Tạp chí Việt Nam

Những vấn đề, sự kiện đang được dư luận quan tâm ở Việt Nam

  1. 3D AGO

    Việt Nam có bị ảnh hưởng từ hợp tác dầu khí Trung Quốc - Philippines ở Biển Đông?

    Khủng hoảng dầu lửa Trung Đông lại làm giảm bớt căng thẳng tranh chấp chủ quyền giữa Manila và Bắc Kinh. Ngày 24/03/2026, tổng thống Marcos Jr. tuyên bố “sẵn sàng nối lại đàm phán dự án dầu khí với Trung Quốc ở Biển Đông”, sau đó được bộ Ngoại Giao Philippines nhấn mạnh là “phải tuân theo Hiến Pháp Philippines”. Một tháng sau, đại sứ Philippines tại Trung Quốc giải thích hai bên “vừa cố gắng quản lý những khác biệt vừa tìm kiếm sự hội tụ lợi ích”. Lần đầu đầu tiên từ ba năm qua, dấu hiệu “tan băng” bắt đầu xuất hiện cho dù nguyên thủ Philippines và Trung Quốc cam kết nối lại đàm phán phát triển dầu khí chung ở Biển Đông nhân chuyến công du Bắc Kinh đầu năm 2023 của tổng thống Marcos Jr. Tháng 03/2026, Philippines ban bố “tình trạng khẩn cấp năng lượng quốc gia” do khủng hoảng Trung Đông. Ngay sau đó, Bắc Kinh hứa hỗ trợ duy trì nguồn cung nhiên liệu. Khu vực khai thác chung Philippines-Trung Quốc nằm ở đâu ? Mô hình này sẽ tác động như thế nào đối với Việt Nam ? Khủng hoảng Trung Đông đang định hình lại nguồn cung nhiên liệu của nhiều nước Đông Nam Á. Liệu Việt Nam, Philippines và Trung Quốc có thể hướng đến việc tách riêng tranh chấp chủ quyền để đồng khai thác dầu khí ở Biển Đông ? RFI Tiếng Việt đặt câu hỏi với giảng viên-nhà nghiên cứu Laurent Gédéon, Đại học Công giáo Lyon và Viện Đông Á - IAO, Trường Sư phạm Lyon tại Pháp. RFI : Gần đây, Manila đề cập đến việc nối lại đàm phán với Bắc Kinh về dự án thăm dò dầu khí chung ở Biển Đông. Xin ông giải thích bối cảnh đằng sau quyết định này của Philippines ? Laurent Gédéon : Bối cảnh của quyết định này liên quan đến việc Philippines bị phụ thuộc nặng nề vào nguồn tài nguyên hydrocarbon, với các nhà cung cấp dầu chính, theo thứ tự quan trọng, là Ả Rập Xê Út, Irak, Các Tiểu Vương Quốc Ả Rập Thống Nhất và Kuwait. Có thể thấy Philippines nhập khẩu gần như toàn bộ dầu thô từ Trung Đông, khiến nước này rất dễ bị ảnh hưởng bởi biến động giá dầu và gián đoạn nguồn cung. Để đối phó với tình trạng này, ngày 24/03, tổng thống Ferdinand Marcos Jr. đã tuyên bố “tình trạng khẩn cấp năng lượng quốc gia”, nhằm ứng phó với “rủi ro từ gián đoạn cung ứng và tác động tiêu cực của giá nhiên liệu tăng cao”, hậu quả của xung đột Trung Đông. Đây là một phần trong nỗ lực của chính phủ nhằm giảm thiểu tác động của giá nhiên liệu tăng vọt đối với nền kinh tế quốc gia. Đọc thêmPhilippines và Trung Quốc nối lại đàm phán về Biển Đông và hợp tác năng lượng Về vấn đề này, trong cuộc họp báo ngày 25/03, tổng thống Marcos Jr. cho biết Philippines sẽ tìm nguồn cung năng lượng thay thế từ các đối tác ít bị ảnh hưởng bởi bất ổn Trung Đông. Ông cho biết Manila đang đàm phán với Nhật Bản, Hàn Quốc và Trung Quốc. Giống như Việt Nam, Philippines cũng đề nghị Tokyo hỗ trợ tiếp cận một phần dự trữ dầu của Nhật Bản. Tokyo phản hồi tích cực, nhưng nhấn mạnh việc hỗ trợ sẽ phụ thuộc vào nhu cầu cụ thể của họ. Cũng chính trong bối cảnh phức tạp này, Philippines thông báo nối lại đàm phán với Trung Quốc về dự án phát triển dầu khí chung. RFI : Thông báo của Philippines liên quan đến khu vực nào tại Biển Đông ? Laurent Gédéon : Khu vực được thảo luận là bãi Cỏ Rong (Reed Bank, Philippines gọi là bãi Recto), cách đảo Palawan khoảng 80 hải lý về phía tây, thuộc vùng đặc quyền kinh tế của Philippines. Dự án phát triển tài nguyên hydrocarbon tại bãi Cỏ Rong rất quan trọng đối với nguồn cung năng lượng của Philippines vì theo ước tính, khu vực này chứa khoảng 165 triệu thùng dầu và 3.486 nghìn tỷ feet khối khí đốt. Nguồn tài nguyên này đặc biệt quan trọng trong bối cảnh mỏ khí Malampaya - hiện cung cấp gần 30% nhiên liệu cho Philippines - đang cạn dần. Vì vậy, việc phát triển bãi Cỏ Rong được xem là giải pháp thay thế cấp thiết. Tương lai an ninh năng lượng của Philippines phụ thuộc nhiều vào kết quả các cuộc đàm phán, trong khi nước này vẫn đối mặt với rủi ro đáng kể. RFI : Đây không phải là lần đầu tiên Trung Quốc và Philippines nêu khả năng khai thác chung dầu khí ở Biển Đông. Trước đây, vấn đề này đã được đề cập như thế nào ? Laurent Gédéon : Đây là một tiến trình rất dài. Năm 2003, Trung Quốc và Philippines đã bắt đầu đàm phán về việc cùng khai thác dầu ngoài khơi. Năm 2005, thỏa thuận ba bên về « Khảo sát Địa chấn biển chung » (Joint Marine Seismic Undertaking, JSMU) được ký giữa Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Trung Quốc (CNOOC), Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PETROVIETNAM) và Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Philippines (PNOC), tại khu vực “theo thỏa thuận” rộng 142.886 km² ở Biển Đông, bao gồm một phần quần đảo Trường Sa. Thỏa thuận này kéo dài ba năm và hết hạn vào năm 2008. Năm 2012, chính quyền Aquino khôi phục ý tưởng hợp tác với Trung Quốc, nhằm thu hút CNOOC đầu tư thăm dò dầu khí. Tuy nhiên, nỗ lực này thất bại do lo ngại liên quan đến đòi hỏi chủ quyền của Trung Quốc. Năm 2014, Manila áp đặt lệnh cấm tạm thời đối với hoạt động thăm dò tại các vùng biển tranh chấp vì căng thẳng với Trung Quốc gia tăng và sau khi Philippines đưa vụ việc ra Tòa Trọng tài Thường trực (PCA) ở La Haye. Tình hình bế tắc trong hai năm, sau khi Bắc Kinh bác bỏ phán quyết ngày 12/07/2016 của Tòa phủ nhận yêu sách “đường chín đoạn” bao trùm phần lớn Biển Đông. Đọc thêmBiển Đông : Động cơ chính trị của Trung Quốc đằng sau tuyên bố bảo vệ môi trường ? Đến năm 2018, hai bên đạt được một số tiến triển khi ký bản ghi nhớ, thiết lập khuôn khổ đàm phán hợp tác phát triển dầu khí. Thỏa thuận quy định trong vòng 12 tháng kể từ tháng 11/2018, hai bên phải thống nhất được khu vực và phương thức thăm dò chung ở Biển Đông. Tuy nhiên, vì không có thỏa thuận cụ thể nào được ký kết, tổng thống Rodrigo Duterte đình chỉ đàm phán vào tháng 06/2022. Ngày 10/01/2023, Tòa án Tối cao Philippines tuyên bố vô hiệu thỏa thuận JSMU ký năm 2005 với Trung Quốc và Việt Nam vì vi hiến, do lo ngại làm suy yếu chủ quyền quốc gia. Dù vậy, các cuộc tiếp xúc không chính thức giữa Trung Quốc và Philippines vẫn tiếp diễn, trước khi hai bên chính thức nối lại đối thoại vào tháng 01/2025. Tiến trình được thúc đẩy trong năm 2026 qua các cuộc tham vấn song phương, bao gồm cuộc tham vấn lần thứ 24 giữa bộ Ngoại Giao hai nước tại Tuyền Châu, Trung Quốc và cuộc họp lần thứ 11 của cơ chế tham vấn song phương về Biển Đông. Các cuộc đàm phán này nhằm xác định những bước đi ban đầu hướng tới hợp tác dầu khí. Tuy nhiên, cần theo dõi phần tiếp theo vì ngày 29/03, Manila khẳng định mọi quyết định hợp tác sẽ phải tuân thủ Hiến Pháp Philippines và bảo đảm chủ quyền quốc gia. RFI : Một số vùng mà Manila tuyên bố là vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) chồng lấn với vùng biển mà Việt Nam khẳng định chủ quyền. Một dự án thăm dò dầu khí chung giữa Trung Quốc và Philippines có thể tác động như thế nào đến tuyên bố chủ quyền của Việt Nam ? Laurent Gédéon : Bãi Cỏ Rong, nơi Trung Quốc và Philippines vừa đàm phán triển khai thăm dò dầu khí chung, nằm ngoài khu vực chồng lấn chủ quyền của Philippines và Việt Nam tại Trường Sa, do đó dự án này không ảnh hưởng đến tuyên bố chủ quyền của Việt Nam. Đọc thêmBiển Đông: Việt Nam dè dặt với các sáng kiến của Philippines Tuy nhiên, tuyên bố chủ quyền vẫn tồn tại, liên quan đến phía nam Vùng Đặc quyền Kinh tế (EEZ) của Philippines. Vùng biển tranh chấp này sẽ là chủ đề đàm phán tương lai giữa Việt Nam và Philippines. Về tài nguyên dầu khí của Việt Nam, chúng tập trung quanh bãi Tư Chính, nằm ở rìa phía đông nam và nằm ngoài Vùng Đặc quyền Kinh tế của Philippines. Khu vực này, chiếm khoảng 10% nhu cầu năng lượng Việt Nam, lại là tâm điểm căng thẳng, không phải giữa Việt Nam và Philippines, mà là giữa Việt Nam và Trung Quốc. Bắc Kinh thường tuần tra tại đây nhằm đe dọa Việt Nam và làm gián đoạn hoạt động của các công ty dầu khí khai thác trong khu vực. RFI : Trong trường hợp này hoặc trong trường hợp các dự án phát triển chung

    9 min
  2. APR 27

    Mời giáo hoàng Lêô XIV thăm Việt Nam: Một tín hiệu đáng chú ý trong quan hệ Hà Nội - Vatican

    Ngày 11/04/2026, nhân chuyến thăm chính thức Tòa Thánh, chủ tịch Quốc Hội Việt Nam Trần Thanh Mẫn đã chuyển bức thư của tổng bí thư kiêm chủ tịch nước Tô Lâm gởi giáo hoàng Lêô XIV mời ngài đến thăm chính thức Việt Nam “trong thời gian tới”. Theo báo chí Việt Nam, giáo hoàng đã cám ơn lời mời của ông Tô Lâm và bày tỏ mong muốn đến thăm Việt Nam. Phát biểu với chủ tịch Quốc Hội Việt Nam Trần Thanh Mẫn, giáo hoàng Lêô XIV còn cho biết « hai năm trước ngay ở khu vườn này có đặt bức tượng Đức Mẹ La Vang mặc áo dài, mỗi khi nhìn thấy là luôn nhớ tới Việt Nam. » Giáo hoàng sẽ thăm Việt Nam năm 2027? Hiện thời điểm của chuyến tông du chưa được xác định, nhưng theo hãng tin Asianews, quốc vụ khanh Tòa Thánh, hồng y Pietro Parolin dự kiến ​​sẽ sớm đến thăm Việt Nam để thiết lập quan hệ ngoại giao đầy đủ giữa Hà Nội với Tòa Thánh. Chuyến thăm của giáo hoàng Lêô XIV như vậy có thể sẽ diễn ra vào năm 2027, khi ngài dự kiến sẽ công du châu Á vào tháng 8 để dự Ngày Giới trẻ Thế giới tại Seoul.  Thông tin về lời mời giáo hoàng Lêô XIV thăm Việt Nam đã nhanh chóng lan truyền trong cộng đồng Công Giáo, từ rất nhiều năm qua vẫn mong chờ một vị chủ chăn của Giáo hội Công Giáo Hoàn vũ đặt chân đến Việt Nam, nhất là sau khi mọi người đã rất thất vọng không được đón tiếp giáo hoàng Phanxicô trước khi ngài qua đời vào tháng 4 năm ngoái.  Trước đây, cố giáo hoàng Gioan Phaolô II đã từng bày tỏ mong muốn đến thăm Hà Nội, nhưng vào thời ấy, còn quá sớm để thực hiện chuyến thăm này. Sau đó, Hà Nội đã có lời mời thăm chính thức Việt Nam gởi tới giáo hoàng Phanxicô vào tháng 12/2023, vài tháng sau khi hai bên ký kết thỏa thuận mở đường cho sự hiện diện của một đại diện thường trực của Tòa Thánh tại Việt Nam. Bản thân giáo hoàng Phanxicô vào tháng 09/2023 cũng đã từng nói rõ về khả năng đến thăm Hà Nội, khi ngài trở về từ Mông Cổ. Mọi việc tưởng là sẽ diễn ra suôn sẻ: Vào tháng 4/2024, đã có chuyến thăm lịch sử của ngoại trưởng Tòa Thánh tổng giám mục Phaolô Gallagher tới Việt Nam. Cũng trong năm 2024, quốc vụ khanh Tòa Thánh, hồng y Pietro Parolin, dự kiến ​​sẽ đến thăm Việt Nam nhằm chính thức chuyển đổi sang quan hệ ngoại giao đầy đủ giữa Hà Nội và Tòa Thánh, rào cản chính thức cuối cùng vẫn còn cản trở một chuyến thăm của giáo hoàng. Nhưng do bất ổn nội bộ lãnh đạo ở Hà Nội, chuyến thăm của giáo hoàng Phanxicô đã không thể diễn ra. Tuy nhiên, một phái đoàn của chính phủ Việt Nam sau đó đã tham dự cả lễ tang của giáo hoàng Phanxicô và lễ đăng quang của giáo hoàng Lêô XIV.  Với lời mời chính thức của ông Tô Lâm, trong bối cảnh mà nội bộ ban lãnh đạo Việt Nam nay đã ổn định, viễn cảnh một chuyến thăm của giáo hoàng đến Việt Nam đang đến gần hơn bao giờ hết, không còn là câu hỏi “liệu ​​có hay không”, mà ngày càng là câu hỏi “khi nào” và “như thế nào”.  Trả lời RFI Việt ngữ qua điện thoại từ Sài Gòn, linh mục Phêrô Vũ Minh Hưng, cha chánh xứ Giáo xứ Vườn Xoài, thuộc tổng giáo phận Sài Gòn, cho biết:  “Tin này đã được thông báo rộng rãi trên các cái trang web của giáo phận rồi. Đó là niềm mong đợi của giáo dân và tất cả thành phần của Giáo hội Công Giáo Việt Nam. Đây là điều rất đặc biệt, vì giáo hoàng Gioan Phaolô đệ nhị đã ưu ái Việt Nam và bây giờ thì đức Lêô cũng quan tâm đến vấn đề đó. Ngài chứng tỏ rất yêu mến Giáo hội Việt Nam và giáo dân Việt Nam cũng rất yêu mến ngài, cho nên họ cũng rất mong ước sự hiện diện của đức thánh cha sẽ đem lại đức tin mạnh mẽ cho người Công Giáo và rất mong đợi ngày đó. Đức thánh cha đến thăm Việt Nam thì người Công Giáo Việt Nam chắc chắn sẽ kéo nhau đến gặp đức thánh cha. Nếu đức giáo hoàng về đây thì có thể trên 100 ngàn người Công Giáo khắp nơi sẽ đến chào đức thánh cha. Giáo hội có thể cũng đã chuẩn bị từ là nhiều năm rồi. Nếu đức thánh cha đồng ý với lời mời của chủ tịch nước thì có lẽ Giáo hội Việt Nam, Hội đồng Giám mục Việt Nam sẽ định hướng ra một cách đón tiếp đặc biệt. Sự hiện diện của đức thánh cha cần một nơi rộng rãi, chứa được số lớn. Còn về an ninh thì chắc Việt Nam cũng không đến nỗi nào đâu. Trước đây chính quyền cũng nghi ngại, nghi kỵ tôn giáo lắm, cho nên chưa hiểu được đường lối ngoại giao cần thiết của Việt Nam đối với Tòa Thánh thì sẽ nâng lên một tầm mới. Nhưng bây giờ có lẽ họ có một sự hiểu biết nhiều hơn về đức thánh cha và Vatican.” UCANEWS: "Một tín hiệu đáng chú ý" Theo nhận định của hãng tin Công giáo UCANEWS ngày 13/04/2026, “đối với nhiều người Công Giáo Việt Nam, lời mời này không chỉ là một cử chỉ ngoại giao, mà còn là một tín hiệu đáng chú ý sau nhiều năm phát triển quan hệ chậm rãi, từng bước. Lời mời này là một trong số những hành động ngoại giao đáng chú ý đầu tiên của Tô Lâm sau khi ông đảm nhiệm thêm chức vụ chủ tịch nước. Trong một hệ thống chính trị mà đường lối ngoại giao thường rất thận trọng, đi từng bước một, những cử chỉ ban đầu thường mang ý nghĩa quan trọng.” UCANEWS đánh giá những nỗ lực gần đây của Hà Nội nhằm tăng cường quan hệ với Tòa Thánh “cũng có thể được hiểu như một thông điệp rộng hơn gửi đến cộng đồng Công Giáo Việt Nam”. Với hơn 7,5 triệu người, theo số liệu thống kê tính đến ngày 31/12/ 2025, mặc dù chỉ là thiểu số trong một quốc gia nay đã hơn 102 triệu dân, tín hữu Công Giáo ở Việt Nam lại là một trong những cộng đồng tôn giáo gắn kết nhất, với các mạng lưới chặt chẽ được xây dựng xung quanh các giáo xứ, hội đoàn và đời sống tôn giáo chung.  Nhìn về viễn cảnh giáo hoàng Lêô XIV đến thăm Việt Nam, cha chánh xứ Giáo xứ Vườn Xoài Vũ Minh Hùng bày tỏ hy vọng về tương lai của Giáo hội:  “Khi mà chính phủ ngỏ lời mời thì chắc chắn có những điều tốt, đó là muốn cho tiếng nói của Việt Nam với thế giới, rồi tiếng nói Việt Nam với Giáo hội sẽ mở rộng ra nhiều hướng khác nhau. Hiện nay đã có đại diện thường trú ở Việt Nam, nhưng mai mốt sẽ có những trụ sở của ngài nữa. Mong muốn của giáo dân Việt Nam là có văn phòng chính thức của các đại diện Tòa Thánh, đại diện đức thánh cha. Chắc chính quyền cũng mong ước điều đó.  Bây giờ cũng không thấy cản trở gì, nhưng nếu có một quan hệ như vậy thì hai bên sẽ hiểu nhau hơn và có thể là có những điều tốt cho Giáo hội. Mình cũng hy vọng là những cơ sở tôn giáo sẽ được trả lại, tức là nếu mà bình thường hóa thì chắc chắn phải có những tiếng nói của các tổ chức tôn giáo tại Việt Nam, sẽ lấy lại được một số cơ sở của mình mà Nhà nước đang trưng dụng 50 năm nay.” Sắp tới đây, coi như Giáo hội Công Giáo Việt Nam sẽ có một cuộc "tổng diễn tập" cho việc đón tiếp giáo hoàng Lêô XIV, vì theo dự kiến, tại Trung tâm Hành hương Tắc Sậy ( Bạc Liêu ), vào ngày 02/07/2026 sẽ diễn ra Thánh lễ phong Chân phước ( Á Thánh ) cho cha Phanxicô Trương Bửu Diệp, với sự tham dự của cả 100.000 giáo dân từ các nơi. Đây là lần đầu tiên nghi thức tuyên phong Chân phước tổ chức tại Việt Nam và dĩ nhiên việc tổ chức thánh lễ sẽ có sự phối hợp chặt chẽ giữa Giáo hội với chính quyền địa phương. Kinh nghiệm từ sự phối hợp này chắn chắn sẽ hữu ích cho việc đón tiếp giáo hoàng Lêô XIV. Việt Nam - Vatican: Quan hệ tiến triển đều đặn Sau nhiều thăng trầm, quan hệ giữa Việt Nam và Vatican đã đạt được một bước tiến lớn với việc thông qua “Thỏa thuận Quy chế hoạt động của Đại diện thường trú và Văn phòng Đại diện thường trú Tòa Thánh tại Việt Nam”. Thỏa thuận đã được thông qua vào tháng 7/2023 khi chủ tịch nước của Việt Nam vào lúc đó là Võ Văn Thưởng thăm Tòa Thánh và gặp giáo hoàng Phanxicô.  Đến ngày 23/12 năm đó, Tòa Thánh Vatican chính thức công bố việc tổng giám mục Marek Zalewski được giáo hoàng Phanxicô bổ nhiệm làm Đại diện thường trú đầu tiên của Tòa Thánh tại Việt Nam. Tổng giám mục Marek Zalewski nguyên là

    9 min
  3. APR 20

    EU giúp Việt Nam đào tạo nguồn lực chất lượng cao, toàn diện cho chuyển đổi xanh, chuyển đổi số

    Hơn 50 triệu euro được Liên Hiệp Châu Âu đầu tư cho Chương trình Giáo dục Nghề nghiệp Việt Nam (VETVET). Hiệp định được Liên Âu và chính phủ Việt Nam ký ngày 31/12/2025 và kéo dài đến năm 2030 nhằm nâng cao chất lượng đào tạo nghề, xây dựng lực lượng lao động có kỹ năng, đáp ứng yêu cầu của quá trình chuyển đổi xanh, chuyển đổi số tại việt Nam. “Chuyển đổi xanh, chuyển đổi số” được trang Nhân Dân nhấn mạnh “là hai yếu tố căn bản cấu thành một xu thế tất yếu, không thể đảo ngược” của Việt Nam. Tuy nhiên, Việt Nam đang thiếu hụt nguồn nhân lực chuyên môn, có kỹ năng. Chương trình VETVET của Liên Hiệp Châu Âu được bộ trưởng Giáo dục và Đào tạo Nguyễn Kim Sơn đánh giá “sẽ góp phần hiện đại hóa giáo dục nghề nghiệp và đáp ứng tốt hơn nhu cầu của thị trường lao động”. Về phía Liên Hiệp Châu Âu, trả lời phỏng vấn RFI Tiếng Việt ngày 20/01/2026, đại sứ Julien Guerrier cho biết Hiệp định tài trợ cho Chương trình Giáo dục nghề nghiệp Việt Nam-EU đánh dấu một bước tiến quan trọng trong việc tăng cường hợp tác song phương trong lĩnh vực giáo dục và phát triển kỹ năng. Chương trình VETVET cũng sẽ giúp Việt Nam tăng sức hấp dẫn cũng như đáp ứng nhu cầu nhân lực của các nhà đầu tư, đặc biệt là các nhà đầu tư châu Âu, vào Việt Nam. RFI : Một thỏa thuận mới về tài trợ Chương trình Giáo dục Nghề nghiệp (VETVET) đã được Liên Hiệp Châu Âu và Việt Nam đã ký ngày 31/12/2025. Xin Đại sứ cho biết chương trình hợp tác chung giữa Liên Hiệp Châu Âu và Việt Nam về lĩnh vực này được triển khai từ bao giờ và nhằm những mục tiêu nào ? Đại sứ Julien Guerrier : Đối với chúng tôi, chương trình VETVET là một sáng kiến ​​lớn nhằm tăng cường công tác đào tạo và giáo dục tại Việt Nam. Công tác chuẩn bị cho chương trình hợp tác và dự án này bắt đầu từ năm 2023, và chúng tôi ký thỏa thuận tài chính vào cuối năm 2025. Vì vậy, hiện nay chúng tôi đã sẵn sàng triển khai dự án này. Đây là một chương trình với nhiều nhà tài trợ, có tổng ngân sách hơn 50 triệu euro, có thể thấy là rất lớn, được đồng tài trợ bởi Liên Hiệp Châu Âu (40 triệu euro), Đức (10,4 triệu euro) và Pháp (500.000 euro). Chương trình sẽ do Expertise France và đối tác Đức là GIZ thực hiện, phối hợp với Bộ Giáo dục và Đào tạo Việt Nam. Chương trình kéo dài 5 năm, được bắt đầu ngay lập tức và kéo dài tới năm 2030. Mục tiêu của chương trình VETVET là hỗ trợ Việt Nam xây dựng một lĩnh vực giáo dục và đào tạo toàn diện, chất lượng cao và hiện đại, trang bị cho người Việt Nam những kỹ năng cần thiết cho nền kinh tế tương lai, đặc biệt là chuyển đổi số và chuyển đổi xanh. Thông qua chương trình này, chúng tôi sẽ thiết lập một số quan hệ đối tác với các doanh nghiệp. Chúng tôi sẽ nỗ lực tăng cường sức hấp dẫn và tính bền vững của ngành giáo dục và đào tạo tại Việt Nam để có được những kỹ năng về mặt khởi nghiệp và chuyển đổi số, chuyển đổi xanh. Đọc thêmEU và Việt Nam ký kết thỏa thuận chương trình đào tạo nghề trị giá 50 triệu euro RFI : Thỏa thuận mới “nhằm nâng cao chất lượng đào tạo nghề, phát triển nguồn nhân lực kỹ năng cao”. Cụ thể là những ngành nghề nào được chú trọng ? Hoạt động đào tạo sẽ được tiến hành như thế nào ? Tại Việt Nam hay tại các nước thành viên EU tham gia chương trình ? Đại sứ Julien Guerrier : Sự hỗ trợ của Liên Hiệp Châu Âu dành cho đào tạo nghề tại Việt Nam sẽ tập trung vào các lĩnh vực đang thiếu hụt lao động tay nghề cao nhất, như chị đề cập, đặc biệt là trong các lĩnh vực năng lượng tái tạo, công nghệ cao kỹ thuật số, cho các ngành công nghệ cao như bán dẫn, công nghiệp xanh, nông nghiệp bền vững và công nghệ quản lý môi trường và lâm nghiệp. Đó là những lĩnh vực sẽ được chúng tôi tập trung tới. Chúng tôi sẽ hợp tác với khoảng ba mươi trường cao đẳng nghề và doanh nghiệp để giúp chúng tôi phát triển các kỹ năng này, trước hết là bằng cách đào tạo giảng viên, sau đó là đào tạo người Việt Nam trong các lĩnh vực này, trên khắp các vùng miền của Việt Nam, và đôi khi thông qua các chương trình trao đổi tại Liên Hiệp Châu Âu. Cách tiếp cận sẽ rất sát với nhu cầu thực tế, có nghĩa là các doanh nghiệp sẽ cho chúng tôi biết họ thiếu kỹ năng gì và sẽ cần kỹ năng gì trong tương lai, và chúng tôi sẽ có thể đào tạo giảng viên không chỉ ở các trường cao đẳng nghề mà ngay chính trong doanh nghiệp, những người mà sau này có thể tập trung vào việc đào tạo thanh niên trong những lĩnh vực khác nhau. Điều quan trọng đối với chúng tôi là cần bảo đảm sự tiếp cận công bằng và bình đẳng cho thanh niên, bao gồm cả những người đến từ các vùng khó khăn hoặc các dân tộc thiểu số. Do đó, chúng tôi sẽ bảo đảm rằng tài liệu đào tạo và phương pháp giảng dạy được triển khai sẽ phải bao gồm cả các nhóm dân tộc thiểu số, đồng thời thúc đẩy bình đẳng giới và khuyến khích chương trình đào tạo dành cho phụ nữ tại Việt Nam. RFI : Chương trình đào tạo này có thể mang lại lợi ích như thế nào cho hợp tác giữa EU và Việt Nam ? Đại sứ Julien Guerrier : Đối với Việt Nam, điều này rất rõ ràng, Việt Nam sẽ có nhiều kỹ năng hơn, một lĩnh vực đào tạo nghề hiện đại hơn rất nhiều, hiệu quả và chất lượng cao hơn để đào tạo giới trẻ cho các doanh nghiệp tương lai. Việc này cũng rất cần thiết đối với Liên Hiệp Châu Âu. Thứ nhất, bởi vì đó là một phần trong các chương trình của Liên Âu để đóng góp vào hành động chống biến đổi khí hậu trên toàn thế giới. Ngoài ra cũng bởi vì chúng tôi có rất nhiều nhà đầu tư tại Việt Nam. Chúng tôi có Hiệp định Thương mại Tự do và Hiệp định Đầu tư với Việt Nam. Vì vậy nhiều nhà đầu tư châu Âu đến đây, đầu tư vào các lĩnh vực mà chúng tôi có lợi thế cạnh tranh, cụ thể là các lĩnh vực xanh, bền vững và công nghệ số cao. Và đó là những lĩnh vực cần những kỹ năng này. Vì vậy, chúng tôi sẽ phải đào tạo nguồn nhân lực sau này có thể làm việc cho các công ty của chúng tôi đầu tư vào Việt Nam trong những lĩnh vực này. Đọc thêmViện trợ phát triển: Liên Âu dự trù 300 tỷ euro làm đối trọng với Trung Quốc RFI : Để “đáp ứng yêu cầu chuyển đổi xanh và chuyển đổi số tại Việt Nam”, Việt Nam cần nguồn nhân lực kỹ năng cao như thế nào ? Tình hình này có khẩn cấp không ? Đại sứ Julien Guerrier : Có, bởi vì đất nước đang chuyển mình rất, rất nhanh. Việt Nam đặt mục tiêu trung hòa carbon vào năm 2050, giống như Liên Hiệp Châu Âu. Việt Nam cũng khao khát đi đầu trong quá trình chuyển đổi số. Đối với chuyển đổi xanh, sẽ cần các kỹ sư năng lượng tái tạo, kỹ thuật viên, chuyên gia về biến đổi khí hậu, kỹ thuật viên khoa học môi trường và công nhân lành nghề trong các hoạt động nông nghiệp bền vững, ví dụ canh tác lúa phát thải thấp, cũng như trong ngành công nghiệp gỗ và quản lý rừng. Về chuyển đổi số, rất cần các kỹ sư và kỹ thuật viên trong các lĩnh vực điện tử, cơ điện tử và công nghệ thông tin. Ngoài ra cũng cần các chuyên gia về tự động hóa quy trình công nghiệp, robot và các lĩnh vực công nghệ cao khác, đặc biệt là chất bán dẫn, một lĩnh vực mà Việt Nam đang đặt mục tiêu phát triển nhanh chóng. Có thể thấy là có khá nhiều lĩnh vực kỹ thuật cần những con người có thể sử dụng phần mềm mới nhất, tích hợp các giải pháp số vào các ngành công nghiệp truyền thống hơn, và sử dụng tối ưu nguồn năng lượng hiện có. Đó là những kỹ sư trong lĩnh vực năng lượng tái tạo, lĩnh vực số hóa, cũng như trong mọi ngành công nghiệp ở Việt Nam, để tích hợp những công nghệ này vào các ngành công nghiệp truyền thống hơn. RFI : Chương trình VETVET có tương ứng và đáp ứng với kế hoạch 5 năm được đề ra trong Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ XIV ? Đại sứ Julien Guerrier : Hoàn toàn đúng vậy. Tôi đã tham dự lễ khai mạc Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam sáng 20/01. Đại hội quyết định việc bổ nhiệm lãnh đạo cho 5 năm tới

    9 min
  4. APR 13

    Trung Quốc xây tiền đồn mới ở Hoàng Sa và phản ứng chậm trễ của Việt Nam

    Đầu tháng 1/2026, tuần báo Mỹ Newsweek tiết lộ Trung Quốc đang xây dựng một tiền đồn mới trên Đá Hải Sâm ( Antelope Reef ), một bãi cạn thuộc quần đảo Hoàng Sa, mà Việt Nam và Trung Quốc vẫn tranh chấp chủ quyền. Ảnh vệ tinh Sentinel-2 của Cơ quan Không gian châu Âu cho thấy hoạt động nạo vét và xây dựng đảo nhân tạo tại bãi đá này đã bắt đầu từ giữa tháng 10/2025.  Trong một báo cáo đề ngày 19/03/2026, tổ chức Sáng kiến Minh bạch Hàng hải châu Á ( AMTI ) nhận định đây là dự án xây dựng đảo nhân tạo quy mô lớn đầu tiên mà Bắc Kinh thực hiện ở Biển Đông kể từ năm 2017. Theo AMTI, nếu việc xây dựng tiếp tục với tốc độ như được thể hiện trong ảnh vệ tinh, Đá Hải Sâm sẽ trở thành thực thể lớn nhất của Trung Quốc ở quần đảo Hoàng Sa và có thể sẽ là thực thể lớn nhất trên toàn bộ Biển Đông, ngang bằng, hoặc thậm chí vượt qua kích thước của Đá Vành Khăn ( Mischief Reef ) ở quần đảo Trường Sa.  Đá Hải Sâm thuộc nhóm đảo Lưỡi Liềm ở phía tây nam của quần đảo Hoàng Sa, nằm cách cảng Tam Á ở tỉnh Hải Nam, Trung Quốc khoảng 300 km và cách Đà Nẵng, Việt Nam khoảng 400 km, trước đây là một trong những tiền đồn nhỏ nhất của Trung Quốc ở quần đảo Hoàng Sa. Bắc Kinh đã bắt đầu hoạt động nạo vét quy mô lớn tại Hải Sâm vào tháng 10 năm 2025 và trong những tuần gần đây đã bắt đầu xây dựng sơ bộ trên một số khu vực của rạn san hô. Trả lời RFI Việt ngữ ngày 01/04/2026, nhà nghiên cứu về Biển Đông Hoàng Việt ghi nhận:  "Đá Hải Sâm thì bắt đầu từ khoảng tháng 12/2025 mới rõ tầm vóc xây dựng, có lẽ đã gần bằng đảo Phú Lâm, đảo trung tâm mà Trung Quốc đã xây dựng. Và như vậy có khả năng sau này Hải Sâm sẽ là thực thể lớn nhất của Trung Quốc chăng? Chúng ta biết Hoàng Sa là quần đảo tranh chấp giữa Trung Quốc và Việt Nam, nhưng Trung Quốc đã chiếm toàn bộ rồi. Cho nên hiện nay Trung Quốc muốn xây gì thì cũng không ai làm gì được. Các quốc gia, trong đó có Việt Nam, chỉ đứng ngoài quan sát thôi. Việt Nam mới đây cũng đã có phản đối.  Cách đây khoảng 10 năm, năm 2015, Trung Quốc đã tuyên bố không xây dựng nữa. Nhưng cuối năm 2025 lại xây dựng. Vấn đề quan trọng là Trung Quốc muốn khẳng định vai trò của mình. Trung Quốc vẫn cho rằng Tây Sa ( Hoàng Sa ) là của Trung Quốc, không có tranh chấp gì cả. Nhưng điều này là không đúng, bởi vì Việt Nam có đầy đủ bằng chứng lịch sử, pháp lý để khẳng định chủ quyền của mình trên Hoàng Sa." Sử dụng ảnh vệ tinh thương mại gần đây từ công ty Vantor của Mỹ, AMTI đã ước tính diện tích đất lấn biển tại Đá Hải Sâm là vào khoảng 603 hectare. Con số này rất đáng chú ý khi so sánh với quy mô các thực thể của Trung Quốc ở quần đảo Hoàng Sa. Thực thể lớn nhất hiện nay trong khu vực là đảo Phú Lâm. Mặc dù có căn cứ không quân và hải quân cùng với "thành phố" Tam Sa quản lý toàn bộ Biển Đông, đảo này chỉ rộng khoảng 360 hecta. Đá Vành Khăn, tiền đồn lớn nhất của Trung Quốc ở Biển Đông, có tổng diện tích đất là khoảng 608 hectare, khác biệt không đáng kể so với diện tích hiện tại của Đá Hải Sâm. Đá Hải Sâm giờ đây có thể chứa được một đường băng dài khoảng 2.700 mét, thuộc loại mà Trung Quốc đã xây dựng tại đảo Phú Lâm, Đá Vành Khăn, Đá Subi và Đá Chữ Thập ( Fiery Cross ). Phía tây bắc của vùng đất mới tại Đá Hải Sâm, trải dài hơn khoảng 3.200 mét, được tạo hình với một cạnh ngoài thẳng tắp rõ rệt, rất phù hợp cho một đường băng.  Cũng theo AMTI, mặc dù một số đảo thuộc nhóm đảo Lưỡi Liềm có hải cảng, nhưng cảng tại Đá Hải Sâm sẽ lớn hơn nhiều và như vậy lực lượng Hải cảnh cùng với một lượng lớn dân quân biển của Trung Quốc có thể duy trì sự hiện diện tại đây, như ở Đá Vành Khăn trong những năm gần đây. Với kích thước như hiện nay, Đá Hải Sâm cũng có thể được xây dựng những cơ sở hạ tầng quy mô giống như ở Phú Lâm và ba tiền đồn lớn của Trung Quốc (Đá Vành Khăn, Đá Subi và Đá Chữ Thập) ở quần đảo Trường Sa, bao gồm các nhà máy điện diesel, các kho chứa ngầm, các vị trí phòng thủ bờ biển, các cơ sở tên lửa địa đối không và tên lửa chống hạm, cũng như nhiều cơ sở giám sát và tác chiến điện tử.  Công tác xây dựng sơ bộ đã bắt đầu ở một số khu vực của rạn san hô. Hơn 50 công trình nhỏ mái xám và một bãi đáp trực thăng đã được xây dựng. Có khả năng ít nhất một số công trình ban đầu này là các cơ sở tạm thời, sau này sẽ được thay thế bằng cơ sở hạ tầng kiên cố hơn, như đã thấy trong quá trình xây dựng các tiền đồn của Trung Quốc ở quần đảo Trường Sa.  Theo AMTI, nếu được phát triển thành một cơ sở quân sự ngang tầm với các tiền đồn lớn khác của Trung Quốc, Đá Hải Sâm sẽ giúp mở rộng phạm vi hoạt động của các cơ quan tình báo Trung Quốc đến gần bờ biển Việt Nam hơn và cung cấp thêm năng lực cho các lực lượng hải quân và không quân của Trung Quốc ở phía bắc Biển Đông. Vị trí gần Hải Nam của Đá Hải Sâm cũng có thể mang lại cho Bắc Kinh cơ hội mở rộng nỗ lực thiết lập sự hiện diện dân sự ở quần đảo Hoàng Sa.  Mặc dù điều này có thể không làm thay đổi đáng kể toàn cảnh chiến lược ở Biển Đông, nhưng Bắc Kinh chắc chắn đang phát tín hiệu về khả năng liên tục mở rộng các thực thể mà họ chiếm đóng, một thông điệp có lẽ nhắm trực tiếp nhất vào Hà Nội, vì các hoạt động bồi đắp đảo của Việt Nam ở quần đảo Trường Sa vẫn đang tiếp diễn.  Về điểm này, nhà nghiên cứu Hoàng Việt nhận định:  "Năm ngoái báo chí nước ngoài cho rằng Việt Nam bồi lấp rất mạnh trên quần đảo Trường Sa của Việt Nam. Báo Mỹ cho biết Việt Nam đã bồi lấp khoảng 70% so với Trung Quốc. Trung Quốc cũng có phản đối nhưng cũng không căng thẳng lắm. Trung Quốc lần này muốn gia tăng xây dựng trên Đá Hải Sơn để khẳng định chủ quyền của mình, cũng như khẳng định Trung Quốc vẫn là mạnh nhất và không ai có thể ngăn chặn được Trung Quốc. Đương nhiên các quốc gia khác cho rằng Trung Quốc vẫn vi phạm luật pháp quốc tế, nhưng rõ ràng trong trường hợp này Trung Quốc vẫn đang thể hiện sức mạnh của mình, đặc biệt là đối với quần đảo Hoàng Sa. Trung Quốc đã nắm quần đảo Hoàng Sa rồi và bây giờ họ xây mạnh lên thì rõ ràng là nó giống như một pháo đài, một chiến hạm không bị chìm trên biển. Và điều này đem lại cho họ rất nhiều lợi ích. Phía Việt Nam có bồi lấp nhưng mà không thể bằng Trung Quốc. Trong thời gian qua, Trung Quốc không những bồi lấp mà còn quân sự hóa các thực thể đó." Nhưng điều đáng chú ý là mặc dù thông tin về việc Trung Quốc gia tăng bồi lắp Đá Hải Sâm đã được tờ Newsweek tiết lộ từ tháng 1, nhưng trong suốt mấy tháng, Hà Nội vẫn im tiếng. Mãi cho đến ngày 21/03/2026, khi trả lời câu hỏi của phóng viên nhật báo Hồng Kông South China Morning Post, phát ngôn viên bộ Ngoại Giao Việt Nam Phạm Thu Hằng mới ra tuyên bố, nhắc lại là Việt Nam “có đầy đủ chứng cứ lịch sử và cơ sở pháp lý để khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa”, cho nên “mọi hoạt động của nước ngoài tại quần đảo Hoàng Sa, trong đó có đá Hải Sâm, mà không được sự cho phép của phía Việt Nam là hoàn toàn phi pháp và vô giá trị”. Đáp lại phát biểu nói trên của phát ngôn viên bộ Ngoại Giao Việt Nam, ngày 23/03, Bắc Kinh khẳng định các hoạt động xây dựng tại quần đảo Hoàng Sa chỉ nhằm mục đích “cải thiện điều kiện sống và thúc đẩy kinh tế địa phương”. Phát ngôn viên bộ Ngoại Giao Trung Quốc tuyên bố: “Quần đảo Tây Sa ( Hoàng Sa ) là một phần lãnh thổ không thể tách rời của Trung Quốc và không có tranh chấp nào về điều đó”.  Bối cảnh hiện nay, với cuộc chiến tranh Iran, có vẻ thuận lợi để Trung Quốc gia tăng bồi lấp đảo ở  Hoàng Sa, vì những cường quốc như Hoa Kỳ hay Nhật Bản, vốn vẫn mạnh mẽ chỉ trích những hoạt động bành trướng của Bắc Kinh ở Biển Đông, đều đang có những vấn đề lớn cần giải quyết, theo ghi nhận của nh

    9 min
  5. APR 6

    Khủng hoảng dầu lửa Trung Đông tạo thuận lợi cho Việt - Nga thúc đẩy hợp tác năng lượng

    Xung đột ở Trung Đông dẫn đến cuộc khủng hoảng dầu lửa toàn cầu cho thấy hạn chế tại nhiều nước, trong đó có Việt Nam. Các kho dự trữ, nằm trong tay những đối tác tư nhân, chỉ có thể cung cấp dầu lửa đến hết tháng 04/2026. Nhiều chuyến bay nội địa bị cắt giảm vì thiếu xăng. Việt Nam phụ thuộc rất nhiều vào các nguồn nhập khẩu dầu mỏ, do sản lượng trong nước sụt giảm vì các mỏ dầu ngoài khơi đang cạn dần sau thời gian dài khai thác. Trong khi đó, việc đa dạng hóa các nguồn năng lượng chưa hoàn toàn mang lại hiệu quả. Cuộc khủng hoảng này cũng cho thấy Việt Nam cần thiết lập hệ thống dự trữ nhiên liệu chiến lược quốc gia, theo trang Nhân Dân. Ngày 29/03, thủ tướng Phạm Minh Chính đã tới khảo sát địa điểm dự kiến xây dựng kho dự trữ xăng dầu chiến lược tại Khu kinh tế Nghi Sơn. Song song với nhiệm vụ cấp bách đó, Hà Nội vẫn đang “làm việc với Iran để đề nghị tạo điều kiện, có biện pháp hỗ trợ bảo đảm cho tàu, lao động Việt Nam di chuyển an toàn qua eo biển Hormuz”, theo phát biểu của người phát ngôn bộ Ngoại Giao Phạm Thu Hằng trong buổi họp báo thường kỳ ngày 02/04. Ngoài ra, chính phủ cũng khẩn trương triển khai “ngoại giao xăng dầu” với nhiều nước. Ví dụ đề xuất với Tokyo để được tiếp cận kho dự trữ chiến lược của Nhật Bản, đề nghị Trung Quốc xuất khẩu một phần xăng máy bay. Gần đây, trong chuyến công du Matxcơva, thủ tướng Phạm Minh Chính cũng đề nghị được mua dầu của Nga, cũng như tăng cường hợp tác trong lĩnh vực điện hạt nhân, năng lượng tái tạo. Việc hợp tác với Nga, đang bị phương Tây trừng phạt vì gây chiến ở Ukraina, có thể sẽ được tiến hành như thế nào ? Nga sẽ đóng vai trò như thế nào trong việc đa dạng hóa nguồn năng lượng của Việt Nam ? Tiến sĩ Vũ Khang, học giả thỉnh giảng, tại khoa Khoa học Chính trị, Đại học Boston, Mỹ, trả lời một số câu hỏi của RFI Tiếng Việt. RFI : Trước tiên, anh có thể tóm lược mối quan hệ hợp tác năng lượng giữa hai nước Việt Nam và Nga, gần đây là cam kết hợp tác phát triển điện hạt nhân, được ký vào ngày 23/03/2026 nhân chuyến công du Matxcơva của thủ tướng Phạm Minh Chính ? Vì sao có thể hợp tác được trong lĩnh vực điện hạt nhân mà không lo các biện pháp trừng phạt của phương Tây ? Vũ Khang : Khi kể đến quan hệ hợp tác năng lượng Việt Nam và Nga, chúng ta không thể không nhắc đến Vietsovpetro. Xí nghiệp này được thành lập từ năm 1981 với mục đích là giúp Việt Nam tiến hành thăm dò địa chất và khai thác dầu khí tại thềm lục địa phía Nam. Cần phải nhắc lại 1981 là giai đoạn mà Việt Nam và Liên Xô là đồng minh quân sự của nhau theo Hiệp ước Hữu nghị và Hợp tác ký vào năm 1978. Việt Nam đã tranh thủ mối quan hệ đó để phát triển và đảm bảo an ninh năng lượng của mình. Và kể cả sau khi Liên Xô tan rã vào năm 1991, Việt Nam vẫn duy trì xí nghiệp liên doanh này với Nga và các nước trong Cộng đồng các quốc gia độc lập SNG. Và chính nhờ có xí nghiệp liên doanh này mà từ con số 0, hiện giờ Việt Nam đang sở hữu hệ thống căn cứ dịch vụ dầu khí tổng hợp phục vụ cho các khâu, chuỗi hoạt động tìm kiếm, thăm dò và khai thác dầu khí ngoài khơi khá là toàn diện. Đây cũng là một cách mà Việt Nam bảo vệ và khẳng định chủ quyền của mình trên Biển Đông. Ngoài ra, hàng năm, liên doanh Vietsovpetro đóng vào ngân sách nhà nước và lợi nhuận cho Việt Nam khoảng 53 tỷ đô la. Đây là một khoản khá là lớn cho ngân sách của nhà nước Việt Nam nếu chúng ta tính GDP Việt Nam rơi vào khoảng 500 tỷ đô một năm. Đây là một nền tảng khá là vững chắc từ ngoại giao cho đến kỹ thuật để Việt Nam và Nga có thể tiến tới hợp tác ở các mảng khác trong hợp tác năng lượng. Đọc thêmViệt Nam và Nga “rửa tiền” mua vũ khí qua thỏa thuận dầu khí với VietSovPetro ? Nếu mà nói rộng hơn về thỏa thuận hợp tác về hạt nhân gần đây thì Nga, với tư cách là một trong năm nước được phép sở hữu vũ khí hạt nhân theo Hiệp ước không phổ biến vũ khí hạt nhân NPT, có thể giúp đỡ Việt Nam nghiên cứu và sử dụng năng lượng hạt nhân vì mục đích dân sự theo như các điều khoản của Hiệp ước này. Kết quả chuyến thăm Nga của thủ tướng Phạm Minh Chính cho thấy hợp tác Việt - Nga sẽ không chỉ dừng lại ở phát triển năng lượng hạt nhân mà còn bao gồm cả năng lượng mới, năng lượng sạch và năng lượng tái tạo với tầm nhìn hơn 100 năm.  RFI : Việt Nam đề nghị mua thêm dầu của Nga trong bối cảnh căng thẳng ở Trung Đông vì eo biển Hormuz bị Iran kiểm soát và phong tỏa. Liệu đây có phải là thời cơ tốt để mua dầu Nga mà không bị ảnh hưởng nhiều bởi các biện pháp trừng phạt của phương Tây đối với Nga ?  Vũ Khang : Để giảm thiểu tác động của việc đóng cửa vịnh Hormuz do chiến tranh Mỹ và Iran, Hoa Kỳ đã dỡ bỏ các lệnh trừng phạt mua dầu của Nga trong 30 ngày. Điều này sẽ tạo điều điều kiện thuận lợi để Việt Nam mua được dầu của Nga mà không bị trừng phạt. Tuy vậy, hạn chế của lệnh dỡ bỏ này là chỉ có dầu của Nga đã được chất lên các tàu chở dầu thì mới không bị trừng phạt. Cho nên Việt Nam sẽ phải tiếp tục theo dõi tình hình từ phía Mỹ, cũng như là chiến tranh Mỹ và Iran sẽ kết thúc như thế nào. Đọc thêmTăng cường hợp tác năng lượng : Mục tiêu chính chuyến công du Nga của thủ tướng Việt Nam Một điểm hạn chế nữa khi mua dầu từ Nga, đó là đường vận chuyển khá là dài so với mua từ Trung Đông. Việt Nam mới chỉ đảm bảo được cho cung ứng dầu từ giờ cho đến hết tháng 04, có thể nói sẽ vẫn còn rất khó để chắc chắn là Việt Nam sẽ giải quyết ra sao nguồn cung dầu kể từ tháng 05 trở đi. RFI : Tương tự như nhiều nước trên thế giới, dầu lửa là nhiên liệu thiết yếu cho sản xuất. Việt Nam cần dầu nhập khẩu như nào để phát triển sản xuất ?  Vũ Khang : Hiện nay, Việt Nam phải nhập khẩu khoảng 30% lượng xăng dầu, tương đương với 20 tỷ đô la mỗi năm, để đáp ứng các nhu cầu tiêu thụ trong nước. Cuộc khủng hoảng dầu mỏ lần này chính là một phép thử cho khả năng chịu áp lực cho an ninh năng lượng của Việt Nam. Việt Nam, với khả năng của mình, đã tận dụng chính sách ngoại giao đa phương hóa, đa dạng hóa để thứ nhất, giữ trung lập trong cuộc chiến Mỹ và Iran ; thứ hai, tìm nguồn cung ứng dầu thô từ Kuwait và Nhật Bản, cũng như với các chuỗi chính sách khác trong nước, ví dụ dỡ bỏ thuế đối với xăng dầu tiêu thụ cho đến hết tháng 06 để tránh cho kinh tế Việt Nam rơi vào khủng hoảng. Đọc thêmViệt Nam thúc đẩy phát triển năng lượng tái tạo để bảo đảm sản xuất và trung hòa khí thải Việt Nam cũng sẽ phát triển kho dự trữ xăng dầu quốc gia riêng biệt tại tỉnh Thanh Hóa khi mà dự trữ hiện nay từ các doanh nghiệp dầu hỏa đầu mối của Việt Nam mới chỉ đủ cho 7 đến 10 ngày tiêu thụ. Nếu nhìn rộng hơn, giá xăng dầu cao cũng sẽ có tác động lớn đến các mặt hàng, hoặc những chính sách kinh tế khác của Việt Nam, vì xăng dầu tăng cao thì sẽ đẩy mạnh lạm phát, cũng như là đẩy mạnh giá trị của đô la. Trong khi đó Việt Nam hiện vẫn phải mua dầu quốc tế bằng đồng đô la, tỷ giá đô la tăng vọt cũng sẽ khiến cho các doanh nghiệp nhập khẩu nguyên liệu từ nước ngoài sản xuất và doanh nghiệp xuất khẩu gặp khó khăn nhiều hơn nữa trong tương lai gần. RFI : Nhìn rộng hơn, Việt Nam cần phải phát triển, đa dạng hóa nguồn năng lượng như thế nào để bảo đảm cho nhu cầu tiêu thụ trong nước và cho sản xuất ? Vũ Khang : Phát triển an ninh năng lượng là vấn đề sống còn với mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa của Việt Nam. Hiện nay, Việt Nam phải cân bằng giữa hai mục tiêu : vừa tăng trưởng GDP và vừa phải giảm khí thải carbon. Theo dữ liệu hiện nay, điện than đang chiếm tỷ trọng trên 33%, thủy điện 28%, năng lượng tái tạo - bao gồm năng lượng Mặt trời và năng lượng gió - khoảng 27%. Do Việt Nam phải dần dần từ bỏ điện than từ nay cho đến năm 2050 theo cam kết tại COP 26, nên Việt Nam bắt buộc phải tìm được

    10 min
  6. MAR 30

    Liên Hiệp Châu Âu đưa Việt Nam vào “danh sách đen” thuế vì vấn đề minh bạch

    Ngày 17/02/2026, Việt Nam bị Liên Hiệp Châu Âu đưa vào “danh sách đen” thuế. Quyết định này có thể khiến chi phí đầu tư từ các doanh nghiệp châu Âu gia tăng. Tuy nhiên, tác động lâu dài tới quan hệ kinh tế Việt Nam - Liên Âu sẽ được hạn chế nếu Hà Nội cải thiện minh bạch và cơ chế trao đổi thông tin thuế. Việt Nam cũng khẳng định đã bổ sung nhiều văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực thuế, tài chính, quản trị doanh nghiệp. Tại sao Việt Nam lại bị đưa vào “danh sách đen” về thuế của Liên Âu, hiện có 10 nước, chủ yếu nằm ở vùng Caribê, Thái Bình Dương và cả Nga ? Danh sách được cập nhật hai lần một năm. Lần sửa đổi tiếp theo dự kiến ​​vào tháng 10/2026. Việt Nam cần có những biện pháp gì để có thể được rút ra khỏi danh sách trong lần cập nhất tới ? Nhà nghiên cứu-giảng viên Sébastien Laffitte, Đại học Cergy Paris (CY Cergy Paris Université), chuyên gia về thuế quốc tế, thuế doanh nghiệp và các thiên đường thuế, kiêm thành viên của Tổ chức Quan sát Thuế Châu Âu (EU Tax Observatory), trả lời một số câu hỏi của RFI Tiếng Việt. RFI : Tháng 02/2026, Việt Nam bị đưa vào danh sách “thiên đường thuế” của Liên Hiệp Châu Âu. Dựa vào nhưng tiêu chí nào Liên Hiệp Châu Âu đưa một nước vào danh sách này ? Sébastien Laffitte : Có lẽ trước hết cần nói rõ rằng danh sách của Liên Hiệp Châu Âu không hoàn toàn là danh sách “thiên đường thuế”, mà đúng hơn là danh sách các quốc gia không hợp tác với Liên Hiệp Châu Âu trong các vấn đề liên quan đến thuế. Sự khác biệt chính nằm ở chỗ danh sách này chủ yếu là một công cụ ngoại giao kinh tế mà Liên Hiệp Châu Âu sử dụng để đàm phán với các nước thứ ba, nhằm thúc đẩy họ điều chỉnh chính sách thuế theo một hướng nhất định. Nếu các quốc gia đó không tuân thủ các tiêu chí của Liên Hiệp Châu Âu, họ có thể phải đối mặt với các biện pháp trừng phạt. Tất cả những điều này nhằm thúc đẩy một mô hình quản trị thuế minh bạch và hiệu quả hơn. Đọc thêmLiên Âu hy vọng Việt Nam thực hiện triệt để cải cách hành chính để gia tăng hấp dẫn đối với đầu tư châu Âu Danh sách này được thiết lập từ năm 2017 và hiện bao gồm 10 quốc gia. Các quốc gia nằm trong “danh sách đen” thường là những hòn đảo nhỏ ở vùng biển Caribê hoặc Thái Bình Dương. Tuy nhiên, trong danh sách này cũng có những quốc gia lớn hơn, chẳng hạn như Nga, và gần đây nhất là Việt Nam. Các tiêu chí được sử dụng để xác định việc đưa một quốc gia vào “danh sách đen” bao gồm mức độ minh bạch về thuế, tính công bằng của hệ thống thuế - tức là không tồn tại các cơ chế thuế khuyến khích hành vi trốn thuế một cách rõ ràng - cũng như việc triển khai các biện pháp chống trốn thuế. Trong số các tiêu chí này có một yêu cầu quan trọng liên quan đến việc quốc gia đó phải tuân thủ các tiêu chuẩn về trao đổi thông tin thuế theo yêu cầu của các nước khác. Chính dựa trên tiêu chí này mà Việt Nam bị đưa vào “danh sách đen” của Liên Hiệp Châu Âu, đặc biệt do còn thiếu các biện pháp bảo vệ tính bảo mật của thông tin, cũng như do thời gian mà cơ quan thuế Việt Nam cần để cung cấp thông tin thuế theo yêu cầu từ các nước thứ ba. Vì vậy, việc Việt Nam gần đây bị đưa vào danh sách này chủ yếu xuất phát từ vấn đề minh bạch thuế. RFI : Vậy quốc gia bị nhắm đến, ví dụ trong trường hợp này là Việt Nam, sẽ phải đối mặt với những hậu quả như thế nào ? Sébastien Laffitte : Cụ thể, Ủy Ban Châu Âu yêu cầu các quốc gia thành viên Liên Hiệp Châu Âu áp dụng một loạt biện pháp trừng phạt đối với những quốc gia nằm trong danh sách các nước không hợp tác về thuế. Ngoài ra, các nước thành viên cũng có thể triển khai những biện pháp trừng phạt riêng trong khuôn khổ luật pháp quốc gia của họ. Trước hết, một số biện pháp tối thiểu sẽ được áp dụng chung, sau đó từng quốc gia thành viên có quyền lựa chọn và thực hiện các biện pháp bổ sung mà họ cho là phù hợp. Đọc thêmEU-Việt Nam vượt bão thuế quan Mỹ qua Hiệp định Thương mại Tự do EVFTA ? Nhìn chung, các biện pháp này nhằm tăng cường tính minh bạch và mức độ cảnh giác đối với các quốc gia nằm trong “danh sách đen”. Trước hết, một số quỹ viện trợ phát triển của Liên Hiệp Châu Âu sẽ không được phân bổ cho các quốc gia trong danh sách này. Thứ hai, các nước thành viên được yêu cầu áp dụng các biện pháp hành chính, bao gồm việc giám sát chặt chẽ hơn các giao dịch của công dân châu Âu - chẳng hạn như công dân Pháp - với các quốc gia trong “danh sách đen”, cũng như tăng cường kiểm toán thuế đối với các thực thể, tức là cá nhân hoặc doanh nghiệp, có liên hệ với những quốc gia này. Bên cạnh đó, các quốc gia thành viên Liên Âu cũng được khuyến nghị áp dụng các biện pháp lập pháp nhằm chống trốn thuế, chẳng hạn như khấu trừ thuế tại nguồn hoặc áp dụng các khoản thuế bổ sung đối với các giao dịch tài chính với những nước trong danh sách, trong đó có Việt Nam. Tóm lại, việc bị đưa vào danh sách này đồng nghĩa với việc phải đối mặt với một loạt biện pháp trừng phạt kinh tế do các quốc gia thuộc Liên Hiệp Châu Âu áp đặt. RFI : Giữa Liên Hiệp Châu Âu và Việt Nam có Hiệp định Thương mại Tự do (EVFTA), có hiệu lực từ ngày 01/08/2020 và hiệp định bảo hộ đầu tư vẫn đang chờ được các nước Liên Âu phê chuẩn. Việc nằm trong “danh sách đen” sẽ tác động như thế nào đến các nhà đầu tư nước ngoài, đặc biệt là các nhà đầu tư châu Âu, tại Việt Nam ? Sébastien Laffitte : Đây là một câu hỏi quan trọng. Mục đích của các biện pháp này là khiến các thực thể đến từ Liên Hiệp Châu Âu - đặc biệt là các doanh nghiệp đầu tư vào Việt Nam - phải tuân thủ những quy định bổ sung, từ đó làm gia tăng chi phí khi đầu tư vào Việt Nam. Đó cũng chính là mục tiêu mà Liên Hiệp Châu Âu hướng tới. Thông qua “danh sách đen”, cùng với hiệu ứng “chỉ đích danh và lên án” (name and shame), Liên Âu gây sức ép để buộc các quốc gia bị xem là có chính sách thuế thiếu hợp tác hoặc cạnh tranh thuế quá mức phải điều chỉnh chính sách của họ để xóa bỏ hình ảnh tiêu cực này. Đồng thời, các biện pháp trừng phạt cũng nhắm tới các cá nhân và doanh nghiệp hoạt động tại những quốc gia đó nhằm hạn chế các hành vi cạnh tranh thuế gay gắt. Đọc thêmLuật sư Pháp và châu Âu tư vấn cho Việt Nam về EVFTA Tuy nhiên, Việt Nam là một nền kinh tế đang phát triển và không bị đưa vào danh sách vì các hành vi trốn thuế bất chính, mà chủ yếu do những vấn đề liên quan đến việc trao đổi thông tin thuế. Vì vậy, theo quan điểm của tôi, nhiều khả năng Việt Nam sẽ nhanh chóng khắc phục tình hình. Đây cũng là điều mà các đại diện của Việt Nam đã khẳng định trong các thông cáo báo chí được đưa ra sau thông báo của Liên Hiệp Châu Âu. Trong bối cảnh đó, những tác động tiêu cực có thể sẽ được hạn chế. Theo tôi, quan hệ kinh tế với Việt Nam nhiều khả năng sẽ không bị ảnh hưởng đáng kể, đặc biệt vì Việt Nam có vị thế kinh tế và cơ cấu rất khác so với phần lớn các nước còn lại trong danh sách - ngoại trừ Nga - vốn chủ yếu là những quốc đảo nhỏ ở khu vực Thái Bình Dương hoặc Caribê. Cuối cùng, theo quan điểm của tôi, “danh sách đen” của Liên Hiệp Châu Âu về các “thiên đường thuế” nên tập trung nhiều hơn vào những tiêu chí cụ thể liên quan đến nguy cơ trốn thuế và cạnh tranh thuế gay gắt, như tôi đã đề xuất trong các nghiên cứu của mình. RFI : Như ông vừa đề cập, một trong những tác động đầu tiên của các biện pháp trừng phạt là làm gia tăng chi phí đầu tư. Cụ thể, điều này có nghĩa là gì ? Sébastien Laffitte : Nói một cách đơn giản, khi một nhà đầu tư nước ngoài - chẳng hạn từ Pháp - đầu tư vào Việt Nam, giữa hai bên sẽ phát sinh nhiều giao dịch tài chính và kinh doanh. Khi một quốc gia bị đưa vào “danh sách đen”, các biện pháp trừng phạt có thể được áp dụng đối với những giao dịch này. Chẳng hạn, các cơ quan thuế có thể áp dụng các khoản thuế bổ sun

    9 min
  7. MAR 23

    Chiến tranh Trung Đông làm xáo trộn du lịch Việt Nam

    Như mọi năm, Hội chợ Du lịch Thế giới vừa diễn ra tại Paris từ 12/03 đến ngày 15/03/2026, đúng vào lúc chiến tranh giữa Mỹ, Israel với Iran vẫn còn rất ác liệt, không biết bao giờ mới kết thúc. Chiến sự Trung Đông đang gây xáo trộn cho du lịch thế giới nói chung và du lịch Việt Nam nói riêng.  Bình thường Hội chợ thu hút rất đông đảo khách, đa số là người dân vùng Paris, đến đây để tìm hiểu thông tin cho các chuyến du lịch sắp tới, nhất là cho mùa hè. Tại Hội chợ Du lịch 2026, châu Á chiếm một khu rất lớn, quy tụ những quốc gia vốn là các điểm đến ưa thích của khách Pháp: Hàn Quốc, Nhật Bản, Trung Quốc, Thái Lan và nhất là Việt Nam. Năm nay tại Hội chợ có hai công ty Việt Nam đến quảng bá cho du lịch Việt Nam đó là Qasia Travel và Vietnam Original Travel, cả hai đều chuyên tổ chức các tour du lịch cho khách từ những nước sử dụng Pháp ngữ, nhất là Pháp. Du lịch Việt Nam có thể nói là đang trên đà khởi sắc trở lại và năm ngoái đã thu hút một lượng du khách quốc tế kỷ lục, lên tới hơn 21 triệu người. Năm nay, trên nguyên tắc du lịch Việt Nam có thể vượt qua kỷ lục đó, vì chỉ trong hai tháng đầu năm 2026 đã có gần 4,7 triệu du khách đến Việt Nam, tăng khoảng 18% so với cùng kỳ năm ngoái.  Trả lời RFI Việt ngữ tại Hội chợ, anh Thân Mạnh Đức, chủ tịch và cũng là người sáng lập công ty Vietnam Original Travel, cho biết khách quốc tế, nhất là khách Pháp, đến Việt Nam ngày càng nhiều, một phần cũng chính là nhờ sự quảng bá tích cực của các công ty tư nhân: “Việt Nam làm truyền thông tương đối tốt, nhưng không phải là Tổng cục Du lịch làm truyền thông, thực tế là trong các hội chợ du lịch thì không thấy nhà nước tham gia. Tham gia hội chợ như ở Anh và ở Đức, hầu như các công ty tư nhân làm truyền thông tương đối là mạnh. Thế nên là du lịch Việt Nam rất phát triển, lượng khách quan tâm nhiều và thực tế là số khách đi du lịch Việt Nam tăng rất nhiều những năm vừa qua.  Ngoài việc làm truyền thông tốt, Việt Nam cũng là một điểm đến rất an toàn, đẹp và cũng không đắt. Đấy là những lý do mà khách đến Việt Nam ngày càng nhiều.  Riêng đối với khách Pháp thì những điều gì thu hút họ đến Việt Nam nhất? Khách Pháp thì quan tâm nhiều đến lịch sử văn hóa và con người, bởi vì Việt Nam là một nước mà họ đã từng đô hộ và có rất nhiều những vết tích mà họ để lại. Hơn nữa khi đến Việt Nam họ rất thích phong cảnh, con người và văn hóa Việt Nam.”  Theo một nghiên cứu của Protourisme, trước chiến tranh Trung Đông, 62% người dân Pháp dự định đi nghỉ trong năm nay, với ngân sách trung bình là 2.500 euro mỗi hộ gia đình. Đối với mùa hè, 46% người Pháp (31,6 triệu người) cho biết họ muốn đi du lịch, giảm nhẹ so với năm 2025. Tuy nhiên, tỷ lệ các chuyến đi nước ngoài đang tăng lên thành 35%, so với 32% năm ngoái.  Nhưng rất không may là chiến tranh Trung Đông đã bùng phát bất ngờ, ảnh hưởng khá nặng nề đến du lịch thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng, nhất là vì rất nhiều khách châu Âu đến Việt Nam bằng các chuyến bay quá cảnh qua Doha hay Dubai. Kể từ khi chiến tranh Iran bùng phát ngày 28/02, rất nhiều khách đã đặt vé đi Việt Nam với các hãng như Qatar Airways hay Emirates, tức là quá cảnh qua Doha và Dubai, đã bị hủy vé, tuy được trả lại toàn bộ tiền vé nhưng bỏ lỡ kế hoạch du lịch hoặc thăm gia đình ở Việt Nam. Nhưng đáng nói hơn cả là tình trạng của những du khách đang ở Việt Nam lúc chiến tranh nổ ra và bị kẹt ở Việt Nam trong nhiều ngày, do không tìm được vé để trở về, hay nói đúng hơn là không đủ tiền để mua những vé máy bay giá cao ngất ngưỡng, có khi lên tới 9.000, 1.0000 euro. Anh Thân Đức Mạch, chủ tịch công ty Vietnam Original Travel ghi nhận: “Thực tế là ảnh hưởng rất nhiều, bởi vì phần lớn khách đi qua Doha và Dubai tương đối nhiều do thứ nhất là giá vé rẻ. Bây giờ, khi hai sân bay đó bị đóng lại, các chuyến bay bị hủy tương đối nhiều và khách của em cũng hủy nhiều. Sau khi sau khi chiến tranh xảy ra thì chỉ còn lại một số chuyến bay sang Pháp,như là của China Airlines, China Southern Airlines, Vietnam Airlines. Emirates có một số chuyến, nhưng giá vé rất đắt và số lượng chỗ cũng hạn thế, nên lượng khách cũng giảm tương đối nhiều. Đối với những khách đã đi du lịch tới Việt Nam và hiện nay kẹt ở Việt Nam, cách giải quyết là như thế nào? Hãng hàng không đưa ra giải pháp, một là sẽ extension ( kéo dài ) kỳ nghỉ của khách để chờ xem liệu chiến tranh có dừng lại hoặc là các chuyến bay có thể mở lại được hay không. Giải pháp thứ hai là doanh nghiệp có thể tự tìm chuyến bay cho khách và họ sẽ hỗ trợ một phần. Thế nhưng bây giờ tìm cũng không có chuyến bay và mà có thì phải mua vé hạng thương gia giá rất là cao. Cho nên khách vẫn phải chờ và ở lại Việt Nam thêm một thời gian. Một khó khăn nữa là, khi khách phải kéo dài kỳ nghỉ của họ ở Việt Nam, hãng hàng không chỉ hỗ trợ ba đêm đầu tiên thôi, còn sau đó khách phải tự trả, cho nên khách cũng không hài lòng. Bên em có liên lạc với hãng hàng không mà họ đã đặt vé, thì hãng hàng không cũng đưa giải pháp giống như vậy thôi, tức là gợi ý khách sẽ ở lại để chờ xem tình trạng các chuyến bay có thực hiện được hay không. Thứ hai là người ta sẽ chờ những chuyến bay gọi là “giải cứu” về nước họ ( rapatriement ). Nhưng thực ra cũng vẫn đang chờ thôi, chứ chưa thực hiện được chuyện đó.  Tiếp theo là bên em sẽ phải hỗ trợ cho khách tìm chuyến bay của các hãng khác, nếu có. Trong trường hợp đấy thì hãng hàng không sẽ hỗ trợ một phần và khách sẽ phải trả một phần. Nhưng với giá vé hiện nay đôi khi lên tới 8 ngàn, 9 ngàn euro làm sao mà có thể mua được những vé đó?  Vâng, chính vì thế mà khách cũng không chịu, nên bọn em vẫn đang chờ chuyến bay giải cứu và hy vọng chiến tranh sẽ dừng lại, các chuyến bay có thể thực hiện được như bình thường.  Khách luôn tìm giải pháp để đi làm sao cho tiết kiệm nhất có thể, mà những chuyến bay có transit ( quá cảnh ) thì rẻ hơn những chuyến bay trực tiếp. Bây giờ nhu cầu của khách đi du lịch cũng nhiều, cho nên nếu chỉ có một vài hãng như Vietnam Airlines, hoặc là Southern China Airlines thì cũng không đáp ứng đủ, thế nên giá vé rất cao. Chiến tranh mà kết thúc và các sân bay mở lại thì em nghĩ là các chuyến bay sẽ trở lại bình thường thôi. Chiến tranh sẽ tác động tiêu cực đến du lịch cũng như một số lĩnh vực khác. Giá vé máy bay là một phần. Giá xăng dầu tăng thì dẫn đến giá vận chuyển tăng, các nhà hàng, khách sạn cũng tăng, mọi thứ sẽ tăng. Em nghĩ là du lịch sẽ rất khó khăn. Năm ngoái, số khách tăng đột biến và những dòng khách như từ Ấn Độ và nhất từ Ý đến Việt Nam tương đối đông. Thế nhưng khách Ý  bay qua Qatar tương đối nhiều, bởi vì Vietnam Airlines không có chuyến bay hàng ngày, mà một tuần chỉ có ba chuyến. Vì chỉ có ba chuyến cho nên nhiều khi không đúng với ngày mà họ muốn đi. Thế nên chuyến bay thì vẫn trống, nhưng lúc khách cần thì cũng không có. Chính vì vậy bây giờ lượng khách cũng giảm rất nhiều sau khi chiến tranh nổ ra. Kể cả khách từ Ấn Độ. Còn dòng khách Pháp của bên em thì cũng bị ảnh hưởng khoảng 50% hoặc 30%, bởi vì họ cũng bay qua các nước thứ ba rất nhiều để tiết kiệm chi phí.” Ảnh hưởng của chiến tranh Trung Đông đã được thể hiện rõ qua thái độ của khách đến Hội chợ Du lịch Paris năm nay. Ai cũng đến chủ yếu để hỏi thông tin, chứ không đặt chỗ cho những chuyến đi trong năm nay, theo lời anh Thân Đức Mạnh, vốn đã tham gia Hội chợ này từ năm 2008 đến nay:  “Năm nay so với năm trước thì cũng tương đối là đông, thế nhưng họ đến gần như là chỉ tham khảo và lấy thông tin thôi. Hoặc là người ta hỏi cho những chuyến đi rất xa, chứ không như những năm trước. Những năm trước, thậm chí bọn em có thể bán tour ngay tại chỗ và có rất nhiều khách quan tâm thật sự cho những chuyến đi rất gần và người ta quan tâm nhiều thông tin lắm. Còn bây giờ người ta đến chỉ hỏi thông tin qua loa

    10 min
  8. MAR 16

    Chiến tranh Trung Đông tác động đến hấp lực xuất khẩu và tăng trưởng của Việt Nam

    Xăng dầu tăng giá là hệ quả rõ nhất có thể thấy ở Việt Nam do chiến tranh Trung Đông. Tình hình xung đột kéo dài và nguy cơ gián đoạn tại eo biển Hormuz đặt Việt Nam trước nhiều thách thức kinh tế và thương mại. Chi phí sản xuất và vận tải đội giá, ảnh hưởng trực tiếp đến các ngành công nghiệp quan trọng. Chuỗi cung ứng toàn cầu bị gián đoạn, nguyên liệu nhập khẩu trở nên khan hiếm. Những biến động này làm giảm tính cạnh tranh của hàng Việt tại các thị trường trọng điểm như Liên Hiệp Châu Âu, Hoa Kỳ. Nền kinh tế toàn cầu xấu đi cũng không phải là dấu hiệu tốt cho Việt Nam vì một phần lớn tăng trưởng dựa vào xuất khẩu. Chi phí gia tăng còn có nguy cơ đẩy lạm phát lên cao. Tất cả những thách này đòi hỏi Việt Nam cần có những giải pháp ứng phó nhanh và hiệu quả. Trên đây là một số nhận định của nhà nghiên cứu Laurent Gédéon, giảng viên tại Đại học Công giáo Lyon (UCLy) chuyên ngành khoa học chính trị, thành viên của Viện Đông Á tại Trường Sư phạm Lyon (ENS de Lyon), khi trả lời phỏng vấn RFI Tiếng Việt ngày 12/03/2026. RFI : Cuộc chiến bùng nổ ở Trung Đông đang gây ra những ảnh hưởng sâu rộng đến nhiều lĩnh vực và hầu hết các quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Trung Đông có vai trò như thế nào trong quan hệ kinh tế và thương mại của Việt Nam hiện nay ? Laurent Gédéon : Kim ngạch thương mại giữa Việt Nam và Trung Đông còn khá hạn chế, với xuất khẩu sang khu vực này chiếm chưa đến 3% tổng kim ngạch. So với Mỹ, Trung Quốc hay Liên Hiệp Châu Âu thì Trung Đông vẫn là thị trường nhỏ hơn, nhưng vẫn được xem là một thị trường chiến lược tiềm năng đối với Việt Nam vì một số lý do. Thứ nhất, về xuất khẩu, Trung Đông là thị trường tiêu thụ nhiều hàng hóa của Việt Nam như điện thoại, linh kiện điện tử, dệt may và đồ nội thất. Khu vực này cũng nhập khẩu nhiều nông sản và thủy sản của Việt Nam do phụ thuộc vào nguồn thực phẩm bên ngoài. Do đó, gạo, cà phê, tiêu, hạt điều, cũng như tôm và các loại hải sản khác của Việt Nam cũng tìm được thị trường đầy triển vọng. Ngoài ra, thị trường thực phẩm “halal”, ít được biết đến nhưng đang phát triển mạnh và có thể đạt 5.000 tỷ đô la vào năm 2030, trở thành lĩnh vực chiến lược mà Việt Nam hướng tới để đáp ứng nhu cầu của các nước Hồi Giáo. Về nhập khẩu, Việt Nam chủ yếu nhập năng lượng từ Trung Đông, đặc biệt là dầu mỏ, sản phẩm từ dầu, khí tự nhiên hóa lỏng và nguyên liệu hóa học. Ngoài ra còn có kim loại và nguyên liệu thô phục vụ công nghiệp. Những nguồn này rất quan trọng đối với ngành công nghiệp và hệ thống năng lượng của Việt Nam. Về mặt này, Trung Đông đóng vai trò then chốt đối với Việt Nam với tư cách là nhà cung cấp năng lượng và công nghiệp. Đọc thêmMối quan hệ truyền thống khiến Việt Nam khó xử trong xung đột Israel-Hamas Đối với các nước vùng Vịnh, Việt Nam đã triển khai chiến lược đầu tư từ nhiều năm qua thông qua các hiệp định thương mại song phương. Tiêu biểu là Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện (CEPA) ký ngày 28/10/2024 tại Dubai với Các Tiểu Vương Quốc Ả Rập Thống, nhằm xóa bỏ hầu hết thuế quan, thúc đẩy đầu tư và tăng cường thương mại song phương. Nhìn chung, có thể nói rằng Trung Đông là đòn bẩy quan trọng giúp Việt Nam đa dạng hóa thương mại và nguồn năng lượng, giảm phụ thuộc vào một số đối tác lớn như Trung Quốc và Hoa Kỳ. RFI : Căng thẳng hoặc xung đột ở Trung Đông có thể ảnh hưởng đến mức độ nào đối với một số thị trường xuất khẩu quan trọng của Việt Nam, như Liên Hiệp Châu Âu hoặc Hoa Kỳ, cũng như các nước vùng Vịnh và Israel ? Laurent Gédéon : Xung đột ở Trung Đông có khả năng tác động đến thị trường xuất khẩu của Việt Nam theo nhiều cách. Thứ nhất, xung đột ở Trung Đông có thể làm giá năng lượng tăng cao vì đây là một trong những khu vực sản xuất dầu khí hàng đầu thế giới. Nếu xung đột kéo dài, sản xuất và vận chuyển hydrocarbon sẽ bị ảnh hưởng. Giá dầu khí tăng khiến chi phí vận tải biển và hàng không tăng, kéo theo chi phí sản xuất tại Việt Nam cao hơn, đặc biệt trong các ngành công nghiệp, dệt may, điện tử và vận tải. Khi giá sản phẩm tăng, hàng Việt Nam sẽ kém cạnh tranh hơn tại các thị trường trọng điểm, cụ thể là Liên Hiệp Châu Âu và Mỹ - hai thị trường xuất khẩu chính (chiếm gần 40%) đối với hàng chế tạo của Việt Nam. Đọc thêmViệt Nam hợp tác dầu khí với Ả Rập Xê Út Yếu tố thứ hai là nhiều tuyến thương mại chiến lược sẽ bị gián đoạn nếu xung đột dẫn đến bất ổn kéo dài ở hai khu vực hàng hải nhạy cảm là Vịnh Ba Tư và phía bắc Ấn Độ Dương, cùng với việc eo biển Hormuz bị đóng một phần hoặc toàn bộ. Tình hình thậm chí có thể nghiêm trọng hơn nếu lực lượng Houthi ở Yemen cũng tham gia vào cuộc xung đột và siết chặt phong tỏa ở eo biển Bab-el-Mandeb để giảm bớt áp lực cho Iran. Cho dù hiện nay lực lượng Houthi giữ thái độ thận trọng nhưng vẫn không thể loại trừ một kịch bản như vậy, bởi vì thủ lĩnh Abdul-Malik al-Houthi đã tuyên bố trên truyền hình ngày 05/03 rằng lực lượng Houthi sẵn sàng tấn công bất cứ lúc nào. Trong bối cảnh bất ổn như vậy, tàu thuyền sẽ phải tránh các vùng biển nguy hiểm, điều này sẽ làm tăng thời gian vận chuyển và chi phí logistic. Trong trường hợp đó, Việt Nam sẽ gặp khó khăn, vì chuỗi giá trị xuất khẩu của Việt Nam phụ thuộc rất nhiều vào các tuyến hàng hải nối các trung tâm sản xuất châu Á với các thị trường lớn ở châu Âu và Bắc Mỹ. Bất kỳ sự gián đoạn nào đối với các tuyến đường này đều có thể dẫn đến việc tăng chi phí và chậm trễ giao hàng. Cuối cùng, yếu tố thứ ba liên quan đến kinh tế toàn cầu. Căng thẳng ở Trung Đông có thể gây bất ổn kinh tế chung, đặc biệt là việc nhà đầu tư rút vốn và các nước phân bổ lại ngân sách tập trung cho quốc phòng. Điều này có thể làm suy yếu kinh tế của các đối tác thương mại của Việt Nam, đặc biệt ở Trung Đông, từ đó giảm nhu cầu nhập khẩu. Nếu xung đột kéo dài hoặc leo thang, tác động tương tự cũng có thể lan sang châu Âu và Mỹ, hai thị trường xuất khẩu quan trọng của Việt Nam. Đọc thêmPetroVietnam sẽ đầu tư 1,2 tỷ đô la vào một mỏ dầu tại Iran Do đó, xung đột giữa Iran với Hoa Kỳ và Israel có thể gián tiếp ảnh hưởng đến kinh tế Việt Nam. Mặc dù Trung Đông không phải đối tác thương mại chính nhưng căng thẳng khu vực vẫn có thể gây ra hậu quả đáng kể cho các thị trường xuất khẩu lớn của Việt Nam. Nếu gián đoạn kéo dài, hàng hóa Việt Nam có nguy cơ kém cạnh tranh về giá so với các nước gần châu Âu và Bắc Mỹ hơn và sử dụng các tuyến vận tải ngắn hơn hoặc ít rủi ro hơn. RFI : Ngành công nghệ của Việt Nam đang phát triển. Tại sao lĩnh vực này cũng có thể bị tác động với những diễn biến địa-chính trị ở Trung Đông ? Laurent Gédéon : Nhìn chung ngành công nghiệp công nghệ của Việt Nam, bao gồm điện tử, bán dẫn và lắp ráp, phụ thuộc lớn vào năng lượng và nguyên liệu thô. Căng thẳng tại các quốc gia sản xuất hydrocarbon như Ả Rập Xê Út, Qatar hay Các Tiểu Vương Quốc Ả Rập Thống Nhất có thể làm giá dầu và khí đốt tăng lên, kéo theo chi phí sản xuất và vận tải quốc tế tăng, như đã nói ở trên. Trong khi đó hoạt động công nghiệp của Việt Nam cần nguồn năng lượng lớn, giá năng lượng tăng sẽ tác động đến sức cạnh tranh của hàng xuất khẩu công nghệ Việt Nam. Việt Nam đã trở thành mắt xích quan trọng trong chuỗi sản xuất công nghệ toàn cầu nhờ sự hiện diện của các tập đoàn lớn như Samsung, Intel, Foxconn và Apple. Với vai trò nhà xuất khẩu sản phẩm hoàn chỉnh, bất kỳ gián đoạn nào trong chuỗi logistic hoặc tăng chi phí vận chuyển đến các thị trường xuất khẩu đều sẽ gây thiệt hại đáng kể cho Việt Nam. Trường hợp Israel đặc biệt quan trọng, cần được nhắc lại, bởi vì Việt Nam hợp tác sâu rộng với Nhà nước Do Thái trong trí tuệ nhân tạo AI và công nghệ nông nghiệp (agritech). Agritech là lĩnh vực ứng d

    9 min

About

Những vấn đề, sự kiện đang được dư luận quan tâm ở Việt Nam

More From RFI Tiếng Việt

You Might Also Like