi miệng, nơi tay, nơi chân, nhưng do Tâm tạo ra, cụ thể là tâm Thấy và tâm Biết. Vì vậy tu tập Định để thay đổi tâm Thấy, tu tập Tuệ để thay đổi tâm Biết, từ vô minh chấp ngã thành Minh. Khi ấy Giới tự đầy đủ. Định Tuệ sinh ra Giới, không có chiều ngược lại.🌿 Điều luật sinh ra từ tệ nạn do yêu ghét. Những năm đầu người xuất gia còn ít nhưng ưu tú, tu tập Định Tuệ liên tục nên có Giới đầy đủ. Đến năm thứ hai mươi, khi tệ nạn nhiều lên, Đức Phật mới chế định điều luật để chế tài. Tạng Luật ghi hai trăm hai mươi bảy điều với Tỷ kheo tăng, hơn ba trăm điều với Tỷ kheo ni, nặng nhất là bị trục xuất.🌿 Tuân thủ điều luật cũng do yêu ghét: yêu thích được là thành viên Tăng đoàn, sợ hãi bị khai trừ. Chúng không phải là yếu tố phát sinh Định, phát sinh Tuệ, không phải yếu tố để đắc đạo, mà chỉ là điều kiện để được là thành viên Tăng đoàn. Với người tại gia, Tam quy Ngũ giới cũng chỉ là yếu tố xác định tư cách tín đồ. Giáo Pháp là Tứ Thánh Đế, phương pháp tu hành là Tứ Niệm Xứ.🌿 Ví dụ Sư dùng: một khóa tu quy định tịnh khẩu, ai vi phạm thì không được tham dự. Quy định ấy giúp mọi người có điều kiện thực hành Tứ Niệm Xứ, nhưng tịnh khẩu không phải là phương pháp, không phải yếu tố phát sinh Định Tuệ. Tịnh khẩu là điều kiện, không phải phương pháp.🍃 Người thực hành Tứ Niệm Xứ, an trú Bát Chánh Đạo, lộ trình tâm có Định và Tuệ thì Giới tự động khởi lên đầy đủ, phù hợp với mọi quy định của xuất gia, tại gia và của đất nước. Còn người không tu tập Tứ Niệm Xứ, tâm không có Định và Tuệ, có thể tuân thủ mọi điều luật do yêu ghét, nhưng sẽ không có Giới theo nghĩa Giới Luật bậc Thánh.#BátChánhĐạo #SưNguyênTuệ #Nikaya #GiớiLuật #TứNiệmXứ #TạngLuật

  6. Aug 5

    NIỆM LÀ GÌ, CÓ THẤT NIỆM KHÔNG? | Sư Nguyên Tuệ

    Bài pháp này xét lại một từ nhiều người hay dùng: Thất niệm, với nội dung rằng khi tu tập mà không có Chánh niệm thì lúc đó là Thất niệm, hiểu đơn giản là không có Niệm. Vậy thật sự có thất niệm hay không, tức có một lộ trình tâm nào mà không có Niệm hay không?🍃 Muốn hiểu đúng, trước tiên phải hiểu Niệm là gì. Niệm là thuật ngữ Phật học Hán Việt, đặt ra khi phiên dịch kinh điển từ ngôn ngữ Ấn Độ sang Trung Hoa. Trong các bộ kinh Nikaya, Niệm được định nghĩa là nhớ lại những gì đã học từ trước; theo định nghĩa gốc này, hiểu theo tiếng Việt thuần túy, Niệm chính là Trí nhớ. Niệm là một tâm hành thuộc nhóm Hành, trong bốn nhóm Thọ, Tưởng, Hành, Thức, hay Thọ, Thấy, Hành, Biết. Tâm hành Niệm, tâm hành Tư duy, cùng tâm Biết ý thức là những quá trình duyên khởi nối tiếp nhau: Niệm, Tư duy, rồi Biết. Cho nên hễ lộ trình tâm nào có cái Biết ý thức thì dứt khoát phải có Niệm, phải có Trí nhớ.🌿 Quan sát kỹ, tâm hành Niệm có hai phần. Phần thứ nhất là hành vi của Niệm: nhớ lại, nhớ đến, tìm kiếm thông tin, tương tự như Google. Phần thứ hai là nội dung của Niệm: nhớ lại cái gì. Tùy nội dung mà Niệm chia làm hai loại:1/ Tà niệm, tức Trí nhớ Tà: nhớ được những gì đã học, nhưng tri thức đã học đó có nội dung là hiểu biết không đúng sự thật, là vô minh, tà kiến, chấp ngã. Duyên với Tà niệm phát sinh Tà tư duy; duyên với Tà tư duy phát sinh cái Biết ý thức vô minh, tà kiến, chấp ngã; duyên với cái Biết ấy phát sinh tham sân si; và duyên với tham sân si phát sinh sầu bi khổ não, sinh già bệnh chết.2/ Chánh niệm, tức Trí nhớ Chánh: cũng là nhớ lại những gì đã học, nhưng điều đã học đó là hiểu biết đúng sự thật, là Minh, Trí tuệ, Chánh kiến, do Đức Phật khám phá và truyền dạy, đó là Tứ Thánh Đế và những gì liên quan. Duyên với Chánh niệm phát sinh Chánh tư duy; duyên với Chánh tư duy phát sinh cái Biết ý thức Chánh kiến, trí tuệ; duyên với cái Biết Chánh kiến khởi lên Chánh ngữ, Chánh nghiệp, Chánh mạng. Đây chính là lộ trình tâm Bát Chánh Đạo, không còn nhân duyên cho cái Biết vô minh, cho tham sân si, cho sầu bi khổ não khởi lên, nghĩa là toàn bộ khổ uẩn chấm dứt ngay bây giờ và tại đây.🧘 Nội dung của Chánh niệm rất nhiều, chia làm bốn nhóm chính, thuật ngữ gọi là Tứ Niệm Xứ. - Chánh niệm về thân là nhớ đến, tích cực chú tâm quán sát thân nơi thân, tức quán sát cảm giác xuất hiện nơi thân. - Chánh niệm về thọ là quán sát thọ nơi thọ. - Chánh niệm về tâm là quán sát tâm nơi tâm, tức Thọ, Tưởng, Hành, Thức. - Chánh niệm về pháp là quán sát pháp nơi pháp, pháp mà Đức Phật thuyết giảng.🍃 Phật học là một môn học, cũng như Toán học, Vật lý hay Kỹ nghệ, mục đích là để sống với các kiến thức này, để hết khổ được vui ngay bây giờ và tại đây. Việc học và hành thật ra chỉ là rèn luyện trí nhớ, nhớ được điều đã học và ứng dụng vào tình huống cụ thể một cách thuần thục. Tu học Phật giáo cũng vậy, chỉ là rèn luyện Trí nhớ Chánh, tức Chánh niệm gồm bốn nhóm Tứ Niệm Xứ, cho thật thuần thục, để khi đối diện một tình huống cụ thể thì Trí nhớ Chánh tương ứng khởi lên thuần thục. Khi chưa thuần thục thì có lúc nhớ, lúc quên. Nhưng khi không có Chánh niệm, không có nghĩa là lộ trình tâm ấy không có Niệm như cách một số người gọi là Thất niệm. Lúc đó vẫn có Niệm, chỉ là Tà niệm mà thôi.#BátChánhĐạo #SưNguyênTuệ #Nikaya #ChánhNiệm #TứNiệmXứ #ThấtNiệm

  7. Jul 22

    LẠC TU NHANH CHỨNG: TU TRONG AN LẠC, KHÔNG PHẢI HÀNH XÁC | Sư Nguyên Tuệ

    🪷 LẠC TU NHANH CHỨNG: Bốn cách tu và pháp hành Đức Phật đã truyền dạy Trong Nikaya có rất nhiều chỗ nói về bốn cách tu mà Đức Phật đề cập và đánh giá. Tu ở đây là cách thực hành, là pháp hành; còn chứng là chứng Khổ diệt, mà thuật ngữ Phật học gọi là Niết bàn. Trong bốn cách, chỉ một cách được Đức Phật tán thán và truyền dạy. 🍃 Bốn cách tu:1/ Khổ tu mà chậm chứng, là cách tu hạ liệt.2/ Khổ tu mà nhanh chứng, cũng là cách tu hạ liệt.3/ Lạc tu mà chậm chứng, cũng là cách tu hạ liệt.4/ Lạc tu mà nhanh chứng, là cách tu Đức Phật tán thán, là cách tu Ngài đã truyền dạy. Khổ tu (chậm hay nhanh chứng) là chịu đựng khổ trong hiện tại để tương lai chứng khổ diệt, biểu hiện là tìm khổ trốn sướng. Lạc tu mà chậm chứng là tu trong hoàn cảnh tốt đẹp, nhiều lạc thọ trên thân, nhưng vẫn nhắm chứng khổ diệt trong tương lai, biểu hiện là tìm sướng trốn khổ. Cả ba đều hạ liệt. 🧘 Lạc tu nhanh chứng là gì. Đó là thực hành Bát Chánh Đạo gồm tám chi phần: Chánh niệm, Chánh tinh tấn, Chánh định, Chánh tư duy, Chánh tri kiến, Chánh ngữ, Chánh nghiệp, Chánh mạng. Bát Chánh Đạo khởi lên theo quy luật duyên khởi: Chánh niệm khởi lên thì toàn bộ bảy chi phần còn lại tự động khởi lên. Vì vậy pháp hành là Tứ Niệm Xứ, tức bốn loại Chánh niệm về Thân, Thọ, Tâm, Pháp. Khi ấy lộ trình tâm không có nhân, không có duyên cho vô minh chấp ngã, cho tham sân si khởi lên, nên hành giả thân chứng khổ diệt, Niết bàn, ngay bây giờ và tại đây. Trong Chánh định có sơ thiền, nhị thiền, tam thiền, tứ thiền, nên hành giả còn thân chứng hỷ lạc của sơ nhị thiền, lạc của tam thiền, hiện tại lạc trú của tứ thiền. Đây chính là lạc tu nhanh chứng. 🌿 Vì sao là lạc chứ không phải khổ. Kinh điển nhiều lần khẳng định: không thể chứng ngộ Tứ Thánh Đế với khổ và ưu, mà chỉ có thể chứng ngộ với lạc và hỷ. Kinh nhấn mạnh bằng một ví dụ: nếu chứng ngộ được với khổ và ưu thì chỉ cần sáng đánh ba trăm hèo, chiều ba trăm hèo, tối ba trăm hèo là đủ, đâu cần tu học gì nữa. 🍃 Khổ thân, khổ tâm và Niết bàn hữu dư. Khổ có hai loại: khổ thân do thân căn tương tác với Xúc Trần, và khổ tâm do tham sân si. Khổ tâm chiếm chín mươi đến chín mươi lăm phần trăm, khổ thân tối đa mười phần trăm. Thực hành Tứ Niệm Xứ thì an trú không tham sân si, khổ tâm diệt nhưng khổ thân còn dư sót, gọi là khổ diệt hữu dư, Niết bàn hữu dư. Một vị A La Hán khi còn sống thì thân chứng Niết bàn hữu dư; khi nhập diệt thì gọi là Niết bàn vô dư. Ở sơ, nhị, tam thiền, khổ thọ trên thân giảm còn chưa đến một phần trăm; ở tứ thiền, cảm giác rất nhẹ và vi tế, không còn khổ thân, nên gần giống Niết bàn vô dư. Lạc tu mà nhanh chứng là tu tập Bát Chánh Đạo để thân chứng khổ chấm dứt, cả khổ tâm lẫn khổ thân, chứ không phải tu là phải chịu đựng khổ, phải hành xác để tăng cường khổ thân thì mới hết khổ tâm. Giảng sư: Sư Nguyên Tuệ #BátChánhĐạo #SưNguyênTuệ #Nikaya #LạcTuNhanhChứng #TứNiệmXứ #NiếtBàn

  8. Jul 22

    XUYÊN TẠC PHẬT — hai lời dạy gốc về sự thật Khổ, và sự suy diễn sai "các pháp là khổ"

    Trong kinh điển có sự lẫn lộn giữa lời Phật dạy và lời người sau kết tập, nhưng có hai điều về sự thật Khổ mà mọi tông phái đều công nhận là lời dạy gốc của Phật. Bài pháp ngắn này y cứ vào hai lời dạy gốc ấy để chỉ ra vì sao nhận thức "các pháp là khổ" là một sự suy diễn không đúng văn và nghĩa lời Phật.Thứ nhất — Thập nhị nhân duyên: do duyên Lục nhập (sáu Căn, sáu Trần) mà có Xúc, duyên Xúc có Thọ, duyên Thọ có Ái, rồi Thủ, Hữu, Sinh, đến già chết, sầu bi khổ ưu não. Vì Khổ do duyên khởi nên vô thường, vô chủ vô sở hữu, đồng nghĩa với vô ngã — không sẵn có, không thường trú trong các pháp, chỉ phát sinh khi có tham ái. Khổ là một Danh pháp độc lập, không phải tính chất thường hằng nằm sẵn trong các pháp.Thứ hai — sự thật Khổ trong kinh Chuyển Pháp Luân: sinh, già, bệnh, chết, cầu bất đắc, oán tắng hội, ái biệt ly là khổ; tóm lại năm thủ uẩn là khổ. Nghĩa là lúc nào chấp thủ năm uẩn (Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức) là của Ta, là Ta, là tự ngã của Ta, thì lúc đó mới phát sinh khổ.Cả hai lời dạy đều khẳng định: đây là khổ thuộc về con người, phát sinh nơi con người, không phải khổ của tất cả các pháp. Giáo pháp là "đến để mà thấy" — tự mình kiểm chứng: Phật nói về khổ của con người, không phải khổ của thú vật, cây cối, trăng sao, vũ trụ; kể cả khổ của con chó con mèo, con người cũng chỉ suy đoán rồi áp đặt.Vì không nghe kỹ, không tư duy kỹ, không quán sát sự thật, có người suy diễn theo hiểu biết vô minh, theo nhị nguyên Tâm Vật, mà cho rằng "các pháp là khổ" — với suy diễn một chiều rằng nhận thức các pháp là khổ thì sẽ ly tham các pháp. Nhưng hai lời dạy gốc nói khác: khổ do duyên khởi nên không sẵn có, không thường trú trong các pháp; và sự thật Khổ là năm thủ uẩn — chỉ khi chấp thủ năm uẩn là Ta, là của Ta, mới phát sinh khổ.Giảng sư: Sư Nguyên Tuệ#BátChánhĐạo #SưNguyênTuệ #Nikaya #SựThậtKhổ #DuyênKhởi #NămThủUẩn

About

Sư Nguyên Tuệ Gosinga giảng về Thiền Tứ niệm xứ, Bát Chánh Đạo, Chánh niệm, Luân Hồi Tái Sinh