Tạp chí Việt Nam

Những vấn đề, sự kiện đang được dư luận quan tâm ở Việt Nam

  1. 1d ago

    Du lịch golf : Động lực cho nền kinh tế, phương tiện ngoại giao của Việt Nam

    Tổng thống Mỹ Donald Trump có sẽ đến thăm sân golf mang tên ông ở Hưng Yên vào năm 2027 nhân Hội nghị APEC tại Phú Quốc tháng 11? Dự án sẽ kịp hoàn thành đúng thời điểm, do đang bị chậm tiến độ vì bất đồng giữa người dân và chính quyền về giải phóng mặt bằng? Sân golf Khoái Châu - Trump International Hưng Yên, trị giá khoảng 1,5 tỷ đô la, được cho sẽ góp phần tăng trưởng du lịch hạng sang - lĩnh vực được Việt Nam tập trung đầu tư từ nhiều năm nay. Trong 9 năm liên tiếp (2017-2025), Việt Nam được World Golf Awards vinh danh là “Điểm đến golf tốt nhất châu Á” và hai lần được trao danh hiệu “Điểm đến golf tốt nhất thế giới” năm 2019 và 2021. Doanh thu từ du lịch golf tăng gần gấp đôi trong vòng 3 năm, từ 600 triệu đô la năm 2022 lên hơn 1 tỷ đô la năm 2025. Cho dù hiện chiếm khoảng 2,7% tổng doanh thu du lịch quốc gia, theo cục trưởng Cục Du Lịch Việt Nam, nhưng các nhà hoạch định quyết định biến golf thành động lực mới đưa du lịch Việt Nam vươn tầm quốc tế. Số sân golf sẽ tăng lên thành 200 vào năm 2030, hơn gấp đôi so với con số 80 sân đạt chuẩn quốc tế hoạt động năm 2025. Ông Spencer Robinson, trưởng bộ phận Truyền thông, Liên đoàn Golf Châu Á - Thái Bình Dương, cũng bất ngờ trước những mục tiêu đầy tham vọng của Việt Nam khi trả lời hãng tin Mỹ AP : “Hành trình quả là đáng kinh ngạc khi Việt Nam đạt được những thành tựu như hiện nay trong một thời gian ngắn. Tôi đi khắp thế giới và mọi người đều nói về sự phát triển của golf ở Việt Nam. Tôi nghĩ có thể nói đây là thị trường golf sôi động nhất thế giới hiện nay. Rất nhiều kiến ​​trúc sư sân golf muốn đến đây, các nhà sản xuất gậy golf, bất cứ ai trong ngành công nghiệp golf đều rất quan tâm, vì họ thấy sự phát triển của Việt Nam. Họ nghe nói chính phủ muốn xây dựng thêm 100 sân golf nữa trong 5, 10 năm tới”. Đọc thêmDu lịch Việt Nam đủ nguồn lực chuyên môn cao để hướng đến khách “giàu” ? Du lịch golf thúc đẩy kinh tế địa phương Trong chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2030, du lịch golf được xác định “là một sản phẩm du lịch cao cấp, một ngành kinh tế văn hóa thể thao du lịch tổng hợp đóng góp vào tăng trưởng xanh, phát triển vùng và quảng bá hình ảnh quốc gia”. Việt Nam đặt mục tiêu xây dựng chuỗi điểm đến golf mang bản sắc Việt Nam, đào tạo nhân lực, tổ chức sự kiện quốc tế. Thế mạnh của Việt Nam là có hơn 3.000 km đường bờ biển và cảnh quan đa dạng, được coi là những điều kiện tự nhiên lý tưởng cho một sân golf đẹp, thú vị trên địa hình nhấp nhô. Các khu vực sân golf được trải dài từ bắc xuống nam và phát triển mạnh mẽ ở miền trung với lợi thế về địa hình kết hợp đồi núi và biển, như trường hợp sân golf Hoiana Shores, theo giải thích của tổng giám đốc Wee Peng Siong : “Nhà thiết kế sân golf Robert Trent Jones, Jr. đã sử dụng khẩu hiệu “Bản giao hưởng của golf”, có nghĩa là mọi thứ đều hòa quyện với thiên nhiên và nhịp điệu của thiên nhiên. Giống như một bản giao hưởng vậy. Dựa trên ý tưởng đó, người chơi golf có thể quan sát các cồn cát và địa hình, độ nhấp nhô của nó. Tất cả đều được bố trí một cách tỉ mỉ”. Dù đi sau nhiều nước về du lịch golf nhưng Việt Nam đang rút ngắn khoảng cách trong thời gian rất ngắn, một phần nhờ thu hút được những tên tuổi lớn trong lĩnh vực kiến trúc golf thế giới (Like Donald, Colin Montgomerie, Sir Nick Faldo, Greg Norman và Robert Trent Jones Jr., hiện nằm trong trong liên minh Việt Nam Golf Coast, VGC). Hệ thống gồm BRG Danang Golf Resort, Montgomerie Links, Ba Na Hills, Laguna Lăng Cô và Hoiana Shores đã giúp Đà Nẵng - Hội An được vinh danh là “Thành phố golf tốt nhất châu Á 2025”. Ngoài ra, để tiếp tục khẳng định thương hiệu và nâng vị thế của du lịch golf Việt Nam, huyền thoại golf người Úc Greg Norman tiếp tục được bổ nhiệm làm đại sứ Du lịch Việt Nam nhiệm kỳ 2025-2030. Theo bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Việt Nam, khách chơi golf có mức chi tiêu trung bình gấp 6 lần so với khách thường. Để đáp ứng nhu cầu của khách, xung quanh sân golf là một khu phức hợp dịch vụ, khách sạn sang trọng, nhà hàng, spa và thương mại cao cấp, theo nhận định của Nguyễn Đức Long, một người chơi golf : “Họ (Hoiana) có 4 khách sạn, hơn 1.000 phòng, đầy đủ cơ sở vật chất về golf để cho mình có một gói trải nghiệm khác hơn so với những sân khác. Vì ngành golf phát triển như vậy thì chắc chắn đây là một lựa chọn rất là thú vị để mọi người có thể tới trải nghiệm”. Đọc thêmHưng Yên muốn giảm tiền đền bù trong dự án sân golf của Trump Organization Không chỉ chơi golf, họ còn có nhu cầu trải nghiệm du lịch tại điểm đến. Và đây là điểm giúp thúc đẩy nền kinh tế địa phương, góp phần tạo việc làm, đặc biệt là ở các khu vực ngoài các trung tâm đô thị lớn, theo nhận định của ông Vũ Nguyên, tổng thư ký Hiệp hội Golf Việt Nam (VGA) : Khi một sân golf được phát triển ở một địa phương, nó giúp thúc đẩy nền kinh tế tại địa phương đó và cũng sẽ tạo ra hàng ngàn việc làm. Chính vì vậy, những năm gần đây, golf được đón nhận rất nhiều. Những khu vực xung quanh sân golf, các hệ thống từ nhà hàng cho đến khách sạn cũng được phát triển và giúp cho ngành du lịch nói chung. Đứng đầu số lượng khách nước ngoài đến du lịch golf tại Việt Nam năm 2025 là Trung Quốc (3,8 triệu lượt, tăng 43% nhờ chi phí hợp lý và khoảng cách địa lý gần), tiếp theo là Hàn Quốc (3,2 triệu lượt, đóng góp lớn nhất vào doanh thu cao cấp). Ngoài ra còn có du khách golf Úc, Nhật Bản, Đài Loan, cùng với lượng khách mới nổi từ châu Âu và Ấn Độ. Việt Nam cũng muốn trở thành điểm đến không thể thiếu của khoảng 1,9 triệu golf thủ di chuyển trên toàn cầu hàng năm. Ngoại giao sân golf Bên cạnh giá trị kinh tế và du lịch, golf còn được sử dụng làm công cụ ngoại giao, đặc biệt là dưới thời tổng thống Mỹ Donald Trump. Sean Fergusson, thư ký golf và kinh doanh tại "Fore" Business (Anh), được trang Franceinfo trích dẫn, phân tích : Donald Trump tận dụng những cơ hội này để truyền đạt thông điệp đến người đối thoại. Và các chính trị gia khác nghĩ rằng nếu họ có thể gặp ông ấy trong một buổi chơi golf, ông Trump có thể sẵn sàng thảo luận về những chủ đề mà ông ấy sẽ không nói trước ống kính máy quay. Nhật Bản là một ví dụ tiêu biểu về khai thác “ngoại giao golf” trong quan hệ với Mỹ. Ngày 11/02/2017, khoảng hai tuần sau khi ông Trump nhậm chức tổng thống, thủ tướng Shinzo Abe đến Florida, cùng chơi golf 18 hố nhằm củng cố quan hệ song phương vì ông Trump luôn chỉ trích đồng minh Đông Á chi ít cho quốc phòng. Sau buổi chơi, ông Trump cho biết đã “hiểu” thủ tướng Abe hơn. Sau khi ông Abe mất, Tokyo từng nhờ tỉ phú Masayoshi Son, nhà sáng lập kiêm tập đoàn công nghệ SoftBank và là bạn chơi golf thân thiết của ông Trump, để tiếp cận ông. Thủ tướng đương nhiệm Takaichi còn tặng tổng thống Trump một cây gậy golf của cố thủ tướng Abe. Đọc thêmDự án tỷ đô tại quê nhà của tổng bí thư Tô Lâm, lá bài trói buộc Trump của Việt Nam ? Trong nhiệm kỳ hiện nay, ông Trump thường xuyên “bàn đại sự” trên sân golf. Tổng thống Phần Lan Alexander Stubb, một người chơi golf, trở thành “cầu nối” giữa tổng thống Mỹ và châu Âu. Chơi golf với ông Trump được xem là nằm trong “vòng thân cận” với lãnh đạo Mỹ. Việt Nam chưa có cơ hội này. Tuy nhiên, ít ngày trước ngày lễ nhậm chức của tổng thống thứ 47, bà Nguyễn Thị Phương Thảo, chủ tịch hãng hàng không Vietjet, đến tư dinh Mar-a-Lago và được ông Trump hướng dẫn chơi golf. Chuyến đi được công bố là hoạt động của Vietjet nhưng không rõ có nhận được sự ủy nhiệm nào đó từ chính quyền hay không. Nông dân trả phí cho ngoại giao sân golf Trump International Hưng Yên ? Liệu sân golf ở quê hương tổng bí thư-chủ tịch nước Tô Lâm có thể trở thành cầu nối với chính quyền Trump ? Tháng 09/2024, trong thời gian tranh cử tổng thống, ông Donald Trump dự lễ ký thỏa thuận hợp tác xây dựng giữa Trump Organization với Tổng công ty Phát t

  2. Jul 27

    Bảo tàng sôcôla Việt Nam: Tái hiện hành trình của hạt cacao từ Trung Mỹ đến Việt Nam

    Sôcôla là một món ăn nay đã quá quen thuộc với người Việt Nam, nhưng chắc là không có mấy ai hiểu rõ về nguồn gốc của hạt cacao làm nên sôcôla, về lịch sử phát triển của sôcôla, cũng như về những đặc tính của cacao được trồng tại Việt Nam. Chính là nhằm mục đích quảng bá những kiến thức về sôcôla và cacao mà ông Francesco Trần Văn Liêng, tổng giám đốc Công ty Cổ phần Ca cao Việt Nam (Vinacacao), đã lập ra La Maison du chocolat, Bảo tàng sôcôla Việt Nam. Nằm tại Bình Hưng, ngoại ô Sài Gòn, với diện tích khoảng 4.000m², được khai trương vào tháng 4 vừa qua, La Maison du Chocolat trước hết đưa chúng ta trở về nguyên thủy của cây cacao ở vùng Trung Mỹ, được thể hiện qua bức tượng của một vị thần. Hướng dẫn chúng tôi trong một chuyến tham quan riêng, ông Francesco Trần Văn Liêng giải thích:  “Đây là thần Ek Chuah. Người Maya và ở Trung Mỹ tự hào đây là thánh phù hộ cho ngành ca cao của họ ngay từ đầu và thực chất thì cây ca cao xuất phát từ Trung Mỹ, nơi mà văn minh của người Maya cũng gắn liền với văn minh của cây ca cao. Họ tự hào đó là “food of the God”, “thực phẩm Trời cho”. Họ sống vui vẻ, hòa mình với thiên nhiên và xây dựng một xã hội khá vững vàng trên nền tảng là hạt cacao và văn hóa xung quanh hạt cacao đó. Câu chuyện bắt đầu khi Christopher Columbus sang. Thứ nhất rõ ràng là Christopher Columbus đi với tư cách là hòa bình, nhưng thực sự cái hòa bình đó cũng ngắn hạn thôi. Thực tế là triều đình Tây Ban Nha gửi một đoàn quân sang và cuộc diệt chủng đầu tiên trên thế giới là diệt chủng người da đỏ và bây giờ người da đỏ đã tản mát ở Mêhicô, Honduras, thậm chí là ở Hợp chủng quốc Hoa Kỳ. Nhưng hạt cacao không bị khuất phục, hạt cacao sang châu Âu để tái chinh phục người châu Âu. Lúc đầu nó được dùng trong giới quý tộc và tăng lữ thôi, tại vì hạt này ngon quá, khi ăn thì người ta cảm thấy hưng phấn, vui vẻ. Nhưng nó được giữ rất kín cho đến khi cha con Joseph Fry ở Anh bắt đầu làm ra thanh sôcôla đầu tiên. Khi làm được thanh sôcôla đầu tiên rồi thì giới bình dân mới tiếp cận. Và khi tiếp cận rồi thì nó bùng nổ thành một thức uống chinh phục cả châu Âu.” Theo dòng lịch sử của hạt cacao, được tái hiện trên những bức tường, La Maison du chocolat đưa khách tham quan đến những quốc gia tiêu biểu của ngành sôcôla thế giới để hiểu được tính chất phong phú, đa dạng của sản phẩm này. Ông Francesco Trần Văn Liên cho biết:  “La Maison du chocolat cố gắng tái hiện lại những mẫu sôcôla thời xưa hoặc thời cận đại của các dân tộc trên thế giới. Ví dụ người Đan Mạch hay dùng “creamy milk”. Họ rất thích sữa, cho nên nhiều khi mình khó phân biệt là ăn sôcôla hay ăn sữa! Rồi tới praline của Bỉ. Người Bỉ thì rất hãnh diện là đã đưa hạt vào và làm cho sôcôla trở nên ngon hơn, thơm hơn và có nhiều dinh dưỡng hơn. Người Thụy Sĩ thì đặc biệt thích ăn sôcôla rất mịn. Và đây là thanh sôcôla đầu tiên mà mà gia đình người Anh nhà Fry làm. Ban đầu nó không ngon, đắng nghét, tại vì không có sữa.  Chúng tôi muốn khách tham quan hiểu được trên thế giới không phải chỉ có một cách ăn sôcôla, mà rất nhiều cách ăn. Ví dụ người Hà Lan có hot dark chocolate mà họ tự hào, nhưng phải là “pure”, tức là rất là tinh túy về hương vị sôcôla. Pháp cũng làm ra được praline giống như Bỉ, vì Pháp và Bỉ thì văn hóa gần nhau. Và trong thế giới ẩm thực của Pháp thì có quá nhiều sáng tạo. Đế quốc Ottoman là một đế quốc huy hoàng của Thổ Nhĩ Kỳ, nhưng họ thích ăn với pistachio, tức là hạt dẻ cười. Hạt dẻ cười cũng là một vật phẩm rất quý tại địa phương của họ. Ý thì tự hào là họ có Gianduja, pha sôcôla  ới hạt hazelnut ( hạt phỉ ), ra một thương hiệu riêng đó là Gianduja.  Tôi muốn giới thiệu với anh khu vực Trung Mỹ. Đầu tiên, chữ "sokalat" là do người Maya đặt ra và họ cũng có một thức uống rất điển hình thời đó, cách đây ngàn năm. Lúc đó công nghệ đâu có mạnh để nghiền rất mịn đâu. Họ chỉ là đập dập ra là uống. Nhưng đó là một thức uống bồi bổ sức khỏe cho những binh lính da đỏ để chiến đấu rất mãnh liệt với người Tây Ban Nha.” Đến với La Maison du chocolat, khách tham quan sẽ có dịp tìm hiểu về lịch sử của ngành cacao Việt Nam, để biết rằng loại cây này cũng chính là do người Pháp du nhập vào Việt Nam, theo lời ông Francesco Trần Văn Liêng: “Đầu thế kỷ 20, khoảng năm 1900, có một người Pháp tên là Jean-Baptiste Louis Pierre đem cây ca cao vào Thảo Cầm Viên Sài Gòn cùng thời với cây cà phê và cây cao su. Khi đưa vào Thảo Cầm Viên thì thấy khá là ổn và ông tiếp tục phát triển ở đồng bằng sông Cửu Long, nơi có đất tốt, mưa nhiều, có nhiều tưới tiêu và và không có nhiều biến cố như bảo tố. Tại vì cây ca cao rất là cao, lá rất là to, gió nhiều nó sẽ gãy. Nhưng miền Nam cũng là vùng có nhiều chiến tranh, loạn lạc, người dân di cư rất nhiều, cho nên cây ca cao không phát triển mạnh vào đầu thế kỷ 20. Mãi tới khoảng năm 2000, người Hà Lan bắt đầu viện trợ lại cho nông dân đồng bằng sông Cửu Long để tái lập lại các vườn ca cao xen với vườn dừa.  Cây cacao thật ra là cây ăn trái, không phải là cây công nghiệp như cà phê. Cacao trước hết ra trái, trái phải được ủ, ủ xong mới lấy hạt để làm sôcôla. Để trái tốt thì đất phải tốt. Đồng bằng sông Cửu Long được xem là đất rất tốt. Và thứ hai là phải được tưới tiêu rất nhiều. Nhiều người lầm tưởng cây ca cao giống cà phê, nhưng thực sự nó rất là khác. Cây ca cao có thể sống tới 40 năm, thành cây cổ thụ rất lớn, như xoài, mít, mận, ổi. Đó lý do tại sao miền Nam có vẻ thích hợp hơn. Với lại cây cacao mà bị khí hậu lạnh thì nó chết. Gặp lạnh 18 độ thì nó sẽ đứng, rồi sau đó nếu nhiệt độ xuống nữa thì nó có thể bắt đầu rụng lá và chết.”  Bảo tàng sôcôla cũng lưu giữ những dấu ấn của doanh nghiệp người Bỉ Ghicha Safarian, người đã thành lập công ty Puratos Grand-Place Việt Nam, hoạt động tại Việt Nam từ năm 1994. Đến  đầu năm 2011, Puratos Grand-Place Việt Nam đã ra mắt loại sôcôla đầu tiên được sản xuất hoàn toàn tại Việt Nam, từ khâu trồng ca cao cho đến thành phẩm cuối cùng. Cho đến nay, đây là nhà sản xuất đầu tiên tại Việt Nam tích hợp chuỗi cung ứng ca cao vào quy trình sản xuất của mình. Nhưng so với những “cường quốc cacao” như Côte d’Ivoire và Ghana, thế mạnh của cacao Việt Nam là ở những mặt nào, ông Francesco Trần Văn Liêng giải thích:  “Hiện nay Côte d’Ivoire và Ghana ở Phi Châu vẫn chiếm khoảng 75% sản lượng hạt cacao trên thế giới. Nhưng Côte d’Ivoire và Ghana thì ít sông ngòi và ít màu mỡ, cho nên hạt cacao có mùi hương nutty ( hương hạt dẻ ), như mùi gỗ, mùi mật ong, cũng ngon. Nhưng cacao socola Việt Nam được trồng ở đồng bằng, đất tốt mưa nhiều, phù sa, cho nên hạt to hơn, cơm bao nhiều hơn và hậu vị hơi chua ngọt, giống như cà phê arabica thì hơi chua một chút, cho nên nó mang tính chất fruity và độ thơm của nó thì cũng phản ánh vùng đất. Cho nên cacao Việt Nam có khuynh hướng dùng để làm sôcôla, còn cacao của Côte d’Ivoire và Ghana thì có khuynh hướng nghiền ra để làm bột. Tóm lại, cacao Việt Nam nổi bật hơn ở những điểm sau đây: fruity, mùi sôcôla nhiều hơn, học hỏi được cách lên men của Bỉ cho nên cho vị men thơm hơn, nhưng bù lại thì sản lượng thấp hơn và vì diện tích canh tác ít thành ra sự phát triển chậm chạp hơn. Thống trị trên thế giới về số lượng vẫn là Côte d’Ivoire và Ghana. Nhưng nhiều người làm chocolate boutique ở Bỉ,  Pháp, Hà Lan mua hạt cacao của Việt Nam để làm hương vị riêng của họ. Giá của hạt cacao Việt Nam luôn giữ cao bởi vì cũng có nhu cầu. Riêng Vinacacao có những dòng sản phẩm rất dễ ăn, như là cốm gạo Hà Nội, sôcôla ngọt, hoặc là sôcôla yaourt. Ngoài hữu cơ ( organic ), dòng sản phẩm của Vinacacao còn được gọi là single origin, tức là 100% sôcôla ở Việt Nam. Giống như rượu vang Pháp, nho trồng ở đâu thì nó quyết định vị ngon của nó. Hiện nay Vinacao phát triển dòng mạnh nhất vừa là hữu cơ, vừa có

  3. Jul 20

    Việt Nam : Bộ Công An có vai trò ngày càng lớn trong bộ máy nhà nước

    "Bộ Công An là cơ quan có ảnh hưởng lớn nhất tại Việt Nam. Trong bộ máy Nhà nước, cảnh sát và các cơ quan tình báo được coi là những công cụ chủ yếu để bảo tồn chế độ". Bộ Công An cũng được lợi nhất trong cuộc cải cách hành chính 2025, do ông Tô Lâm khởi xướng. Nhìn chung, bộ Công An đang tăng cường tự chủ so với bộ Quốc Phòng, một đối thủ lớn trong phát triển công nghiệp và kinh tế. Vai trò của bộ được tăng cường trong nhiều lĩnh vực, mở rộng sang hoạt động kinh tế, truyền thông (MobiFone), mua sắm trang thiết bị… Từ cuối năm 2025, vai trò của bộ Công An còn được mở rộng ra quy mô thế giới, thể hiện qua Đối thoại 3+3 với Trung Quốc, bao gồm quan chức ngoại giao, quân sự và công an. Đây là phần giải thích : “Bộ Công An đóng vai trò chính trị như thế nào tại Việt Nam?” nằm trong 100 câu hỏi trong cuốn sách mới Le Việt Nam. Au carrefour d'une nouvelle Asie. En 100 questions (Việt Nam : Giữa ngã ba của một châu Á mới) của giám đốc nghiên cứu Benoît de Tréglodé, Viện Nghiên cứu Chiến lược của Trường Quân sự Pháp (IRSEM).  Nhà nghiên cứu Benoît de Tréglodé trả lời một số câu hỏi của RFI Tiếng Việt. RFI : Tháng 05/2026, ông đã xuất bản cuốn sách mới có tựa đề, tạm dịch Việt Nam : Giữa ngã ba của một châu Á mới. Trong 100 câu hỏi. Trong phần giới thiệu, ông viết : Có một thỏa ước ngầm đang định hình mối quan hệ giữa Nhà nước-đảng và xã hội : làm giàu cá nhân được khuyến khích với điều kiện người dân không tham gia vào lĩnh vực chính trị. Gần đây hơn, chế độ đã xây dựng thêm phần thứ hai cho khế ước xã hội này : Nhà nước-đảng bảo đảm an ninh, với cái giá là tăng cường kiểm soát xã hội. Có thể nhận thấy ở đây có hai ý nghĩa : “an ninh” và “tăng cường kiểm soát xã hội”. Vậy trước tiên, “an ninh” đang được chính quyền hiện tại diễn giải như thế nào? “An ninh” đóng vai trò gì trong chính sách nhà nước hiện nay ? Benoît de Tréglodé : Câu hỏi này gắn với một sự kiện diễn ra tại Hà Nội vào đầu tháng 6, khi tổng bí thư Tô Lâm có buổi làm việc với bộ trưởng Công An Lương Tam Quang. Trong cuộc gặp này, ông nhấn mạnh rằng quá trình phát triển của nền kinh tế Việt Nam, với mục tiêu tăng trưởng hàng năm ít nhất 10% - con số gây ấn tượng thực sự - trong nhiệm kỳ 2026-2031, phải đi đôi với việc xây dựng một xã hội có trật tự, kỷ luật, an toàn và phát triển. Theo định hướng đó, bảo đảm an ninh cho quá trình chuyển đổi và phát triển kinh tế của Việt Nam được đặt song hành với việc tăng cường an ninh. Đây không phải là một chi tiết nhỏ. Trong thời gian gần đây, hơn 5.000 camera ứng dụng trí tuệ nhân tạo đã được lắp đặt tại Hà Nội để giám sát an ninh, giao thông và người dân. Cách đây vài ngày, lực lượng An ninh Nhân dân đã nhận Huân chương sao vàng lần thứ tư. Đây là huân chương cao quý nhất, phần thưởng danh dự nhất, ghi nhận những đóng góp và thành tích của lực lượng công an Việt Nam trong lĩnh vực quốc phòng và trật tự công cộng. Vì vậy, thực tế hiện nay là ban lãnh đạo tại Việt Nam, với hạt nhân là ông Tô Lâm, nguyên là tướng công an, cùng các cộng sự thân cận, hầu hết là từ lực lượng công an, xác định công an và an ninh là trụ cột trung tâm trong nhiệm kỳ của tân tổng bí thư-chủ tịch nước Việt Nam. RFI : Yếu tố thứ 2 là “tăng cường kiểm soát xã hội”. Hiện tại chúng ta có thể rút ra ghi nhận gì từ điều này ? Benoît de Tréglodé : Đây không phải là một hiện tượng hoàn toàn mới. Thực tế, việc tăng cường kiểm soát xã hội và người dân đã diễn ra song hành với tiến trình mở cửa của Việt Nam kể từ khi chính sách Đổi mới được khởi xướng. Năm 2026, Việt Nam kỷ niệm 40 năm thực hiện chính sách mở cửa kinh tế. Ở đây có thể rút ra hai nhận định đáng chú ý. Thứ nhất, Việt Nam đã không ngừng mở rộng và đa dạng hóa các quan hệ kinh tế, chính trị với bên ngoài. Bên cạnh những đối tác truyền thống như Trung Quốc hay các nước ASEAN, mạng lưới đối tác quốc tế của Việt Nam ngày càng phong phú và rộng lớn hơn. Thứ hai, quá trình mở cửa kinh tế từ cuối những năm 1980 đã làm dấy lên những lo ngại trong giới lãnh đạo Việt Nam về nguy cơ tác động đến sự ổn định xã hội, cũng như sự gắn kết của giới trẻ với hệ thống. Vì vậy, đối với họ, mở cửa phải luôn đi đôi với kiểm soát và kỷ luật tập thể. Chính cách tiếp cận này lý giải tại sao hai yếu tố này - quá trình phát triển kinh tế và tăng cường kiểm soát - luôn đi liền với nhau. Tiếp theo đó, chúng ta thấy vai trò của lực lượng công an ngày càng được củng cố trong bộ máy nhà nước Việt Nam. Xu hướng này trở nên rõ nét hơn sau Đại hội đảng Cộng Sản lần thứ XIII cách đây 5 năm và đặc biệt kể từ khi ông Tô Lâm tiếp tục củng cố quyền lực tại Đại hội Đảng XIV vào đầu năm nay, đồng thời giữ hai chức vụ chủ tịch nước và tổng bí thư đảng Cộng Sản Việt Nam. Như vậy, lực lượng an ninh được đặt vào vị trí trung tâm trong chiến lược phát triển kinh tế của đất nước, với việc siết chặt kiểm soát trật tự xã hội thông qua hàng loạt công cụ pháp lý. Tiêu biểu là Luật An ninh mạng nổi tiếng, được hai bộ Công An Trung Quốc và Việt Nam cùng nhau suy nghĩ để soạn thảo, có hiệu lực ngày 01/01/2019, cùng với việc tăng cường hợp tác song phương trong lĩnh vực an ninh mà giới lãnh đạo Việt Nam đánh giá đặc biệt hiệu quả. RFI : Phải chăng công việc này đã có thể thực hiện được là nhờ bộ Công An ? Trong cuốn sách, ông đề cập ở câu hỏi số 41 đến “vai trò chính trị” của bộ này. Vậy cụ thể “vai trò chính trị” đó là gì ? Benoît de Tréglodé : Có hai điểm đáng chú ý. Thứ nhất, đó là việc ông Tô Lâm cùng các cộng sự từng công tác tại bộ Công An hiện đang nắm giữ nhiều vị trí quan trọng trong bộ máy nhà nước Việt Nam. Tuy nhiên, điều đáng quan tâm hơn là dần dần, thông qua các hoạt động liên quan đến công chúng, chủ quyền, an ninh và thậm chí cả đối ngoại, vai trò ngày càng nổi bật của chủ thể chính trị mới trong bộ máy nhà nước Việt Nam đã được thể hiện rõ : lực lượng cảnh sát và công an. Tôi lấy một ví dụ rất cụ thể là quan hệ song phương giữa Việt Nam với Trung Quốc, hoặc với Nga, Lào, Cam Bốt, hoặc một số nước láng giềng khác. Trước đây, các cuộc trao đổi song phương thường được tổ chức theo cơ chế 2+2 với đại diện từ bộ Ngoại Giao và Quốc Phòng. Tuy nhiên, trong vài tháng gần đây, cơ chế này đã được mở rộng thành 3+3, trong đó bộ Công An tham gia với vị thế ngang hàng với hai bộ trên. Điều đó có nghĩa là trong các cuộc gặp giữa Việt Nam và Trung Quốc nhằm thảo luận các vấn đề song phương, bên cạnh các nhà ngoại giao và đại diện quân đội, lực lượng công an của hai nước cũng tham gia vào quá trình trao đổi và xử lý các vấn đề chung. Việc đưa lực lượng công an tham gia ở cấp độ này phản ánh sự thay đổi trong bộ máy lãnh đạo Việt Nam. Rõ ràng là lãnh đạo Việt Nam đang trực tiếp nhấn mạnh vai trò chính trị quan trọng của lực lượng công an. RFI : Cuốn sách cũng nêu “Việc làm giàu cá nhân được khuyến khích với điều kiện người dân không tham gia chính trị”. Tại sao điều này lại quan trọng đối với Nhà nước-đảng ? Liệu thực tế được mô tả trong câu hỏi 30 (Tại sao người Việt Nam lại nói nhiều về tiền bạc?) có phải là cơ sở để thực hiện chính sách “giữ người dân tránh xa chính trị” hay không ? Benoît de Tréglodé : Trong cuốn sách, tôi nhiều lần trở lại với vấn đề này, bởi vì đây là một điểm then chốt để hiểu được sự tồn tại lâu dài của đảng Cộng Sản Việt Nam trong khoảng 40 năm qua. Đó là quá trình chuyển đổi từ một hệ tư tưởng mang tính giáo điều được du nhập từ bên ngoài - ở đây tôi sử dụng từ “giáo lý” (catéchisme) - vốn trong một thời gian dài được thể hiện qua chủ nghĩa Mác - Lênin dưới những hình thức được du nhập, điều chỉnh và thích nghi với bối cảnh văn hóa Việt Nam, sang một mô hình gần gũi hơn với xu hướng phát tri

  4. Jul 13

    Du lịch bền vững tại Việt Nam : Khi người trẻ và cộng đồng địa phương trở thành trung tâm

    Trong bối cảnh phát triển du lịch bền vững ngày càng trở thành ưu tiên của nhiều quốc gia, Tổ chức Quốc tế Pháp ngữ - Organisation internationale de la Francophonie (OIF) - đang triển khai tại Việt Nam dự án “Điểm đến Sinh thái Tài năng” - Destination Eco-Talent - với mục tiêu kết hợp đào tạo nghề, tạo việc làm cho thanh niên và phụ nữ tại các địa phương, đồng thời thúc đẩy các mô hình du lịch cộng đồng gắn với bảo tồn văn hóa và bảo vệ môi trường. Trả lời phỏng vấn đài RFI Tiếng Việt, bà Adjara Diouf, điều phối viên của chương trình Thúc đẩy Du lịch Bền vững của OIF chia sẻ về những chia sẻ về những mô hình đang được thử nghiệm tại Việt Nam, các thách thức trên thực địa cũng như tiềm năng của du lịch bền vững trong không gian Pháp ngữ. Adjara DIOUF : Tổ chức Quốc tế Pháp ngữ đã khởi động dự án Điểm đến Sinh thái Tài năng vào năm 2024 tại bốn quốc gia : Cabo Verde, Cam Bốt, Comores và Việt Nam. Mục tiêu tổng thể của dự án là góp phần vào khả năng hồi phục và trao quyền cho người dân, đặc biệt là cho giới trẻ và phụ nữ, để giải quyết các thách thức về môi trường, khí hậu, kinh tế và xã hội. Dự án này, được gọi là Điểm đến Sinh thái Tài năng (Eco-Talent), nhằm mục đích tạo ra việc làm và cơ hội thu nhập cho thanh niên, phụ nữ và cộng đồng dân cư sống ở nông thôn và các vùng ven đô thị. Chương trình tập trung vào khả năng tìm việc làm và phát triển nghề nghiệp của người lao động thông qua các sáng kiến ​​giáo dục và đào tạo, hướng tới các nghề trong ngành du lịch bền vững, đồng thời hỗ trợ phát triển và quảng bá các sản phẩm du lịch bền vững. Chương trình cũng nhấn mạnh đến sự phối hợp và kết nối các nỗ lực trong phát triển du lịch bền vững. Tại sao lại là Việt Nam ? Đơn giản là vì, trước hết, chúng tôi có văn phòng đại diện khu vực của Tổ chức Quốc tế Pháp ngữ (OIF) tại Việt Nam. Vì vậy, việc bắt đầu với quốc gia này là hoàn toàn hợp lý, đặc biệt là vì trụ sở cơ quan của tôi và nhóm điều phối đều được đặt tại Việt Nam. Hơn nữa, Việt Nam là một đất nước tuyệt vời với nhiều tiềm năng trong lĩnh vực du lịch bền vững và du lịch nói chung. RFI : Trong giai đoạn thực hiện, OIF đã phát triển các sáng kiến ​​và mô hình đổi mới nào để thúc đẩy du lịch bền vững ? Adjara DIOUF : Có thể coi dự án Điểm đến Du lịch Sinh thái này là một sáng kiến ​​đổi mới. Thứ nhất, dự án này của OIF triển khai một mô hình đổi mới kết hợp du lịch bền vững và đào tạo. Dự án được triển khai với sự hợp tác của một số trường đại học của Việt Nam, như Đại học Hà Nội, hay Đại học Sư phạm TP. Hồ Chí Minh … Mô hình này đề xuất các chương trình đào tạo chuyên ngành, tích hợp với hoạt động thực tiễn. Như vậy sinh viên có thể áp dụng lý thuyết vào thực tiễn, qua đó có sự hỗ trợ trực tiếp và cụ thể cho các cộng đồng dân cư. Dự án này cũng tích hợp các chương trình đào tạo nghề trong lĩnh vực du lịch, nhằm thúc đẩy hội nhập nghề nghiệp cho những thanh niên có hoàn cảnh khó khăn, ví dụ như ở các tỉnh. Đào tạo và giáo dục về du lịch bền vững là rất cần thiết. Bởi vì đào tạo nghề trong lĩnh vực du lịch bền vững có thể nâng cao nhận thức của giới trẻ về tầm quan trọng của việc bảo vệ môi trường và trên hết, giúp họ tìm được con đường hướng tới việc làm và hội nhập. Thứ hai, dự án này hỗ trợ phát triển các tuyến du lịch trải nghiệm thực tế. Ví dụ các sáng kiến ​​du lịch cộng đồng với nghề làm nón lá ở Tri Lễ hoặc nghề đan lát ở Bao La, Huế. Những sáng kiến ​​này hoàn toàn do cộng đồng ở địa phương quản lý. Khi loại bỏ các bên trung gian, người dân biến những kỹ năng của họ thành những trải nghiệm tạo ra thu nhập thực sự. Việc các địa phương nắm được chuỗi giá trị như vậy sẽ tạo ra 3 tác động : về kinh tế, thông qua việc tạo ra việc làm ; về xã hội, thông qua việc trao quyền cho phụ nữ và thanh niên; và về môi trường và văn hóa, thông qua việc bảo tồn di sản. Chính bằng cách này, Tổ chức Quốc tế Pháp ngữ (OIF) mang lại thêm giá trị thực sự, thông qua việc điều phối các đối tác sử dụng tiếng Pháp tham gia vào các sáng kiến ​​này. Hơn nữa, việc sử dụng tiếng Pháp thông qua giao tiếp và thậm chí cả việc học những điều cơ bản về ngôn ngữ cũng mang lại cho các cộng đồng ở địa phương thêm một lợi thế cạnh tranh. Nói cách khác, đây là một mô hình độc nhất, trong đó du lịch bền vững vừa trở thành một công cụ hội nhập kinh tế, vừa trở thành một phương tiện quảng bá cho khối Pháp ngữ tại Việt Nam. Và cuối cùng, để củng cố 2 hướng chủ đạo nói trên, tức là đào tạo và hỗ trợ phát triển các tuyến du lịch, OIF dự kiến ​mở một trung tâm Điểm đến Du lịch Sinh thái tại Việt Nam trong năm 2026. Trung tâm này sẽ được thiết kế như một trung tâm đa năng thực thụ, với nhiều bên tham gia để thúc đẩy du lịch bền vững. RFI : Bà có thông điệp gì gửi đến những thanh niên muốn tham gia vào lĩnh vực du lịch bền vững ? Adjara DIOUF : Đây là một câu hỏi thú vị. Trước hết, ai cũng biết rằng du lịch bền vững có tác động mạnh mẽ đến sự phát triển kinh tế và xã hội, bởi vì tạo ra nhiều việc làm trực tiếp và gián tiếp cho thanh niên, đặc biệt là ở các vùng nông thôn và vùng sâu vùng xa. Do nhiều thanh niên và các bên liên quan ở địa phương chưa được thông tin đầy đủ về những cơ hội mà du lịch bền vững mang lại, nên điều cần thiết là phải nâng cao nhận thức và thông tin cho họ về tiềm năng của lĩnh vực này, khuyến khích họ hướng tới lĩnh vực việc làm đầy triển vọng này. Du lịch bền vững có thể thúc đẩy việc làm mới, tạo ra những nghề nghiệp mới và bồi dưỡng tài năng mới cho giới trẻ. Tôi cũng có một số thông điệp khác. Như chúng ta đã biết, khu vực châu Á có sự đa dạng văn hóa rất lớn, với nhiều nền văn hóa, truyền thống và ngôn ngữ khác nhau, và tôi nghĩ rằng việc hiểu rõ những đặc điểm riêng này là rất quan trọng để tạo ra các sáng kiến ​​du lịch bền vững và tôn trọng cộng đồng địa phương. Du lịch bền vững cũng làm nổi bật văn hóa địa phương, khuyến khích giới trẻ trở thành đại sứ cho di sản của chính địa phương mình. Đây cũng là một nguồn cơ hội cho giới trẻ, ví dụ như những người muốn khởi nghiệp, phát triển các giải pháp sáng tạo trong lĩnh vực du lịch, bằng cách sử dụng công nghệ mới, để nâng cao trải nghiệm du lịch - họ rất giỏi trong lĩnh vực này - phát triển các sản phẩm du lịch mới, đồng thời bảo vệ môi trường. Và tôi muốn nói thêm rằng tiếng Pháp cũng là một công cụ mạnh mẽ để hội nhập xã hội trong khu vực này. Thành thạo tiếng Pháp làm tăng khả năng tìm việc làm và mức thu nhập cho giới trẻ làm việc trong ngành du lịch. RFI : Tổ chức Quốc tế Pháp ngữ (OIF) có kết nối Việt Nam với các nước Pháp ngữ khác để chia sẻ kinh nghiệm không, và theo ý kiến ​​của bà, những kinh nghiệm quốc tế nào có thể được áp dụng hiệu quả tại Việt Nam? Adjara DIOUF : Vâng, đây chính là hoạt động tiếp theo mà chúng tôi sẽ thực hiện. Hiện tại, chúng tôi đang trong giai đoạn thí điểm, và bước tiếp theo là kết nối các quốc gia hưởng lợi từ giai đoạn thí điểm để họ có thể trao đổi và chia sẻ kinh nghiệm tốt nhất. Mặt khác, Việt Nam rất mạnh về du lịch cộng đồng và có thể truyền cảm hứng cho các quốc gia nói tiếng Pháp khác. Cũng có những kinh nghiệm từ các nơi khác có thể được áp dụng tại Việt Nam. Ví dụ, kinh nghiệm quản lý các công viên quốc gia của Canada là rất đáng khích lệ. Việc áp dụng hạn ngạch khách tham quan, hệ thống đặt chỗ, các quy định nghiêm ngặt và giáo dục môi trường giúp bảo tồn hệ sinh thái. Ví dụ, kiểu sáng kiến ​​này có thể được áp dụng tại các địa điểm rất nổi tiếng vào những thời điểm nhất định trong năm, khi lượng khách du lịch rất đông, để hạn chế tác động của du lịch đại chúng. Một sáng kiế

  5. Jul 6

    Sân bay quốc tế Long Thành: Hệ thống giao thông kết nối vẫn chưa theo kịp

    Theo lịch trình dự kiến, sân bay quốc tế Long Thành sẽ được đưa vào hoạt động kể từ tháng 12 năm nay song song với sân bay Tân Sơn Nhất. Tuy nhiên, có nhiều yếu tố khiến dự án đầy tham vọng này của Việt Nam có nguy cơ bị chậm trễ. Kế hoạch chuyển các chuyến bay quốc tế từ Tân Sơn Nhất đến Long Thành đang đặt ra nhiều vấn đề, nhất là vì hệ thống giao thông kết nối hai sân bay vẫn chưa theo kịp. Dự án Cảng hàng không quốc tế Long Thành được xây dựng trên diện tích khoảng 5.000ha, có tổng mức đầu tư gần 16 tỷ đôla, với Tổng công ty Cảng hàng không Việt Nam (ACV) là chủ đầu tư dự án. Riêng giai đoạn 1 được thiết kế với công suất 25 triệu lượt hành khách và 1,2 triệu tấn hàng hóa mỗi năm. Mới đây, ông Nguyễn Đức Hùng, Quyền Tổng Giám đốc ACV đã cam kết với thủ tướng Lê Minh Hưng là sẽ hoàn thành toàn bộ dự án vào tháng 12/2026 và đưa sân bay này vào hoạt động. Tuy nhiên, trả lời RFI Việt ngữ ngày 03/07/2026, tiến sĩ Nguyễn Thiện Tống, nguyên Chủ nhiệm bộ môn Kỹ thuật hàng không Trường Đại học Văn Lang, cho rằng không cần xây dựng sân bay Long Thành một cách gấp rút như thế: "Tôi thấy là không hiểu sao mà phần lớn như là bị tự kỷ ám thị, tự mình tin  như vậy, rồi nói như vậy và cùng nhau nói như vậy, không ai nói ngược lại. Tức là tại sao Long Thành phải hoạt động vào năm 2026? Tại sao đặt những mốc thời gian như vậy, trong khi một công trình xây dựng đòi hỏi thời gian để nó có thể là hoàn tất, bảo đảm chất lượng hoạt động khi hoàn tất, chứ không phải đặt mức phải bắt đầu hoạt động, rồi thúc đẩy hoàn tất cho  kịp cái mốc đó. Thứ nhất là không bảo đảm được kết quả như là để tự nó theo đúng điều kiện khách quan để nó hoàn tất. Thứ hai là sẽ tốn kém. Thúc ép như vậy thì đưa đến chuyện là mọi việc đều  gấp rút, thời gian làm thêm ngoài giờ, làm thêm ban đêm tốn rất nhiều chi phí mà không cần thiết. Bởi vì có nhất thiết Long Thành phải hoạt động cuối năm 26 hay đầu năm 27 không? Chậm 1 năm, ngay cả chậm hơn nữa cũng chẳng sao cả. Người ta vịn vào một cái cớ rất là vô lý là sân bay Tân Sơn Nhất quá tải. Quá tải là gì? Quá tải là vượt quá sức hoạt động của nó. Thật sự quá tải chỉ xảy ra vào dịp Tết mà sân bay vẫn chịu đựng được. Tết vừa rồi có ngày tiếp nhận trên cả ngàn chuyến bay mà sân bay vẫn hoạt động. Cho nên không có một sự cấp bách gì mà phải đưa sân bay Long Thành vào hoạt động lấy cớ là vì Tân Sơn Nhất quá tải."  Theo báo chí trong nước, vào đầu tháng 7,  AVC đã đề xuất với chính phủ là thay vì chuyển toàn bộ hoạt động khai thác từ sân bay Tân Sơn Nhất sang Long Thành, hai sân bay sẽ được vận hành đồng thời theo phương án: Tân Sơn Nhất tiếp tục khai thác toàn bộ các đường bay nội địa cùng các đường bay quốc tế ngắn và trung bình, trong khi Long Thành “từng bước đảm nhận các đường bay quốc tế phù hợp nhằm phát huy công suất ngay từ giai đoạn đầu đưa vào khai thác”. Phương án này được xem là “nhằm khai thác tối đa năng lực của cả hai sân bay”. Cụ thể, trong giai đoạn đầu tiên (dự kiến từ 1/12/2026 – 27/3/2027), ACV đề xuất chuyển toàn bộ các chuyến bay quốc tế đường dài từ sân bay Tân Sơn Nhất sang sân bay Long Thành. Giai đoạn 2 (từ 28/3/2027 đến hết năm 2030), toàn bộ các chuyến bay quốc tế còn lại sẽ chuyển sang sân bay mới. Giai đoạn sau năm 2030 sẽ chuyển toàn bộ các chuyến bay quốc tế thường lệ sang khai thác tại sân bay Long Thành, còn Tân Sơn Nhất sẽ chủ yếu khai thác các chuyến bay nội địa. Ngày 30/06 vừa qua, ACV thông báo trong số các hãng nội địa, 3 hãng Vietnam Airlines, Vietjet Air và Vietravel Airlines đã chính thức đăng ký khai thác sân bay Long Thành. Đối với các hãng hàng không quốc tế, ACV trước đó cho biết đại diện 34 hãng "đã khảo sát thực địa và chuẩn bị cho việc khai thác sân bay Long Thành." Nhưng trong giới chuyên gia ở Việt Nam, không ít người quan ngại về tính khả thi của kế hoạch chuyển các chuyến bay quốc tế đến sân bay Long Thành. Trả lời Tạp chí Hàng không ngày 21/04/2026, ông Nguyễn Ngọc Luận, tổng giám đốc Công ty Cổ phần Kinh doanh khí miền Nam, cho rằng các hãng hàng không Việt Nam sẽ gặp nhiều khó khăn khi phải khai thác một phần các chuyến bay quốc tế tại sân bay Long Thành trong thời gian tới. Phương án khả dĩ hơn theo ông là trước mắt chỉ chuyển từ Tân Sơn Nhất về Long Thành các hãng hàng không nước ngoài có chặng đến và đi quốc tế (không khai thác quốc nội). Khách bay quốc tế các chặng này sẽ tự nối chuyến bằng xe hơi. Tuy nhiên phương án này lại chưa thuận tiện cho hành khách nối chuyến trong thời gian đầu do kết nối giao thông giữa hai sân bay chưa hoàn thiện.  Nếu hạ cánh tại sân bay Long Thành mà muốn đi tiếp quốc nội thì hành khách phải đón xe về Tân Sơn Nhất (mất có khi đến 2 tiếng), cho nên khách từ nhiều nước có có thể sẽ chọn bay với hãng khác (như Thai Airways hay Singapore Airlines) quá cảnh tại Bangkok/Singapore để từ đó bay thẳng đến các điểm du lịch của Việt Nam. Về phần tiến sĩ Nguyễn Thiện Tống, ông nêu bật những thiệt hại của kế hoạch chuyển các chuyến bay đến Long Thành quá sớm: "Đó là vấn đề rất quan trọng mà người ta không suy nghĩ đúng mức về mặt thiệt hại kinh tế xã hội nếu như cưỡng ép những chuyến bay đang có thể hoạt động tại Tân Sơn Nhất ra Long Thành. Tôi có thể nói bất cứ người khách nào hiện đang sử dụng Tân Sơn Nhất mà bị ép buộc phải ra Long Thành, thì chắc chắn họ không muốn. Bao giờ Tân Sơn Nhất quá tải, cái đó là do các hãng hàng không quyết định : Nếu họ thấy tìm thêm slot để mở chuyến bay không có, Tân Sơn Nhất hết chỗ rồi, thì họ sẽ mở slot mới bên sân bay mới và nếu có đủ khách họ mới mở chuyến bay đó. Tôi nghĩ việc thực hiện những chuyến bay ở Long Thành phải để cho tự nhiên xảy ra, chứ không phải bằng mệnh lệnh hành chánh, điều hành khách từ sân bay này sang sân bay khác. Việc quản lý các sân bay Việt Nam rất vô lý, tập trung thành một công ty gọi là Tổng công ty Hàng không Việt Nam ACV, một công ty quản lý và có quyền điều động mọi thứ với nhau, rất là vô lý. Đơn cử bên Úc, họ xây một sân bay thứ nhì của Sydney, câu hỏi đặt ra là ai quản lý sân bay thứ nhì đó? Người ta bảo ưu tiên cho sân bay thứ nhất, nếu muốn, họ quản lý luôn sân bay thứ nhì. Nhưng họ đã từ chối, chỉ quản lý sân bay Kingsford Smith thôi. Cho nên người ta mới thành lập một cơ quan quản lý sân bay Sydney thứ nhì. Có nghĩa hai sân bay độc lập, bổ sung cho nhau, nhưng cạnh tranh với nhau. Và như vậy các hãng máy bay cảm thấy sân bay mới có thuận lợi gì thì họ đăng ký sử dụng sân bay đó. Sân bay Long Thành hiện nay cũng thông báo có nhiều hãng máy đăng ký để sử dụng. Nếu đó là đăng ký một tự nguyện thì tốt và nếu thời gian hoạt động mà có lợi người ta sẽ tăng dần cái chuyến bay tại Long Thành. Còn nếu không có lợi thì số lượng hành khách Long Thành sẽ ít và tôi nghĩ, nếu hay thì nó sẽ tăng từ từ một cách tự nhiên. Với tinh thần đó thì không có gì phải gấp rút. Hiện nay tôi thấy nó vô lý ở chỗ là có vẻ họ vẫn dùng mệnh lệnh nhà nước của thời kỳ mấy chục năm trước. Tôi cho rằng bắt buộc toàn bộ hay phần lớn các chuyến bay quốc tế dời ra Long Thành sẽ gây thiệt hại cho hãng hàng không và gây thiệt hại cho hành khách tại sân bay Tân Sơn Nhất, gây thiệt hại cho nền kinh tế." Ngoài ra theo trang mạng The Traveler trong bài viết đăng ngày 23/06/2026, các chuyên gia theo dõi ngành hàng không Việt Nam nhận định “tiến độ dự án Long Thành hiện rất sít sao, hầu như không còn biên độ dự phòng cho các sự cố do thời tiết, tắc nghẽn nguồn cung,  hay thay đổi thiết kế. Dù tiến độ thi công thường được báo cáo dưới dạng phần trăm hoàn thành, giới quan sát cảnh báo rằng những hạng mục phức tạp nhất – bao gồm hoàn thiện nội thất, tích hợp hệ thống và chứng nhận an toàn – vẫn còn ở phía trước và thường tiềm ẩn rủi ro chậm trễ cao hơn.” Cũng theo The Traveler, "những lo ngại về nguy cơ c

  6. Jun 29

    Ba cuộc điều tra của Mỹ và tác động đến thương mại với Việt Nam

    Việt Nam là đối tượng ba cuộc điều tra chỉ trong vài tháng theo Mục 301 của Đạo luật Thương mại năm 1974 của Mỹ: sản xuất dư thừa, lao động cưỡng bức, bảo hộ và thực thi quyền sở hữu trí tuệ. Ngoài ra, theo VOV, Mỹ mở 82 cuộc điều tra phòng vệ thương mại với Việt Nam, đứng đầu các nước điều tra (321 vụ tính đến hết tháng 05/2026). Những biện pháp này có thể dẫn đến “hành động khắc phục” trong bối cảnh thặng dư thương mại của Việt Nam với Mỹ không ngừng tăng. Tại sao các cuộc điều tra lại được tiến hành vào thời điểm này ? Những biện pháp này của Mỹ sẽ tác động như thế nào đến Việt Nam, cũng như đến mối quan hệ song phương ? RFI Tiếng Việt phỏng vấn giảng viên-nhà nghiên cứu Laurent Gédéon, Đại học Công giáo Lyon (Université catholique de Lyon) và Viện Đông Á (IAO), Trường Sư phạm Lyon tại Pháp (Ecole normale supérieure de Lyon). RFI : Việt Nam là đối tượng của ba cuộc điều tra của Mỹ (sản xuất dư thừa, lao động cưỡng bức, bảo hộ và thực thi quyền sở hữu trí tuệ). Tại sao ba cuộc điều tra này lại được tiến hành vào thời điểm này ? Laurent Gédéon : Trước tình hình hiện nay, chúng ta nhìn lại một chút diễn biến. Ngày 16/05/2025, sau cuộc họp bộ trưởng APEC lần thứ 31 về thương mại tại Jeju (Hàn Quốc), bộ trưởng Công Thương Việt Nam khi đó là ông Nguyễn Hồng Diên, trưởng đoàn đàm phán Việt Nam, đã đàm phán với đại diện Thương Mại Mỹ Jamieson Greer. Hai bên thông báo đạt được thỏa thuận về các nguyên tắc, cách tiếp cận, định hướng nội dung và kế hoạch đàm phán nhằm hướng tới một hiệp định thương mại song phương. Tiếp đó, hai vòng đàm phán kỹ thuật được tổ chức tại Washington vào tháng 05 và tháng 06/2025. Đến tháng 10/2025, Việt Nam và Mỹ công bố bản tuyên bố chung thiết lập khuôn khổ cho một hiệp định thương mại song phương công bằng và cân bằng. Tuy nhiên, sau nhiều tháng đàm phán, hai bên vẫn chưa đạt được thỏa thuận cuối cùng. Các cuộc đàm phán vẫn bị đình trệ do những bất đồng quan trọng, đặc biệt là về tiếp cận thị trường và thặng dư thương mại rất lớn của Việt Nam với Mỹ, không ngừng gia tăng khi nhiều doanh nghiệp quốc tế chuyển hoạt động sản xuất sang Việt Nam trong quá trình tái cơ cấu chuỗi cung ứng toàn cầu. Tình hình này càng trở nên đáng lo ngại hơn khi Mỹ là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam, với kim ngạch xuất khẩu đạt 193 tỷ đô la năm 2025. Tuy nhiên, cán cân thương mại lại mất cân đối khi thâm hụt thương mại của Mỹ với Việt Nam tăng lên 178,2 tỷ đô la. Đây có thể là một trong những yếu tố giải thích cho việc Mỹ mở hai cuộc điều tra đầu tiên nhắm vào Việt Nam vào tháng 03/2026, theo Mục 301 của Đạo luật Thương mại năm 1974, tập trung vào các hành vi thương mại không công bằng, (tình trạng dư thừa năng lực sản xuất và lao động cưỡng bức). Đọc thêmTrước nguy cơ Mỹ áp thuế, Việt Nam trấn áp mạnh nạn vi phạm bản quyền trực tuyến Đến ngày 29/05, ông Jamieson Greer thông báo cuộc điều tra thứ ba, cũng dựa trên Mục 301 của Đạo luật Thương mại năm 1974, về chính sách bảo hộ và thực thi quyền sở hữu trí tuệ của Việt Nam nhằm đánh giá tác động đối với thương mại Mỹ. Cuộc điều tra này có thể tạo cơ sở để Washington áp dụng thêm các biện pháp thuế quan đối với hàng hóa Việt Nam. Quyết định của ông Greer được đưa ra sau báo cáo thường niên công bố ngày 30/04, trong đó, Việt Nam bị Mỹ chỉ định là « mối quan ngại lớn » và đặc biệt là bị xếp vào nhóm « Ngoại quốc ưu tiên » về quyền sở hữu trí tuệ. Đây là mức đánh giá nghiêm trọng nhất dành cho các quốc gia có những hành động và chính sách gây ảnh hưởng tiêu cực lớn đến quyền sở hữu trí tuệ của Mỹ. Đây là lần đầu tiên sau 13 năm, Việt Nam bị đưa vào nhóm này. Việc bị xếp hạng cũng phản ánh quan điểm của Washington rằng Việt Nam chưa đạt được tiến triển đáng kể trong các cuộc đàm phán nhằm cải thiện việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ. Trong khi Trung Quốc, Ấn Độ, Chilê, Indonesia, Nga và Venezuela chỉ nằm trong « Danh sách giám sát ưu tiên », Việt Nam là quốc gia duy nhất thuộc nhóm « Ngoại quốc ưu tiên ». Bối cảnh kinh tế bất lợi và sự chậm trễ trong đàm phán buộc Washington gia tăng áp lực đối với Hà Nội. Cũng có thể do sắp đến cuộc bầu cử giữa kỳ tại Mỹ (tháng 11/2026), tổng thống Donald Trump cần những chiến thắng, cả về kinh tế lẫn quân sự, để thể hiện với cử tri của ông. RFI : Chính quyền Mỹ có thể sẽ đưa ra những biện pháp nào trong trường hợp Việt Nam bị cáo buộc ? Laurent Gédéon : Những phân tích trên cho thấy có nhiều khả năngchính quyền Trump sẽ gia tăng sức ép thương mại đối với Việt Nam do nền kinh tế Việt Nam, như đã đề cập, phụ thuộc rất lớn vào xuất khẩu, đặc biệt là xuất khẩu sang thị trường Mỹ. Trong bối cảnh đó, tổng thống Mỹ có thể có đủ cơ sở pháp lý để đơn phương áp đặt thuế quan đối với hàng hóa nhập khẩu từ Việt Nam, với lý do Việt Nam có những hành vi thương mại không công bằng. Tuy nhiên, đại diện Thương Mại Mỹ cho biết sẽ tham vấn tổng thống Donald Trump để đánh giá có cần áp dụng các « biện pháp khắc phục » hay không. Ông cũng nhấn mạnh quá trình này có thể kéo dài nhiều tháng. Trong một tuyên bố, ông cũng cho biết sẽ theo dõi liệu Việt Nam có chủ động giải quyết những quan ngại tồn tại lâu nay bằng các biện pháp « bền vững và đủ sức răn đe nhằm ngăn ngừa các vi phạm tương tự trong tương lai » hay không. Điều này cho thấy Hoa Kỳ hiện vẫn ưu tiên đàm phán và muốn duy trì quan hệ với Việt Nam, quốc gia được Washington xem là đối tác quan trọng trong bối cảnh địa-chính trị châu Á đang rất nhạy cảm và phức tạp. Đọc thêmViệt Nam có thể đáp ứng các yêu cầu của Mỹ trước khi mối quan hệ thương mại rạn nứt ? Cũng có khả năng Washington sẽ gây sức ép để Hà Nội ký Hiệp định Thương mại Đối ứng (Agreement on Reciprocal Trade - ART), tương tự như thỏa thuận giữa Mỹ và Malaysia. Một hiệp định như vậy có thể bao gồm các điều chỉnh về thuế quan, tăng cường hợp tác theo ngành và trong lĩnh vực quy định pháp lý, cũng như mở rộng khả năng tiếp cận thị trường của cả hai bên. Cần lưu ý rằng một trong những hệ quả của các hiệp định ART là tăng cường sự gắn kết giữa các đối tác với Hoa Kỳ, kể cả trong bối cảnh cạnh tranh kinh tế Mỹ - Trung ngày càng gay gắt. Nhìn chung, Mỹ hoàn toàn có khả năng áp dụng các biện pháp bất lợi đối với Việt Nam, đặc biệt là thuế quan, nhưng trước mắt nhiều khả năng là Washington chưa hành động ngay, ưu tiên đàm phán và sẽ chờ. RFI : Những cuộc điều tra này, cũng như bất kỳ biện pháp trừng phạt nào nếu có từ Mỹ, có thể sẽ tác động như thế nào đến Việt Nam ? Laurent Gédéon : Nếu các biện pháp trừng phạt được áp dụng, chúng sẽ gây tác động đáng kể đối với Việt Nam. Trước tiên, cần nhắc lại kể từ khi Hiệp định Thương mại song phương được ký năm 2000, kim ngạch nhập khẩu của Mỹ từ Việt Nam đã tăng mạnh mẽ, từ 1 tỷ đô la năm 2001 lên 193 tỷ đô la năm 2025. Những con số này rất ấn tượng nhưng cần đặt chúng trong bối cảnh tổng thể. Dù Việt Nam đạt thặng dư thương mại song phương rất lớn với Mỹ, lên tới 178 tỷ đô la năm 2025 nhưng hàng hóa Việt Nam chỉ chiếm khoảng 5,6% tổng kim ngạch nhập khẩu của Mỹ (3.400 tỷ đô la) và chiếm khoảng 0,6% GDP của Mỹ. Những yếu tố này cho thấy Washington đang nắm lợi thế trong đàm phán với Hà Nội. Ngược lại, do nền kinh tế Việt Nam phụ thuộc đáng kể vào xuất khẩu sang thị trường Mỹ (khoảng 27% tổng kim ngạch xuất khẩu), các biện pháp trả đũa thương mại từ Washington có thể gây tác động rất lớn đến nền kinh tế Việt Nam. Đọc thêmThương mại : Tách Mỹ hay rời Trung Quốc ? Việt Nam tìm cách cân bằng đôi bên Đó cũng là lý do Hà Nội đã phản ứng rất nhanh trước các quan ngại của Mỹ. Thủ tướng Lê Minh Hưng khẳng định Việt Nam quyết tâm chống các hành vi vi phạm quyền sở hữu trí tuệ. Ngày 07/05, chỉ m

  7. Jun 22

    Chiến tranh Trung Đông khiến Việt Nam phải dựa nhiều hơn vào điện than

    Cũng như nhiều nước khác, trước tình hình nguồn cung dầu hỏa bị gián đoạn do chiến tranh Mỹ-Iran, để bảo đảm an ninh năng lượng, Việt Nam buộc phải dựa vào điện than nhiều hơn cho dù làm như vậy sẽ càng khó mà thực hiện các cam kết về chống biến đổi khí hậu. Theo Cơ quan Thông tin Năng lượng Mỹ (EIA), hơn 80% lượng dầu thô và khí tự nhiên hóa lỏng (LNG) đi qua eo biển Hormuz là được xuất khẩu sang châu Á. Việc tuyến hàng hải này bị phong tỏa đẩy khu vực vào tình thế vô cùng khó khăn. Đặc biệt, do nguồn cung khan hiếm, giá khí LNG đã tăng vọt ở thị trường châu Á, trong khi giá than tăng ít hơn nhiều, cho nên nhiều nước trong khu vực quay trở lại với điện than.  Trả lời RFI Việt ngữ ngày 12/05/2026, giáo sư Phạm Duy Hiển, nguyên Viện trưởng Viện nghiên cứu hạt nhân Đà Lạt, cũng ghi nhận đây là tình hình chung của các nước châu Á: “Không chỉ riêng Việt Nam mà hầu hết nhiều nước ở châu Á và các nước lớn như Trung Quốc, Ấn Độ ... đều bị tác động. Trung Quốc là một nước có rất nhiều than, cho nên có lợi thế. Bây giờ họ quay sang sử dụng than nhiều hơn trong một thời gian, tuy cũng biết làm như thế là ảnh hưởng đến lời hứa của Trung Quốc về cắt giảm khí thải gây hiệu ứng nhà kính. Các chuyên gia, các công ty về quản lý năng lượng lớn thế giới đều dự báo Trung Quốc trong 5 năm tới vẫn phải dựa vào việc mở rộng các nhà máy điện chạy than, chứ không có cách nào khác cả. Ấn Độ cũng vậy. Còn những nước như Hàn Quốc và Nhật Bản trước tình hình hiện nay đều phải cho phép nâng lên tỷ lệ điện than.”  Theo nhận định của Discovery Alert, trang thông tin chuyên về khai thác mỏ trên thế giới, trong bài viết đăng ngày 13/04/2026, “không giống như các quốc gia phát triển có các nguồn năng lượng đa dạng và dự trữ chiến lược dồi dào, các nền kinh tế nhỏ hơn như Việt Nam thường phụ thuộc nhiều vào nhiên liệu nhập khẩu và thiếu tính linh hoạt về cơ sở hạ tầng để nhanh chóng chuyển đổi giữa các nguồn năng lượng trong trường hợp khẩn cấp về nguồn cung. Hơn nữa, các quốc gia này còn đối mặt với tác động của thị trường khí hóa lỏng (LNG) và sự biến động giá dầu, làm trầm trọng thêm tính dễ bị tổn thương của kinh tế.”  Discovery Alert ghi nhận việc Việt Nam dựa vào điện than khi chiến tranh Mỹ-Iran leo thang đã trở nên rõ nét trong tháng 3/2026, khi sản lượng điện than tăng vọt, chiếm 56% tổng sản lượng điện, mức cao nhất kể từ giữa năm 2025. Giáo sư Phạm Duy Hiển cho rằng trong thời gian tới, Việt Nam sẽ phải tiếp tục dựa nhiều vào điện than, vì các nguồn điện năng khác không đủ để đáp ứng nhu cầu: “Việt Nam hiện nay đã sống với điện than. Điện than bình thường chiếm tỷ lệ gần 50% công suất phát điện, cho nên Việt Nam cũng bị ảnh hưởng. Mà về điện than, Việt Nam phải đi mua thêm than của các nước như Indonesia và Trung Quốc, cụ thể là tháng 3 vừa rồi đã nhập đến mấy triệu tấn than. Dự kiến con số đó có thể sẽ phải tăng lên. Kinh phí để nhập khẩu than cũng lớn, nhưng bây giờ dầu sao thì vẫn hơn là không có. Cho nên tạm thời trong một thời gian phải sử dụng điện than và theo tôi nghĩ Việt Nam cũng chưa có cách nào khác. Còn nếu dựa vào những nguồn năng lượng khác, thì bây giờ nguồn năng lượng tái tạo cũng đã được khai thác khá nhiều rồi và cũng có tác dụng nhất định. Nhưng nguồn năng lượng này cũng hạn chế, không thể nâng lên nhiều hơn nữa.  Gần đây nhiều người nói về điện hạt nhân. Nếu có được thì điện hạt nhân sẽ là một giải pháp tương đối lớn để giải quyết vấn đề thiếu điện thay cho than. Đó là một loại năng lượng sạch. Thế nhưng chưa biết là bao giờ mới có thể đặt bút ký với một đối tác bên ngoài để cung cấp nhà máy điện hạt nhân cho mình. Từ thời điểm đó thì sau hàng chục năm nữa may ra mới có điện. Kinh nghiệm của Bangladesh cho thấy nước này bắt đầu có kinh phí để xây dựng và có các hợp đồng liên chính phủ là vào năm 2017. Nhưng tới cuối năm 2026 thì may ra mới có thể đưa điện lên lưới được. Gần đây thế giới cũng hô hào đẩy mạnh điện hạt nhân, nhưng điện hạt nhân đâu có dễ làm đối với Việt Nam cũng như đối với những nước khác . Đó không phải là một công nghệ có sẵn như than. Nhà máy điện chạy than thì quá là cổ điển rồi, mua về là có thể lắp đặt và cho chạy được ngay. Còn điện hạt nhân thì cần bao nhiêu thứ: cơ sở hạ tầng, năng lượng, nhiên liệu, an toàn….  Bây giờ có một hy vọng là khí thiên nhiên từ các mỏ khí mới được phát hiện được, sẽ giúp giải quyết vấn đề cân bằng năng lượng ở Việt Nam." Thế nhưng vấn đề là hiện nay công suất điện khí còn khiêm tốn của Việt Nam càng làm hạn chế các giải pháp thay thế trong thời kỳ khủng hoảng. Các nhà máy điện khí chỉ sản xuất được 2,1 TWh trong tháng 3 năm 2026, chiếm khoảng 7% tổng sản lượng điện. Hạn chế về cơ sở hạ tầng này có nghĩa là khí đốt tự nhiên không thể đóng vai trò cơ chế thay thế tức thời khi giá năng lượng nhập khẩu tăng vọt, hoặc khi nguồn cung bị gián đoạn.  Việt Nam cũng đang phải sản xuất than nhiều hơn để đáp ứng cho các nhà máy nhiệt điện. Theo báo chí trong nước, ngày 15/04, bộ Nông Nghiệp và Môi Trường đã đề nghị chính phủ cho phép tăng công suất khai thác than, cụ thể là cho phép khai thác vượt không quá 15% công suất đối với các giấy phép khai thác than đang còn hiệu lực, nhằm đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia. Theo bộ này, “than trong nước tiếp tục giữ vai trò là nguồn năng lượng nền tảng và năng lực khai thác thực tế của các mỏ còn dư địa để tăng sản lượng”.  Nhà máy Nhiệt điện Vũng Áng II ở tỉnh Hà Tĩnh cũng vừa được khánh thành ngày 18/04. Đây là dự án hợp tác giữa Nhật Bản và Hàn Quốc, trong đó 60% cổ phần thuộc về các công ty Nhật Bản đứng đầu là tập đoàn Mitsubishi và 40% cổ phần thuộc về Tập đoàn Điện lực Hàn Quốc. Với tổng công suất hơn 1.300MW, Nhà máy Nhiệt điện Vũng Áng II được giới thiệu là sử dụng “công nghệ hiện đại nhất đối với các nhà máy nhiệt điện than tại Việt Nam”, làm giảm lượng tiêu hao nhiên liệu dẫn đến cắt giảm phát thải. Vấn đề đặt ra là phải làm sao hạn chế tác động của các nhà máy điện than đối với môi trường và khí hậu, bởi vì Việt Nam còn phải thực hiện những cam kết với quốc tế về chống biến đổi khí hậu. Giáo sư Phạm Duy Hiển ghi nhận: “Các nhà máy điện chạy than bây giờ cũng sử dụng những công nghệ tương đối là tiên tiến, tránh ô nhiễm môi trường. Ô nhiễm môi trường nay cũng đỡ một phần là bởi vì ngày xưa các nhà máy phát ra bừa bãi từ ống khói chứ bây giờ thì có những quy chế nhất định. Các khí thải từ nhà máy điện than thì cũng đã bắt đầu được xử lý để không gây ô nhiễm môi trường. Rồi còn phải xử lý những xỉ than. Lâu lâu thì vẫn thấy nói có ô nhiễm chỗ này chỗ khác, nhưng tôi chắc là dần dần rồi cũng phải giải quyết. Ô nhiễm ở chỗ nào thì người dân ở đó sẽ phản ảnh, các cơ quan có trách nhiệm phải giải quyết. Thực ra mà nói thì dùng điện than không chỉ làm tăng lượng khí CO2, mà còn có rất nhiều khí độc khác từ nhà máy điện than thải ra. Trung Quốc đã thành công trong vấn đề này, cho nên bắt đầu từ 2006, tức là cách đây đến 20 chục năm, họ đã có quyết định của nhà nước là bắt buộc giảm phát thải các cái khí độc từ các nhà máy điện chạy than. Và họ đã thành công nhiều, tức là giảm ô nhiễm khá nhiều. Thế thì bây giờ nếu sản lượng điện than nhiều quá, thì có lẽ cũng phải đề nghị nhà nước có một cách kiểm tra toàn diện, làm thế nào để các khí phát thải ô nhiễm, không chỉ CO2 và các khí ô nhiễm khác đều thấp, phù hợp với các tiêu chuẩn về môi trường ở Việt Nam."  Cũng theo chiều hướng đó, Việt Nam dự kiến sẽ đóng cửa các nhà máy điện than cũ trên 40 năm tuổi, nếu các nhà máy này không thể chuyển đổi sang sử dụng nhiên liệu sạch như hydrogen, amoniac xanh. Cụ thể, ngày 23/03, chính p

  8. Jun 15

    Việt Nam : Mắt xích quan trọng trong chiến lược thay đổi quốc phòng của Nhật Bản

    Tháng 04/2026, Nhật Bản “sửa đổi ba nguyên tắc về chuyển giao các thiết bị và công nghệ quốc phòng” để xây dựng chiến lược quốc phòng mới, trong đó có mục đích mở rộng hoạt động xuất khẩu sang cả các loại vũ khí sát thương. Một cơ chế mới cũng đã được thành lập - Chương trình Hỗ trợ an ninh chính thức (OSA) - nhằm mục đích thúc đẩy hợp tác kỹ thuật và trang thiết bị quốc phòng. Và Việt Nam được Nhật Bản xác định là ứng cử viên ưu tiên trong chương trình OSA. Những thay đổi mới trong chính sách quốc phòng của Nhật Bản có tạo thêm những cơ hội mới cho hợp tác với Hà Nội trong lĩnh vực này không ? RFI Tiếng Việt phỏng vấn nghiên cứu sinh Nguyễn Thế Phương, chuyên về lĩnh vực an ninh hàng hải, Đại học New South Wales, Úc. RFI : Trả lời báo tài chính Nikkei Asia ngày 23/04/2026, ông Minoru Kihara, chánh văn phòng thủ tướng Nhật Bản, cho biết Tokyo đã cho phép “sửa đổi ba nguyên tắc về chuyển giao các thiết bị và công nghệ quốc phòng”. Nội dung chính sách mới của Nhật Bản là gì? Tại sao Tokyo lại thay đổi chính sách vào thời điểm này ? Nguyễn Thế Phương : Sau Chiến tranh Thế giới thứ hai, toàn bộ tư duy chiến lược của Nhật là tập trung vô phát triển kinh tế nội địa và tư duy chiến lược của Nhật là chủ hòa. Việc Nhật Bản thay đổi “ba nguyên tắc về chuyển giao các thiết bị quốc phòng” nằm trong sự thay đổi căn bản trong tư duy quốc phòng, văn hóa chiến lược của họ kể từ khoảng đầu thế kỷ thứ XXI với sự trỗi dậy của Trung Quốc, môi trường an ninh khu vực diễn biến ngày càng phức tạp : Sự gia tăng sức mạnh của các hoạt động đơn phương mà nhiều học giả nói là “cố tình thay đổi trạng thái trật tự” của Trung Quốc, đặc biệt là những vấn đề tranh chấp trên biển. Đối với Nhật Bản, một trong những mối nguy nữa, đó là mối đe dọa từ Bắc Triều Bắc. Cũng nói thêm một chút, nước Mỹ dưới thời Donald Trump mong muốn đồng minh, đặc biệt là những đồng minh hiệp ước của họ, có những chính sách và có tiếng nói mạnh mẽ hơn trong việc tự lực xây dựng năng lực quốc phòng, chứ không còn hoàn toàn dựa vào Mỹ với tư cách là một quốc gia bảo trợ an ninh nữa. Điểm thứ ba là điểm mà nhiều người bỏ qua, đó là Nhật Bản cần một cách tiếp cận mới hơn để làm mới ngành công nghệ quốc phòng trong nước. Bởi vì từ trước tới nay, Nhật Bản cấm xuất khẩu trang thiết bị quốc phòng và vũ khí ra nước ngoài. Toàn bộ hạn chế về mặt xuất khẩu này khiến cho ngành công nghiệp Nhật, đặc biệt là công nghiệp quốc phòng, bị hạn chế tính cạnh tranh, đặc biệt trong bối cảnh hiện nay, với những cuộc xung đột khắp nơi trên thế giới thì thị trường vũ khí bắt đầu mang lại lợi nhuận rất lớn. Và Nhật Bản dường như cũng muốn bắt đầu thay đổi cách tiếp cận và tham gia vào thị trường công nghiệp quốc phòng chủ động hơn. Đọc thêmViệt Nam, Nhật Bản "mạnh mẽ" chống lại việc làm thay đổi nguyên trạng các vùng biển trong khu vực Và cuối cùng là yếu tố nội bộ, đó là sự thay đổi về mặt tư duy của liên minh cầm quyền Nhật Bản, bắt đầu từ thời Shinzo Abe. Cách đây khoảng 10-15 năm, đảng Dân Chủ Tự Do đề xuất Chiến lược Ấn Độ-Thái Bình Dương. Việc này cho thấy rằng đảng Dân Chủ Tự Do mong muốn đưa nước Nhật ra khỏi tư duy chủ hòa và tham gia nhiều hơn về việc tái định hình cấu trúc an ninh khu vực. Đây là bốn điểm tạm gọi là “bốn nền tảng” để giải thích tại sao Nhật Bản bắt đầu phải thay đổi nguyên tắc về chuyển giao thiết bị công nghệ quốc phòng. Với việc thay đổi nguyên tắc mới, họ sẽ bắt đầu không giới hạn thiết bị chuyển giao, mà sẽ mở rộng tới những loại trang thiết bị có thể là sát thương, ví dụ vũ khí tấn công, xe tăng, máy bay và những trang bị khác. Điểm thứ hai, Nhật Bản cho phép hợp tác phát triển các loại vũ khí song phương, một ví dụ ở đây là phát triển máy bay chiến đấu thế hệ thứ năm giữa Nhật, Anh và Ý. Điểm này sẽ cho phép Nhật chủ động hơn, thích ứng linh hoạt hơn trong chính sách phát triển công nghiệp quốc phòng. RFI : Việt Nam thiết lập quan hệ đối tác chiến lược toàn diện với Nhật Bản. Việt Nam là quốc gia thứ 11 ký một thỏa thuận chuyển giao thiết bị, công nghệ quốc phòng với Nhật Bản. Cho đến nay, Tokyo hỗ trợ Hà Nội như thế nào trong khuôn khổ này ? Nguyễn Thế Phương : Trước đây, việc hỗ trợ về mặt chuyển giao thiết bị hoặc công nghệ quốc phòng song phương, chủ yếu Việt Nam sẽ là bên nhận. Những hỗ trợ này chủ yếu xoay quanh việc nâng cao năng lực nhận thức hàng hải, an ninh biển và chủ yếu liên quan đến những loại trang thiết bị vũ khí phi sát thương. Điểm nổi bật thứ nhất là việc chuyển giao tàu tuần tra và phương tiện giúp Việt Nam có thể cải thiện năng lực tuần tra hàng hải, tiêu biểu là việc Việt Nam nhận một số loại tàu cảnh sát biển loại biên của Nhật Bản. Những tàu này thực ra vẫn rất tốt và vẫn phục vụ rất hiệu quả trong quá trình Việt Nam bảo vệ lợi ích trên biển ở thời điểm hiện tại. Đây là khoản hỗ trợ lớn nhất. Đọc thêmViệt Nam, Nhật Bản đạt thỏa thuận về chuyển giao công nghệ quốc phòng Thứ hai là thiết bị giám sát công nghệ hàng hải, ví dụ radar, các thiết bị lặn, công nghệ viễn thám, thông tin liên lạc phục vụ cho quá trình tìm kiếm, cứu nạn, giám sát thực địa trên biển. Và thứ ba là đào tạo, nâng cao năng lực chuyên môn cho các lực lượng của Việt Nam, đặc biệt là lực lượng cảnh sát biển và kiểm ngư. Đây là điểm mà hai bên thường xuyên tiến hành : Trao đổi đoàn, trao đổi tàu, lực lượng Việt Nam qua Nhật Bản để tập huấn. Ở đây tập trung vào một số vấn đề phi tác chiến, ví dụ quân y, phá bom mìn, khắc phục hậu quả chiến tranh, an ninh mạng. Đối với quân đội còn có gìn giữ hòa bình. Đó là ba mảng mà Việt Nam nhận được hỗ trợ có thể nói là rõ ràng nhất từ Nhật Bản thông qua chương trình chuyển giao thiết bị và công nghệ quốc phòng. RFI : Việt Nam được Nhật Bản xác định là ứng cử viên ưu tiên cho Chương trình Hỗ trợ an ninh chính thức (OSA). Anh có thể giải thích OSA là gì ? Theo một quan chức chính phủ Nhật Bản, “quá trình này đôi khi có thể mất thời gian”. Những nước được chọn để hợp tác an ninh thông qua OSA có vai trò như thế nào trong chiến lược của Nhật Bản ? Nguyễn Thế Phương : OSA (Official Security Assistance) là hỗ trợ an ninh chính thức. Đây là một trong những chương trình rất mới, là một công cụ đối ngoại rất mới của Nhật, được thông qua trong chiến lược an ninh quốc gia cuối năm 2022. ODA, là một khái niệm mà chúng ta rất quen thuộc, chỉ giới hạn nghiêm ngặt (ở đây từ “nghiêm ngặt” là từ quan trọng) cho phát triển kinh tế-xã hội. Cho nên nếu như Nhật Bản muốn hỗ trợ về mặt an ninh quốc phòng cho các quốc gia khác thì họ phải tạo ra một cơ chế hoàn toàn mới, chứ không phải là ODA. Thì OSA chính là kết quả. Nói một cách đơn giản OSA chính là ODA nhưng chỉ được dùng cho lĩnh vực an ninh và quân sự. Quá trình này rất mất thời gian bởi vì Nhật Bản sẽ phải thiết lập quy trình khảo sát nhu cầu của bên nhận, đối chiếu nhu cầu đó với pháp luật nội bộ của Nhật, mà chúng ta biết là pháp luật của Nhật về mặt này rất khắt khe. Và nó yêu cầu cả bên cho - ở đây là Nhật - và cả bên nhận - là các quốc gia khác - phải thảo luận rất lâu và rất kỹ để có thể đưa ra được một danh sách tiếp nhận các loại hỗ trợ cho phù hợp. Đọc thêmNhật Bản và Việt Nam tăng cường hợp tác an ninh, ủng hộ thương mại tự do Danh sách các quốc gia được hỗ trợ và có tiềm năng nhận được hỗ trợ OSA từ Nhật Bản vào thời điểm hiện tại chỉ tầm 12 nước, chủ yếu là các nước ở Ấn Độ Dương, Thái Bình Dương, trong đó có 5 nước Đông Nam Á (Philippines, Indonesia, Malaysia, Việt Nam và Thái Lan). Nam Á có hai nước là Bangladesh với Sri Lanka. Ngoài ra còn một số quốc đảo Thái Bình Dương, ví dụ Papua New Guinea, Tonga. Có thể thấy rõ là có Đông Nam Á, khu vực cốt lõi tr

About

Những vấn đề, sự kiện đang được dư luận quan tâm ở Việt Nam

More From RFI Tiếng Việt

You Might Also Like