Tạp chí xã hội

Những vấn đề xã hội Việt Nam và trên thế giới qua lăng kính RFI

  1. 2d ago

    1936-2026 : 90 năm chế độ nghỉ phép có lương và những biến chuyển trong đời sống xã hội Pháp

    Năm 2026 là đúng 90 năm chế độ nghỉ phép có lương được áp dụng rộng rãi với người lao động Pháp. Đây là di sản nổi bật của Front Populaire - Mặt trận Bình dân, một liên minh chính trị của các lực lượng cánh tả ở Pháp. Với xuất phát điểm là 2 tuần nghỉ được trả lương vào năm 1936, chế độ này đã kéo theo nhiều thay đổi trong đời sống xã hội tại Pháp, với các hoạt động giải trí, văn hóa … Du lịch đại chúng cũng dần dần phát triển. Để hiểu thêm chế độ nghỉ có lương tại Pháp, một cuộc cải cách mang tính cách mạng cho giới công nhân và người làm công ăn lương vào năm 1936, RFI Tiếng Việt phỏng vấn sử gia Jean Vigreux, chuyên gia về Mặt trận Bình dân, giáo sư trường Đại học Bourgogne Europe của Pháp.  RFI : Đâu là bối cảnh xã hội và điều kiện lao động của công nhân tại Pháp đã dẫn đến việc chính quyền thiết lập chế độ nghỉ phép có lương ? Đâu là vai trò của Mặt trận Bình dân vào năm 1936 trong việc thiết lập chế độ này ? Jean Vigreux : Đúng là việc tạo ra chế độ nghỉ phép được hưởng lương là rất quan trọng. Nó không hẳn là đã được lên kế hoạch hay từng đưa vào chương trình hành động của Mặt trận Bình dân. Chương trình tranh cử suy cho cùng là nhằm chống lại cuộc khủng hoảng kinh tế và xã hội, cải thiện điều kiện sống cho giai cấp công nhân, và có thể nói là cho người dân Pháp nói chung. Nhưng chế độ nghỉ phép có lương không có trong chương trình dự kiến từ trước. Và chính sự huy động được đông đảo lực lượng tham gia phong trào đấu tranh, các cuộc đình công với việc chiếm đóng nhà máy, đã khiến thỏa thuận Matignon đạt được nhanh chóng vào đêm 07, ngày 08/06 (năm 1936), một hôm sau khi Léon Blum lên nắm quyền. Chính lúc đó, giới chủ Pháp - Tổng Liên đoàn Sản xuất Pháp (Confédération générale de la production française - CGPF) và Tổng Liên đoàn Lao động - CGT) công đoàn lao động lớn nhất, cùng với chính phủ, đã chấp nhận ý tưởng thực hiện chế độ nghỉ phép có lương. Các điều kiện lao động khi đó như thế nào ? Trong những năm 1920 và 1930, chúng ta đã chứng kiến ​​một mô hình sản xuất kiểu « fordisation », nghĩa là công việc ngày càng được tổ chức theo kiểu sản xuất theo dây chuyền và với sự kiểm soát thời gian chặt chẽ. Khi đó người ta đã nhắc đến những hệ quả, những cái được, cái mất, những thách thức trong việc quản lý thời gian chặt chẽ như vậy. Một số người trong một số lĩnh vực, ngành nghề khi đó đã được hưởng kỳ nghỉ được trả lương, nhưng phần lớn người lao động và công nhân thì không. Cũng đã có những đề xuất, dự thảo luật trong những năm 1920 và 1930, nhưng chúng chưa bao giờ được thực hiện. Vì vậy, đây thực sự là một điều mới mẻ, một điều quan trọng. Vào thời điểm đó, cũng có thể nói rằng Pháp đang tụt hậu so với các nước khác bởi vì từ giữa thế kỷ 19 trở đi thì mới có một số công chức Nhà nước có quyền được nghỉ phép mà vẫn được hưởng lương. Và sau đó là một số người lao động nhất định, ví dụ như công nhân đường sắt. Xin nhắc lại là vào thời bấy giờ, các công ty đường sắt là của tư nhân, và mãi cho đến năm 1937 thì SNCF (Công ty Đường sắt Quốc gia Pháp) mới được thành lập. Nhưng mà trước đó, các công ty đường sắt tư nhân đã có chế độ nghỉ phép có lương cho công nhân, các công ty điện lực cũng tương tự. RFI : Pháp có đi tiên phong về áp dụng rộng rãi chế độ nghỉ phép có lương cho người lao động không ? Jean Vigreux : Không, Pháp không đi tiên phong. Tại nước Đức chẳng hạn, đã có nhiều người lao động được nghỉ phép mà vẫn hưởng lương hơn là ở Pháp. Vào những năm 1920 đến đầu những năm 1930, đã có hơn 12 triệu người Đức có thể được hưởng chế độ nghỉ phép có lương. Như vậy Pháp khi đó còn khá tụt hậu, tôi biết là có một cuộc khảo sát của Cơ quan Lao động Quốc tế cho thấy rằng ở châu Âu vào cuối những năm 1920 và đầu những năm 1930, đã có khoảng 40% người lao động, cả nam và nữ, xin nói rõ là như vậy, được hưởng chế độ nghỉ phép có lương. Nói tóm lại, Pháp khi đó là nước tụt hậu về vấn đề này, chứ hoàn toàn không phải là quốc gia đi tiên phong. Quả thực là Pháp phải tìm cách lấy lại thời gian đã mất, phải chạy theo để bắt kịp với các nước khác, và đến năm 1936, nhờ thỏa thuận Matignon thì mới có chế độ nghỉ có lương. RFI : Quy định này đã được xã hội Pháp đón nhận ra sao ? Jean Vigreux : Có thể nói là chế độ nghỉ phép có lương đã được công chúng và người lao động đã lập gia đình hưởng ứng, đón chào. Quy định mới mang đến cho họ một niềm vui lớn. Thậm chí một số người đã từng nghĩ rằng sẽ không thể nào lại có chuyện « chúng ta sẽ được trả lương cho dù nghỉ phép ». Trước đấy, điều này là không khả thi. Chế độ nghỉ phép có lương mở ra một loạt khả năng hoàn toàn mới mẻ cho phần lớn người lao động ở Pháp, tức là họ sẽ có thể dành thời gian đó cho các hoạt động giải trí và nghỉ ngơi, nhưng đó không hẳn là như những hình ảnh quen thuộc mà chúng ta thường thấy về các kỳ nghỉ, tức là cứ nghỉ là mọi người đổ xô ra biển, lên núi bằng xe đạp đôi, hay cắm lều trại … đâu. Đối với một số người, nghỉ phép chỉ đơn giản là để nghỉ ngơi, họ nghỉ ngơi ngay ở vùng Paris, dọc theo bờ sông Marne (…) hoặc đơn giản là họ về vùng nông thôn thăm nom gia đình, bởi vì có nhiều công nhân xuất thân từ các vùng nông thôn và tỉnh lẻ của Pháp. Quả đúng là chế độ nghỉ phép có lương được hưởng ứng, đây là điều quan trọng, và đặc biệt là vì chính phủ Pháp đã nhanh chóng ban hành vé tàu giá rẻ để tạo điều kiện cho mọi người đi lại bằng tàu hỏa. Ngay từ cuối tháng 06/1936, đã có 600.000 vé nghỉ phép phổ thông được phát hành. Và đến năm 1938, khi Mặt trận Bình dân khép lại, con số này đã lên đến hơn 900.000, hay gần 1 triệu vé tàu giá rẻ cho người nghỉ phép, đã được phát hành. Xét từ góc độ này, thì nhìn chung chế độ nghỉ phép có lương đã được người dân đón nhận tích cực.  Nhưng cũng đúng là có một số sự phản kháng từ phía giới chủ, đúng là có một số người từ chối, theo một cách nào đó, nhưng trên thực tế, các thỏa ước tập thể đã được ký kết, chúng phải được triển khai và áp dụng. Nhưng đúng là có cả một luồng dư luận chống lại các cuộc đình công, chống lại phong trào công nhân, và đặc biệt là trên báo chí cực hữu, với những bức tranh biếm họa về những người đội mũ đi trên bãi biển. Nhưng đó cũng chỉ là sự phản đối của một thiểu số người Pháp thôi, chứ thực ra chế độ nghỉ phép có lương ra dời đã làm thay đổi hoàn toàn cuộc sống người lao động. Đó là một cuộc cải cách thực sự mang tính cách mạng bởi vì nó dẫn đến các kỳ nghỉ, nhiều hoạt động giải trí và khởi xướng cái gọi là du lịch đại chúng, cho phép trẻ em tham gia vào các trại hè. Thực sự đó là khởi đầu của điều đã để lại dấu ấn lâu dài trong xã hội chúng ta, gần như cho đến tận ngày nay. RFI : Chế độ nghỉ phép được hưởng lương đã tiến triển thế nào từ năm 1936 để đạt được đến 5 tuần phép/năm như hiện nay ? Jean Vigreux : Vào năm 1936 thì có 2 tuần nghỉ phép có lương. Tuần thứ 3 được thêm vào năm 1956, tuần phép thứ 4 được bổ sung vào năm 1968-1969 sau các sự kiện tháng 05-06 năm 1968, và cuối cùng tuần phép thứ năm được thêm vào đầu những năm 1980, sau khi François Mitterrand (cánh tả) lên nắm quyền tổng thống và Pierre Mauroy trở thành thủ tướng. Như vậy, chế độ 5 tuần nghỉ phép có lương là kể từ năm 1982. Nói tóm lại là để đạt đến chế độ 5 tuần nghỉ phép có lương thì chúng ta đã phải trải qua một thời gian khá dài. Có thể nói rằng thế kỷ 20 thực sự đã phát minh ra chế độ nghỉ phép có lương, nhưng nó được hình thành dần dần chứ không phải là có ngay lập tức. Chế độ nghỉ phép có lương là rất quan trọng bởi vì suy cho cùng thì người Pháp rất gắn bó với chế độ nghỉ phép và vẫn được hư

  2. Aug 12

    Bỉ : Kỳ nghỉ phép có lương, 90 năm thành tựu

    Tháng Bảy, tháng Tám, tắm biển, đi lên núi, ra nước ngoài, hay ở nhà… là những câu hỏi nơi cửa miệng ở công sở trước mỗi mùa hè. Ngày nay, việc đi nghỉ dài ngày đã trở nên bình thường đối với bất cứ người làm công ăn lương nào tại nhiều nước trên thế giới. Nhưng để trở thành bình thường, điều đó đã phải trải qua một tiến trình dài. Phúc lợi xã hội này chỉ mới được áp dụng ở Bỉ từ năm 1936 sau nhiều cuộc đấu tranh xã hội gay gắt. Khái niệm về kỳ nghỉ đã phát triển, phản ánh các xã hội khác nhau và mối quan hệ của chúng với thời gian và công việc. Từ nguyên của “vacances” trong tiếng Pháp bắt nguồn từ thời cổ đại, từ trong tiếng La tinh “vacare” có nghĩa là “trống rỗng, không người ở, nhàn rỗi”. Ngay cả ở thời kỳ này, người Hy Lạp và La Mã đã phân biệt giữa hai khoảng thời gian : lao động và nghỉ ngơi. Vì vậy, họ dùng từ negotium chỉ thời gian dành cho công việc chân tay và buôn bán và từ otium có thể tạm dịch là “thời gian rảnh rỗi”. Đây là thời gian không làm những việc chân tay và dành cho việc nghỉ ngơi, suy tư, đọc sách và các hoạt động giải trí. Nghỉ ngơi : Đặc quyền của giới quý tộc Tuy nhiên, những khoảng thời gian rảnh rỗi này là đặc quyền của một bộ phận nhỏ dân số, giới thượng lưu quý tộc. Từ thời cổ đại đến thời Trung cổ, giới thượng lưu, quý tộc và tầng lớp thượng lưu không làm việc chân tay, vì lao động bị coi thường, chỉ giành cho tầng lớp hạ lưu. Thế giới nhàn rỗi được dành riêng cho họ. Vào thời đó, mặc dù nghỉ ngơi tồn tại như một khái niệm, nhưng nó chưa thiết lập như một quyền và không phải ai cũng có thể đòi hỏi. Ví dụ như nô lệ và người lao động, rồi sau này là tầng lớp công nhân, không được hưởng những khoảng thời gian rảnh rỗi này. Sự phân biệt đó có cấu trúc bền vững trong các xã hội phương Tây : thời gian rảnh rỗi từ lâu vẫn là đặc quyền dành cho giới thượng lưu. Một bước ngoặc xảy ra vào thời Trung Cổ, đặc biệt là ở các thành thị ở Bắc Âu và những vùng mà ngày nay là Hà Lan (Pays-Bas). Các tháp chuông không đơn thuần là biểu tượng kiến trúc. Được quản lý bởi các thị trấn (communes), chúng thể hiện quyền tự chủ của các thị trấn trước các thế lực phong kiến và tôn giáo. Nhờ có tiếng chuông, giờ giấc làm việc được thông báo công khai. Thời gian bắt đầu và kết thúc ngày làm việc, cũng như giờ nghỉ giải lao, đều giống nhau cho mọi người. Sự phát triển này có vẻ không đáng kể. Tuy nhiên, nó lại mang đến tính quyết định : công việc đang dần được trả công dựa vào thời gian làm việc, chứ không phải dựa trên nhiệm vụ hoàn thành. Lần đầu tiên, thời gian làm việc trở nên có thể đo lường, so sánh và do đó có thể thương lượng. Sự chuyển đổi này tạo nên một trong những nền tảng của nền kinh tế hiện đại. Nghỉ hè để làm nông và nghỉ ngơi liên quan đến tôn giáo Năm 1231, Giáo hoàng Gregorio IX đã ban hành một kỳ nghỉ giữa mùa hè, từ tháng Tám đến tháng Chín, trùng với mùa thu hoạch và hái nho. Khi đó, nhiều học sinh và người học việc sẽ rời bỏ sách vở để về làm việc với cha mẹ trên các cánh đồng. Giáo hoàng đã ban hành kỳ nghỉ này để đáp trả sự tức giận của các giáo sư trong các lớp học vắng vẻ, đặc biệt là tại Đại học Paris danh tiếng. Đây thực sự không phải là kỳ nghỉ hè theo nghĩa như ngày nay và không phải thời gian cho sinh viên nghỉ ngơi, mà để họ có thời gian dành cho công việc đồng áng của gia đình. Cho đến thời Trung Cổ, thời gian nghỉ ngơi chủ yếu được sắp xếp theo lịch tôn giáo. Những ki-tô hữu đi lễ Chủ Nhật. Người Do Thái giữ ngày Sa-bát, trong khi cộng đồng đạo Hồi coi thứ Sáu là ngày nghỉ hàng tuần của họ. Vào thời đó, các lễ hội và các ngày lễ thiêng liêng diễn ra trong năm, mang lại những ngày nghỉ không làm việc trên đồng ruộng hay xưởng thủ công. Những ngày nghỉ này được giành cho việc thực hành tôn giáo, chứ không phải cho sự nghỉ ngơi nhàn hạ, hay không hoạt động. Chúng không phải là những ngày lễ theo nghĩa hiện đại của thuật ngữ này, mà là những thời điểm khi công việc được tạm dừng tập thể. Sự thay đổi thực sự bắt đầu với cuộc Cách mạng Công nghiệp vào cuối thế kỷ XVIII : công việc trở nên dài hơn, sự lặp đi lặp lại nhiều hơn và đòi hỏi cao hơn. Sự mệt mỏi về thể chất cũng như tinh thần trở thành một vấn đề xã hội mà các chính phủ không thể phớt lờ. Đến thế kỷ XX, kỳ nghỉ mới có hình thức như hiện nay, đặc biệt là với sự ra đời của chế độ nghỉ phép có lương. Tại Pháp, luật năm 1936 do Mặt Trận Bình Dân của Léon Blum ủng hộ, đánh dấu một thời điểm then chốt : Lần đầu tiên, người lao động nghỉ phép mà vẫn được trả lương. Cùng năm đó tại Bỉ, Hạ Viện đã nhất trí thông qua luật thiết lập chế độ nghỉ phép có lương. Kỳ nghỉ khi đó không còn là một thứ xa xỉ hay ngoại lệ : chúng trở thành một quyền, một nhu cầu thiết yếu, một dấu hiệu của sự tiến bộ giúp định hình các xã hội hiện đại. Nghỉ ngơi : Quyền lợi của người lao động Sau Chiến Tranh Thế Giới I, việc thành lập Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) năm 1919 đánh dấu một bước ngoặt. Nguyên tắc thành lập của tổ chức này rất rõ ràng: “Sức lao động của con người không thể được coi là hàng hóa”. Một số quốc gia châu Âu sau đó đã đi tiên phong. Đức đã ban hành chế độ nghỉ phép có lương thông qua các thỏa ước tập thể ngay từ năm 1905. Anh Quốc dẫn đầu với một số bước tiến trước Chiến Tranh Thế Giới Thứ Nhất. Áo đã thông qua luật vào năm 1919, tiếp theo đó là Ba Lan và Latvia vào năm 1922. Tại Bỉ, một số công ty lớn như Minerva Motors, Bell Telephone hay Solvay đã cho phép nhân viên nghỉ vài ngày, nhưng chỉ trong khuôn khổ các thỏa thuận của công ty. Bước ngoặt thực sự đã đến cách đây 90 năm. Vào tháng 6 năm 1936, sau sự nổi dậy của Mặt Trận Bình Dân Pháp, một làn sóng đình công chưa từng có đã càn quét nước Bỉ. Hơn 500.000 công nhân yêu cầu mức lương tối thiểu, tuần làm việc 40 giờ và kỳ nghỉ có lương. Đối diện với tình trạng tê liệt của đất nước và nguy cơ cực đoan hóa xã hội, chính phủ của thủ tướng Paul Van Zeeland đã triệu tập Hội nghị lao động quốc gia. Sự thỏa hiệp đã dẫn đến một bước đột phá lịch sử: Luật ngày 8/06/1936 quy định sáu ngày nghỉ phép có lương sau một năm làm việc. Đạo luật của thủ tướng Van Zeeland được đánh giá là khá ôn hòa. Đối với các nhà tuyển dụng, biện pháp này có vẻ dễ chấp nhận hơn so với việc giảm giờ làm nói chung. Nó chỉ làm giảm một phần nhỏ phúc lợi hàng năm trong khi vẫn cho phép tổ chức bảo trì máy móc, hoặc quản lý hàng tồn kho trong thời gian ngừng hoạt động. Đạo luật này chỉ thực sự được triển khai sau Thế Chiến II và được phát triển để đạt được 2-3-4 tuần nghỉ phép, với mức lương nghỉ phép gấp đôi như ngay nay. Khi kỳ nghỉ trở thành dự án xã hội Việc áp dụng chế độ nghỉ phép có lương không chỉ thay đổi luật lao động, mà còn làm thay đổi thái độ. Trước năm 1936, thời gian nghỉ ngơi chính của người lao động thường trùng với “ngày nghỉ Thứ Hai”, hậu quả của sự mệt mỏi hoặc làm việc quá sức vào ngày Chủ Nhật. Chế độ nghỉ phép có lương đã biến thời gian nghỉ ngơi từ một tình trạng bị áp đặt thành một quyền được công nhận. Tuy nhiên, sự phát triển mới này lại khiến một số thành viên thuộc tầng lớp thượng lưu lo ngại. Người lao động sẽ làm gì với thời gian rảnh rỗi này ? Nhà nước, các công đoàn và nhiều tổ chức khác sau đó đã phát triển điều mà các nhà sử học gọi là “du lịch xã hội”. Các trung tâm nghỉ dưỡng được xây dựng ở ven biển hoặc trên núi để cung cấp những hoạt động giải trí có tổ chức, đồng thời thúc đẩy sức khỏe, văn hóa và sự gắn kết xã hội. Vào thời điểm đó, thái độ giáo điều vẫn còn phổ biến. Người ta lo ngại về sự thiếu chính chắn của giai cấp công nhân trong việc sử dụng thời gian rảnh rỗi. Phong t

  3. Aug 5

    Con nuôi người Hàn ở Mỹ : Những đứa trẻ sống kiếp không quê hương

    Từ sau Chiến tranh Triều Tiên, hàng trăm nghìn trẻ em Hàn Quốc đã được đưa ra nước ngoài làm con nuôi và Mỹ là điểm đến lớn nhất. Với nhiều gia đình phương Tây, đây từng được xem là hành động nhân đạo: cứu giúp những đứa trẻ mồ côi, nghèo đói, không có tương lai trong một đất nước vừa  ra khỏi chiến tranh. Nhưng sau hơn 70 năm, những câu chuyện được kể lại từ chính người con nuôi Hàn Quốc cho thấy một mặt khác của lịch sử: hồ sơ bị làm sai lệch, trẻ em bị tách khỏi gia đình ruột, quốc tịch không được bảo đảm, khủng hoảng bản sắc kéo dài và nỗi đau tìm lại cội nguồn không dễ chữa lành. Không chỉ là câu chuyện của những đứa trẻ được đưa tới một gia đình mới, đó còn là câu chuyện của chiến tranh, nghèo đói, kỳ thị xã hội, chủ nghĩa dân tộc huyết thống, nhu cầu gia đình của phương Tây, tôn giáo, thị trường nhận con nuôi và trách nhiệm chưa hoàn tất của cả quốc gia gửi con lẫn quốc gia nhận con. Lịch sử nhận con nuôi Hàn - Mỹ  Theo Namu-Wiki, chuyên trang bách khoa toàn thư phiên bản Hàn Quốc, lịch sử nhận con nuôi Hàn – Mỹ bắt đầu trong bối cảnh Hàn Quốc kiệt quệ sau Chiến tranh Triều Tiên. Đất nước bị tàn phá, nhiều gia đình ly tán, trẻ em mồ côi và trẻ bị bỏ rơi xuất hiện khắp nơi, trong khi hệ thống phúc lợi trẻ em gần như không đủ sức bảo vệ những nhóm yếu thế nhất. Đặc biệt, trẻ lai giữa binh sĩ Mỹ và phụ nữ Hàn Quốc trở thành một trong những nhóm đầu tiên bị đẩy ra khỏi xã hội Hàn Quốc thời hậu chiến. Những đứa trẻ này thường bị kỳ thị kép: vừa là con của phụ nữ nghèo hoặc bị xã hội phán xét, vừa bị xem là đe dọa đối với quan niệm “dân tộc thuần chủng”. Trong xã hội Hàn Quốc lúc bấy giờ, huyết thống và gia đình phụ hệ giữ vai trò rất lớn, trẻ lai gần như không có vị trí rõ ràng. Đưa các em sang Mỹ vì thế được trình bày như một giải pháp nhân đạo, nhưng cũng đồng thời là cách Hàn Quốc loại bỏ một nhóm trẻ mà xã hội không muốn nhìn nhận. Ở phía Mỹ, phong trào nhận nuôi trẻ em Hàn Quốc được thúc đẩy bởi truyền thông chiến tranh, các tổ chức Cơ Đốc giáo và bối cảnh Chiến tranh Lạnh. Hình ảnh trẻ em Hàn Quốc nghèo đói, mồ côi và cần được cứu giúp xuất hiện trong các chiến dịch bảo trợ, tờ rơi, ảnh chụp và phim tài liệu, tạo nên một làn sóng cảm thương trong công chúng Mỹ. Các tổ chức như World Vision và Everett Swanson Evangelistic Association, tiền thân của Compassion International, góp phần biến trẻ em Hàn Quốc thành đối tượng của các chương trình bảo trợ từ xa, rồi từ đó mở đường cho nhận con nuôi thực sự. Theo báo Christian Today, năm 1955, vợ chồng Harry và Bertha Holt, một cặp vợ chồng Tin Lành ở bang Oregon, nhận nuôi 8 trẻ em Hàn Quốc. Đây trở thành dấu mốc quan trọng trong lịch sử nhận con nuôi Hàn – Mỹ. Từ sự kiện này, chương trình Holt Adoption Program ra đời và về sau phát triển thành một trong những tổ chức nhận con nuôi quốc tế nổi bật nhất. Theo tài liệu về lịch sử Cơ Đốc giáo trong nhận con nuôi Hàn – Mỹ, trong giai đoạn 1953–2018, khoảng 170.000 trẻ em Hàn Quốc được nhận nuôi tại hơn 29 quốc gia, trong đó Mỹ nhận hơn hai phần ba, tương đương 114.117 trẻ. Ban đầu, câu chuyện được kể bằng ngôn ngữ của lòng nhân đạo: trẻ em nghèo được cứu giúp, trẻ mồ côi có gia đình, những đứa trẻ không tương lai được đưa đến một đất nước giàu có hơn. Nhưng theo thời gian, khi số lượng trẻ được đưa ra nước ngoài ngày càng lớn, hệ thống ấy bắt đầu bộc lộ một bản chất phức tạp hơn nhiều. Con nuôi người Hàn dần bị coi như món hàng công nghiệp  Khi việc nhận con nuôi được đưa vào một hệ thống có nhu cầu, có tổ chức, có phí, có hồ sơ và có quy trình vận chuyển, trẻ em dần bị nhìn theo một cách khác. Các em không còn là những đứa trẻ cần được bảo vệ, mà trở thành đối tượng trong một chuỗi cung ứng xuyên quốc gia: được chọn, kiểm tra sức khỏe, lập hồ sơ, chuyển giao và đưa sang nước ngoài. Nghiên cứu của giáo sư Kim thuộc đại học Suwon về nhận con nuôi xuyên quốc gia cho rằng không thể chỉ nhìn hiện tượng này như một hành động nhân đạo. Ở tầng sâu hơn, đây là dòng chảy một chiều: trẻ em từ các quốc gia nghèo, hậu chiến, thiếu hệ thống phúc lợi được đưa sang các quốc gia giàu hơn, phần lớn là vào các gia đình da trắng trung lưu. Dòng chảy ấy phản ánh sự chênh lệch quyền lực giữa nước gửi con và nước nhận con, giữa gia đình nghèo không có khả năng giữ con và gia đình giàu có nhu cầu nhận con nuôi. Ở phía Hàn Quốc, nhận con nuôi quốc tế dần trở thành một cách xử lý những vấn đề xã hội mà nhà nước chưa đủ năng lực hoặc chưa muốn giải quyết: trẻ mồ côi, trẻ lai, trẻ bị bỏ rơi, con của phụ nữ chưa kết hôn và trẻ em từ các gia đình nghèo. Thay vì xây dựng một mạng lưới phúc lợi đủ mạnh để hỗ trợ mẹ đơn thân, phụ nữ nghèo hoặc gia đình yếu thế tiếp tục nuôi con, hệ thống lại lựa chọn con đường đưa trẻ ra nước ngoài. Ở phía Mỹ và các nước phương Tây, nhu cầu nhận con nuôi cũng rất lớn. Một số gia đình không thể sinh con hoặc khó nhận trẻ trong nước, trong khi trẻ em Hàn Quốc được xem là “dễ thích nghi”. Hình ảnh người châu Á chăm chỉ, ngoan ngoãn, ít gây xung đột và có thể hòa nhập tốt vào xã hội phương Tây đã được chiếu lên chính những đứa trẻ Hàn Quốc. Trong mắt một số cơ quan và gia đình nhận nuôi, trẻ Hàn Quốc trở thành nhóm “an toàn”: có hồ sơ tương đối rõ, sức khỏe được kiểm tra, quy trình xuất cảnh ổn định và ít nguy cơ tranh chấp từ cha mẹ ruột. Chính từ đây, ranh giới giữa “cứu giúp trẻ em” và “đáp ứng nhu cầu của người lớn” trở nên mờ nhạt. Khi trẻ em bị đánh giá qua độ tuổi, giới tính, ngoại hình, tình trạng sức khỏe, hồ sơ và khả năng thích nghi, nhận con nuôi không còn thuần túy là hoạt động bảo vệ trẻ em. Nó bắt đầu mang dáng dấp của một thị trường. Điều đau đớn là trong thị trường đó, một số đứa trẻ bị tước đi những thứ căn bản nhất: tên thật, ngày sinh thật, thông tin cha mẹ ruột, ngôn ngữ mẹ đẻ và quyền được biết vì sao mình bị đưa đi. Sự hỗn loạn trong hệ thống nhận con nuôi  Khi trẻ em bị đặt vào logic của quy trình và thị trường, sai lệch hồ sơ không còn là lỗi hành chính nhỏ. Nó có thể trở thành vết nứt đi theo một con người suốt đời. Một trong những ví dụ tiêu biểu là câu chuyện của đạo diễn tài liệu người Mỹ gốc Hàn Deann Borshay Liem, theo Yonhap. Bà sinh ra với tên Kang Ok-jin, nhưng được đưa sang Mỹ năm 1966 dưới cái tên Cha Jung Hee. Khi đó, một gia đình Mỹ đã hoàn tất thủ tục để nhận nuôi một bé gái tên Cha Jung Hee tại một cô nhi viện ở Jeonju. Nhưng chỉ vài ngày trước khi cha mẹ nuôi đến Hàn Quốc, cha ruột của Cha Jung Hee xuất hiện và đưa con gái về nhà. Trước tình huống khó xử, cô nhi viện đã chọn một bé gái khác có độ tuổi và ngoại hình tương tự, tên thật là Kang Ok-jin, rồi đưa em sang Mỹ dưới danh tính Cha Jung Hee. Trên hộ chiếu và giấy tờ xuất cảnh, đứa trẻ ấy trở thành Cha Jung Hee. Khi sang Mỹ, bà có tên mới là Deann Borshay Liem, nhưng trong nhiều giấy tờ pháp lý, dấu vết của cái tên Cha Jung Hee vẫn tiếp tục tồn tại. Với Liem, vấn đề không chỉ là bị đổi tên. Đó là cảm giác sống trong thân phận của một người khác. Bà từng nói mình như đang đi trong đôi giày của Cha Jung Hee, sống một cuộc đời đáng lẽ thuộc về người khác. Hành trình đi tìm “Cha Jung Hee thật” sau này trở thành nội dung bộ phim tài liệu In the Matter of Cha Jung Hee, được PBS phát sóng tại Mỹ. Bộ phim không chỉ kể về một cuộc tìm kiếm cá nhân, mà còn đặt câu hỏi lớn hơn: bao nhiêu đứa trẻ Hàn Quốc đã bị đổi tên, đổi tuổi, đổi hồ sơ để phù hợp với quá trình nhận con nuôi? Năm 2025, Ủy ban Sự thật và Hòa giải Hàn Quốc kết luận rằng trong nhiều vụ nhận con nuôi quốc tế từ năm 1964 đến 1999, đã có các vi phạm nhân quyền như ghi trẻ còn cha mẹ thành trẻ mồ côi, làm giả tài liệu và thậm chí thay trẻ khác trong trường h

  4. Jul 29

    Bỉ chuẩn bị và diễn tập đối phó với những cuộc khủng hoảng

    Khác với triết lý “chiến tranh nhân dân”, nơi mỗi người dân là một người lính và mọi người đều được tuyên truyền sẵn sàng chiến đấu bảo vệ Tổ quốc, nước Bỉ nói riêng và Âu châu nói chung hình như đã quên đi mối đe dọa của chiến tranh, nhất là sau khi chiến tranh lạnh chấm dứt với sự sụp đổ của bức tường Berlin và do vậy quên cả việc thao dượt những kỹ năng căn bản cho người dân của mình để đối phó với những cuộc khủng hoảng . Khi cuộc chiến giữa Ukraina và Nga ngày càng có nguy cơ mở rộng và kéo dài, cộng thêm việc Hoa Kỳ rút lại hỗ trợ quốc phòng cho châu Âu từ đầu năm nay, các nước Tây Âu mới nhận ra những thiếu sót cho sự chuẩn bị và những bất cập khi phải nhanh chóng lấp vào lỗ hổng của Mỹ. Vậy Bỉ đã có những chuẩn bị như thế nào để đối phó với những tình huống khẩn cấp ?  Từ cấp vĩ mô Vương quốc Bỉ là một nước nhỏ nằm giữa Đức và Pháp, giáp với Hà Lan. Là thành viên của NATO, Bỉ đã phải tăng ngân sách quốc phòng theo yêu cầu, cũng như có chính sách gia tăng và cải tổ lực lượng quân đội. Bỉ không có chế độ nghĩa vụ quân sự bắt buộc, nên quân đội phải có những đợt quảng bá tuyển quân phục vụ tự nguyện nhằm đáp ứng cho những đòi hỏi ngày càng cao của quân đội. Về mặt vật chất, ngân sách quân sự của Bỉ trong năm nay được ưu tiên giành để mua các chiến đấu cơ F35 từ Hoa Kỳ. Việc mua các máy bay này không chỉ tiêu tốn nhiều tiền mà còn đòi hỏi phải có cả đội ngũ từ phi công cho đến các nhân viên bảo trì và chuyên viên về vũ khí. Cho đến phần của mỗi công dân Do nguy cơ chiến tranh có thể lan rộng bất cứ lúc nào và bất cứ nơi nào trên nước Bỉ, người dân được khuyến khích tự đối phó trong tình trạng khủng hoảng mà không trông chờ vào các cơ quan khẩn cấp của chính phủ. Dĩ nhiên là không có những khóa tập dượt trong các khu phố hay những khẩu hiệu, loa phóng thanh tuyên truyền ra rả để người dân nghi nhớ, mà thay vào đó là những clip video ngắn, vui nhộn được tung ra trên các phương tiện truyền thông và mạng xã hội. Chương trình này được chính cựu ngoại trưởng Bỉ Hadja Lahbib điều hành ở cấp độ châu Âu. Không biết chương trình này có giáo dục người dân ý thức được việc mình phải làm và chuẩn bị trong tình huống cụ thể ? “Bộ dụng cụ căn bản” hay “Bộ dụng cụ sinh tồn” ? Từ mùa xuân năm nay, hệ thống siêu thị Colruyt cho ra mắt bộ dụng cụ căn bản giá 29,99 euro, với lời hứa đơn giản là bạn có thể tự túc trong vòng 24 giờ. Bộ dụng cụ căn bản này gồm một món ăn sáng, món hầm kiểu kebab, mỳ Ý hương vị BBQ, ba thanh năng lượng, một gói bột pha nước uống, ba gói cà phê hòa tan, sáu miếng kẹo cao su, khăn giấy, một cái thìa và một dụng cụ nấu ăn không cần lửa. Theo siêu thị, đây là phản hồi trước yêu cầu từ chính quyền về khả năng “tự cung tự cấp trong vài ngày” trong trường hợp xảy ra khủng hoảng lớn, như mất điện, mất khí đốt, thậm chí là lũ lụt. Điều này đã xảy ra hồi mùa đông năm nay, khi cả thành phố Mons mất điện gần 2 tuần và trận lụt lịch sử gây ra nhiều thiệt hại cho vùng Wallonie mùa hè năm 2021. Tuy chưa được phổ biến rộng rãi, « bộ dụng cụ căn bản » này đã có hai luồng ý kiến. Theo thăm dò, nhiều người, rút kinh nghiệm sau dịch Covid-19, đã thường xuyên tích trữ nước uống, mỳ Ý và giấy vệ sinh trong nhà. Những người ủng hộ thì cho rằng túi đồ khẩn cấp này tiện lợi để xoay sở trong 24 giờ trong khi chờ tiếp cứu. Những người chống thì cho rằng túi đồ này chỉ toàn đồ ăn trong khi nhu cầu trong vòng 24 giờ thì đa dạng hơn ! Từ năm 2025, Trung tâm Khủng hoảng Quốc gia của Bỉ đã đề xuất một danh sách những thứ cần thiết theo tiêu chuẩn của Liên Hiệp Châu Âu, để mỗi người có thể tự chuẩn bị cho riêng mình và có thể tự xử lý trong vòng 72 giờ khi có khủng hoảng xảy ra.  Bộ sơ cứu bao gồm băng gạc, kéo, thuốc sát trùng, thuốc giảm đau, v.v. ; Một chiếc radio chạy bằng pin (kèm pin dự phòng) để được thông báo về các chỉ thị từ chính quyền và diễn biến tình hình mà không cần điện ; Đèn pin hoặc đèn chiếu sáng có pin dự phòng hoặc, nếu có thể, loại có tay quay, nến, bật lửa, diêm ; Một chiếc dao đa năng kiểu Thụy Sĩ để có một vài công cụ cơ bản. Điện thoại di động kèm bộ sạc và/hoặc pin dự phòng ; Kính mắt thường dùng và một cặp kính dự phòng ; Tiền mặt để tự chi trả trong trường hợp máy ATM ngừng hoạt động ; Nước đóng chai (khoảng 6 lít/người), thực phẩm không dễ hỏng, không cần nấu chín (thanh ngũ cốc, đồ hộp, thực phẩm sấy khô, v.v.) ; Bản sao các giấy tờ quan trọng (thẻ căn cước, hợp đồng bảo hiểm, đơn thuốc, v.v.). Quần áo ấm và chăn mền (ví dụ: chăn mền sinh tồn) ; Trò chơi giúp bạn giải trí và quên đi những lo lắng ; Danh sách kiểm tra đồ dùng cá nhân trong trường hợp sơ tán. Sau khi đã chuẩn bị xong bộ dụng cụ sinh tồn, bạn nên đặt nó ở nơi dễ tiếp cận. Điều quan trọng nữa là kiểm tra nội dung bộ dụng cụ ít nhất một lần mỗi năm, chủ yếu để kiểm tra hạn sử dụng của thuốc và thực phẩm, và thay pin. Như vậy nhìn vào danh sách khuyến cáo của Trung tâm giải quyết khủng hoảng ta có thể đặt câu hỏi: Đây là những dụng cụ giúp ta “sống sót” hay là những vật dụng căn bản cần phải có trong trường hợp khẩn cấp ? Vì có những thứ ta cần mà người khác lại không. Chẳng hạn, trò chơi giải trí cần cho trẻ nhỏ ngồi yên nhưng không cần cho người lớn. Hoặc máy thu thanh radio có lẽ trong tương lai gần cũng không còn hiện diện vì các đài phát thanh theo truyền thống đang lần lượt bị đóng cửa. Mà thay vào đó, chiếc điện thoại thông minh tích hợp tất cả mọi chức năng liên lạc. Và với một nước sản xuất bia, thì có lẽ đem theo một ít bia cũng là điều hợp lý vì như Bộ trưởng quốc phòng Bỉ đã kêu gọi người dân uống bia giải khát trong những ngày nắng nóng của mùa hè.  Luyện tập tại các trung tâm y tế Ngày nay, việc luyện tập phòng cháy tại các cao ốc, những nơi tập trung đông người đã trở nên thường xuyên. Có lẽ ai cũng quen với việc vào ngày giờ ấn định trong tháng, khi nghe tiếng còi báo cháy, mọi người tự động rời chỗ làm đi thang bộ xuống tập trung tại một địa điểm nào đó. Điều này tạo thói quen phản xạ khi xảy ra hỏa hoạn mà không dẫn đến hỗn loạn mất trật tự khi sơ tán.  Khi xảy ra các khủng hoảng như khủng bố, hỏa hoạn, chiến tranh, v.v… các trung tâm y tế là những nơi đầu tiên đón nhận hệ quả. Số lượng người nhập viện tăng cao đột biến đòi hỏi sự đáp ứng kịp thời. Do đó, việc luyện tập thường xuyên của các đội ngũ nhân viên y tế nhằm đạt hiệu quả trong việc phối hợp nhịp nhàng giữa các cá nhân và các khoa chuyên môn và ngay cả giữa các cơ sở điều trị. Chẳng hạn, tại tỉnh Liège, có ba trung tâm y tế chính là CHU (Bệnh viện Đại học), Citadelle (Bệnh viện của Vùng) và CHC (Bệnh viện công giáo) có đủ các khoa chuyên môn. Bên cạnh đó là các bệnh viện vệ tinh của các trung tâm này nơi tiếp nhận các bệnh nhân và chuyển tiếp lên các trung tâm hay tiếp nhận trở lại những bệnh nhân sau khi được can thiệp tại các trung tâm và được chăm sóc phục hồi. Nhưng trong trường hợp khủng hoảng xảy ra, khi một lượng lớn bệnh nhân được nhập viện, chắc chắn phải có sự phối hợp hài hòa giữa các khoa để không có sự chồng chéo hay dẫm chân lên nhau. Chẳng hạn như ban tuyên úy của Bệnh viện CHC Mont Légia nơi chúng tôi làm việc. Ban tuyên úy là những người lo chăm sóc các bệnh nhân về mặt tinh thần và tôn giáo. Như vậy, chúng tôi sẽ phải phối hợp với các bác sỹ tâm lý để chăm sóc cho những bệnh nhân và người nhà bệnh nhân. Chúng tôi đã có những buổi huấn luyện, trong đó khi xảy ra chiến tranh hay bệnh viện phải đón nhận một lượng lớn bệnh nhân một cách bất thường. Vào ngày huấn luyện, nếu có mặt ở bệnh viện, chúng tôi sẽ đi thang bộ lên lầu 5 nơi có căng-tin của bệnh viện và không gian lớn đồng thời cũng tách biệt để

  5. Jul 22

    Smartphone: Hàn Quốc thay đổi cách bảo vệ trẻ em trong thời đại công nghệ số

    Trong bối cảnh nhiều quốc gia đang siết chặt việc trẻ vị thành niên sử dụng mạng xã hội và thiết bị số, tại Hàn Quốc, vấn đề quản lý điện thoại thông minh của trẻ em cũng đang trở thành một chủ đề xã hội được quan tâm mạnh mẽ. Một khảo sát gần đây cho thấy phần lớn phụ huynh Hàn Quốc không còn xem smartphone đơn thuần là công cụ tiện lợi, mà là thiết bị cần được kiểm soát chặt chẽ trong quá trình nuôi dạy trẻ. Theo kết quả khảo sát do nghị sĩ Kim Young-ho, chủ tịch Ủy ban Giáo dục Quốc Hội Hàn Quốc, thực hiện với hơn 52.000 phụ huynh có con đang học tiểu học, trung học cơ sở và trung học phổ thông tại Seoul, Incheon và tỉnh Gyeongnam, có tới 98,1% người tham gia cho rằng “cần có mức hạn chế nhất định đối với việc sử dụng điện thoại thông minh của trẻ vị thành niên”. Những lo ngại của phụ huynh tập trung vào nhiều khía cạnh. Có 97,5% cho rằng smartphone làm tăng nguy cơ trẻ tiếp xúc với nội dung độc hại hoặc thông tin không phù hợp; 96% nhận định thiết bị này có thể cản trở sự tập trung trong học tập; 93,9% cho rằng trẻ khó tự kiểm soát thời gian sử dụng; và 90,4% cho biết việc dùng điện thoại cũng có thể trở thành nguyên nhân gây mâu thuẫn trong gia đình. Nghịch lý smartphone của các gia đình Điều đáng chú ý là dù nhận thức rõ các nguy cơ, nhiều phụ huynh vẫn cho con tiếp xúc với điện thoại từ rất sớm. Theo khảo sát năm 2023 của Quỹ Báo chí Hàn Quốc, 29,9% trẻ em Hàn Quốc đã sử dụng smartphone lần đầu trước 24 tháng tuổi, còn tỷ lệ tiếp xúc trước 5 tuổi lên tới 71,5%. Về thời điểm sở hữu điện thoại cá nhân, 15,9% trẻ có điện thoại trước khi vào tiểu học và 44,3% có điện thoại khi học lớp 1 hoặc lớp 2. Thực tế này phản ánh một nghịch lý trong các gia đình hiện đại: cha mẹ lo ngại tác hại của smartphone nhưng vẫn khó từ chối thiết bị này vì nhu cầu liên lạc, an toàn, học tập và sinh hoạt hằng ngày của con. Nghị sĩ Kim Young-ho cho rằng kết quả khảo sát cho thấy rõ tình thế khó xử của phụ huynh. Họ hiểu điện thoại thông minh có thể gây rủi ro, nhưng vẫn buộc phải trao cho con vì lý do an toàn và đời sống học đường. Từ thực tế đó, ông Kim đề xuất phổ biến một thiết bị thay thế gọi là “Edu Ansim Phone” – điện thoại an toàn dành cho học sinh. Thiết bị này sẽ duy trì các chức năng cần thiết như nghe gọi, định vị, ứng dụng an toàn, đồng thời hạn chế các tính năng có nguy cơ gây nghiện hoặc tiềm ẩn rủi ro cao như video ngắn, mạng xã hội, trò chơi trực tuyến và trò chuyện ẩn danh. Theo ông Kim, việc phát triển thiết bị thay thế không chỉ nhằm đáp ứng nhu cầu liên lạc giữa cha mẹ và con cái, mà còn tạo ra một lựa chọn trung gian giữa “cấm hoàn toàn” và “cho trẻ dùng smartphone đầy đủ chức năng”. Đây có thể là hướng đi giúp phụ huynh bảo vệ con khỏi nội dung độc hại, giảm nguy cơ lệ thuộc vào thiết bị số, nhưng vẫn bảo đảm yếu tố an toàn trong sinh hoạt hằng ngày. Trẻ nhỏ cần được bảo vệ đặc biệt trước màn hình  Các chuyên gia cho rằng việc quản lý smartphone không thể chỉ dừng ở việc thay đổi thiết bị, mà cần bắt đầu từ nhận thức đúng về quá trình phát triển của trẻ. Theo Ủy ban Phát triển thuộc Hội Nhi khoa và Thanh thiếu niên Hàn Quốc, việc cho trẻ tiếp xúc với điện thoại thông minh, máy tính bảng hoặc TV từ quá sớm là xu hướng đáng lo ngại. Giai đoạn đầu đời là thời kỳ trẻ cần tương tác trực tiếp với con người, đồ vật thật và môi trường xung quanh, thay vì tiếp nhận các kích thích một chiều từ màn hình. Trẻ nhỏ dễ bị smartphone thu hút bởi hình ảnh chuyển động nhanh, màu sắc rực rỡ, âm thanh liên tục và các nhân vật bắt mắt. Những kích thích mạnh này khiến trẻ nhanh chóng bị cuốn vào màn hình, đồng thời dần cảm thấy các hoạt động thông thường như đọc sách, chơi đồ chơi, vận động, quan sát thiên nhiên hoặc trò chuyện với cha mẹ trở nên kém hấp dẫn hơn. Khi não bộ quen với nhịp kích thích nhanh và mạnh, trẻ cũng có thể khó thích nghi với các hoạt động cần sự kiên nhẫn, tập trung và suy nghĩ chậm. Vấn đề lớn nhất là màn hình thường chỉ tạo ra trải nghiệm một chiều. Trong khi não bộ của trẻ cần được phát triển thông qua các tương tác đa giác quan như nhìn, nghe, chạm, vận động, phản hồi cảm xúc và giao tiếp qua lại, smartphone lại giới hạn trải nghiệm trong hình ảnh và âm thanh trên mặt phẳng hai chiều. Điều này có thể ảnh hưởng đến khả năng tự kiểm soát cảm xúc, hành vi, sự tập trung, trí tưởng tượng, ngôn ngữ và kỹ năng xã hội của trẻ. Đặc biệt, trẻ nhỏ vốn chưa hoàn thiện năng lực chờ đợi, kiềm chế ham muốn hay chuyển từ hoạt động này sang hoạt động khác. Nếu thường xuyên tiếp xúc với thiết bị số, trẻ có thể dễ cáu gắt, phản ứng mạnh khi bị yêu cầu dừng xem, khó tập trung vào các hoạt động chậm hơn và phụ thuộc vào màn hình để giải tỏa cảm xúc. Thiết bị di động cũng có thể làm giảm chất lượng gắn bó giữa cha mẹ và con cái. Trẻ nhỏ, nhất là trẻ dưới 3 tuổi, cần được cha mẹ nhìn, nghe, ôm ấp, đáp lại cảm xúc và cùng tham gia các hoạt động thường ngày. Nếu thời gian này bị thay thế bằng màn hình, hoặc nếu cha mẹ thường xuyên dùng điện thoại khi ở bên con, sự tương tác trực tiếp trong gia đình sẽ bị suy giảm. Trong khi đó, mối gắn bó an toàn với cha mẹ là nền tảng quan trọng giúp trẻ ổn định cảm xúc, tự tin khám phá thế giới và phát triển quan hệ xã hội sau này. Tác động tới ngôn ngữ cũng là điểm cần lưu ý. Trẻ học nói hiệu quả nhất thông qua giao tiếp hai chiều: cha mẹ nói chuyện, trẻ phản ứng, người lớn đáp lại và tiếp tục mở rộng cuộc trò chuyện. Smartphone hoặc TV không thể thay thế quá trình này. Vì vậy, hạn chế smartphone ở trẻ nhỏ không chỉ là giảm thời gian giải trí, mà còn là biện pháp bảo vệ sự phát triển não bộ, cảm xúc, ngôn ngữ, khả năng tập trung và kỹ năng xã hội. Trong những năm đầu đời, điều trẻ cần nhất không phải là làm quen sớm với màn hình, mà là được chơi, được chạm, được vận động, được trò chuyện và được kết nối trực tiếp với cha mẹ cũng như thế giới thật xung quanh. Vì sao cần can thiệp sớm? Các chuyên gia Hàn Quốc đặc biệt nhấn mạnh lợi ích của can thiệp sớm. Nếu cha mẹ chỉ bắt đầu hạn chế khi trẻ đã hình thành thói quen phụ thuộc vào điện thoại, quá trình điều chỉnh sẽ khó khăn hơn và dễ dẫn đến xung đột trong gia đình. Ngược lại, nếu quy tắc được đặt ra từ khi trẻ còn nhỏ, trẻ sẽ dễ tiếp nhận hơn, ít phản kháng hơn và có cơ hội hình thành thói quen sinh hoạt lành mạnh trước khi bước vào độ tuổi đi học. Can thiệp sớm không chỉ nhằm giảm thời gian nhìn màn hình, mà còn bảo vệ những giai đoạn phát triển quan trọng của não bộ, cảm xúc và quan hệ xã hội. Khi trẻ có thêm thời gian đọc truyện tranh, vận động ngoài trời, chơi trò chơi cảm giác, khám phá thiên nhiên, học nhạc, vẽ tranh hoặc chơi thể thao, trẻ sẽ có nhiều nguồn kích thích lành mạnh hơn, thay vì chỉ tìm kiếm sự thỏa mãn từ thiết bị số. Nói cách khác, quản lý smartphone ở trẻ nhỏ không nên được hiểu đơn giản là cấm đoán, mà là một hình thức can thiệp sớm nhằm giúp trẻ phát triển khả năng tập trung, tự điều chỉnh cảm xúc, giao tiếp xã hội và xây dựng thói quen sống cân bằng. Không chỉ cấm, mà phải giúp trẻ học cách tự kiểm soát Ở góc độ sức khỏe tâm thần trẻ em, Giáo sư Lee Young-sik, Khoa Tâm thần học, Bệnh viện Đại học Chung-Ang, cho rằng không thể đánh giá tình trạng “nghiện smartphone” chỉ bằng số giờ sử dụng mỗi ngày. Điều quan trọng hơn là trẻ có còn khả năng tự kiểm soát ham muốn sử dụng thiết bị hay không. Vì vậy, giải pháp không nên chỉ là cấm tuyệt đối, mà cần giúp trẻ hình thành năng lực tự điều chỉnh và tự kiềm chế. Theo Giáo sư Lee, bước đầu tiên trong quản lý smartphone là khôi phục và củng cố quan hệ gia đình. Khi cha mẹ và con cái có đủ thời gian giao tiếp tích cực, trẻ cảm nhận được sự quan tâm thay vì chỉ bị ki

  6. Jul 15

    Lịch sử 80 năm di dân Ý ở Bỉ: Từ thế hệ "charbonnage" đến làn sóng nhập cư lậu

    “Chúng tôi không đến đây để hưởng nắng vàng và trời xanh”. Cách nay 80 năm, vào ngày 23/06/1946, Bỉ và Ý đã ký một thỏa thuận lịch sử : Đổi người lấy than đá. Từ đợt di dân này, những làn sóng nối tiếp đã hình thành nên một phần di sản Ý ngay giữa lòng Vương quốc Bỉ. Từ thế hệ “charbonnage” Từ charbonnage trong tiếng Pháp có nghĩa là những đường hầm sâu hoắm trong lòng đất để khai thác than đá. Nhưng ở Bỉ, từ này dùng để chỉ thế hệ những người Ý di dân đến làm việc trong các vùng có mỏ than ở Bỉ. Từ này mang tính chất miệt thị, coi thường những người Ý đến làm việc trong các mỏ than. Ngày nay, khi nói chuyện với những người Ý, nhắc đến từ này giống như gợi lại nơi họ ký ức sống động về một thời lao nhọc của những người phu mỏ. Ngày 23/06/1946, trong bối cảnh một châu Âu bị tàn phá bởi chiến tranh, Bỉ và Ý đã ký kết một hiệp ước độc đáo. Bỉ cần nhân lực để khởi động lại những mỏ than sau 5 năm bị Đức chiếm đóng. Ý, một quốc gia bại trận, đang tìm cách bảo đảm nguồn cung nguyên liệu giá rẻ. Để cân bằng phương trình này, 50.000 người đàn ông đang trong độ tuổi lao động đã rời bỏ những bờ biển đầy nắng ở Apulia, Abruzzo, Basilicata, Sicilia và Friuli của nước Ý để bước xuống những đường hầm tăm tối ở Liège, Charleroi và Borinage nơi nước Bỉ xa xôi. Đổi lại, Ý được quyền nhận 200kg than mỗi thợ mỏ mỗi ngày. Họ đến đây một mình, đôi khi cùng với gia đình, có cả trẻ nhỏ. Họ được bố trí ở tạm trong các doanh trại, nơi mà chỉ vài tháng trước còn là nơi giam giữ tù binh Đức. Điều kiện sống khắc nghiệt, cú sốc văn hóa hoàn toàn. Tuy nhiên, khi kết thúc hợp đồng 5 năm, phần lớn trong số họ đã không trở về mà đã ở lại và xây dựng cuộc sống, gia đình. Một bản sắc mới. Một bầu trời Bỉ mà bất chấp tất cả sẽ luôn “xanh” hơn sắc thiên thanh ở Ý. Tuy nhiên, ngày 08/08/1956, thảm họa ập xuống mỏ than Bois du Cazier ở Marcinelle làm 262 thợ mỏ thiệt mạng, trong đó có 136 người Ý. Thảm họa dẫn đến việc chấm dứt thỏa thuận trao đổi giữa hai nước, nhưng lại mở ra một làn sóng người Ý “nhập cư lậu”. Thế hệ chạy trốn ? Cách nay 5 năm, đại sứ Ý tại Bỉ, Francesco Genuardi, đã giải thích tại lễ tưởng niệm các thợ mỏ người Ý tại Bỉ trong thảm họa này : "Chúng ta không ăn mừng Hiệp định Than đá - Con người; chúng ta đang tưởng niệm, với lòng kính trọng, một bước đi khó khăn và đau đớn, nhưng là một bước khởi đầu cho sự hội nhập của người Ý tại Bỉ." Việc đến Bỉ năm 1946 là “một sự thất vọng lớn đối với người Ý.” Tuy nhiên, ngày nay, do tình hình kinh tế khó khăn, tỷ lệ thất nghiệp cao và môi trường không thuận lợi, nhiều người Ý đang rời bỏ quê hương để tìm kiếm một tương lai tốt đẹp hơn. Đôi khi, họ chọn Bỉ làm điểm đến. Điều này đặc biệt đúng với nghệ sĩ saxophone Angelo Gregorio, chơi trong một nhóm nhạc jazz. Anh đã rời Ý mười năm trước : “Bruxelles thực sự đã chiều chuộng tôi và cho tôi rất nhiều cơ hội. Đối với tôi, Bỉ giống như nước Mỹ đối với những người đã di cư đến đó từ lâu.” Laura, một nữ phục vụ bàn đã làm việc được hai năm, là một ví dụ điển hình. Người phụ nữ gốc Napoli này đã rời bỏ một thành phố đầy nắng, nơi khai sinh ra bánh pizza và phô mai mozzarella, nhưng “không có việc làm" : "Bạn có thể tìm việc ở đó, nhưng chỉ được trả 100 euro một tuần cho những ngày làm việc 10 hoặc 12 tiếng. Ví dụ, anh trai tôi làm việc ở sân bay, đã đóng cửa tám tháng nay. Anh ấy không được hưởng trợ cấp thất nghiệp. Anh ấy chỉ ở nhà, mặc dù đã làm việc ở đó 13 năm. Rõ ràng là điều này có liên quan đến khủng hoảng, nhưng làm sao bạn có thể kiếm đủ sống khi phải nuôi cả nhà ?" Nhiều người nhìn nhận vấn đề theo cách này. Giáo sư xã hội học tại Đại học Liège, Marco Martiniello, đã xác nhận: "Có một cảm giác rằng Ý là một quốc gia của quá khứ, nơi mọi thứ đều bị đình trệ và không có tương lai. Có một cảm giác trì trệ trong xã hội Ý." Một ký ức sống động được truyền qua các thế hệ Một thực tế ít được biết đến: người Ý hiện chiếm hơn 2% dân số của Vương Quốc Bỉ, cộng đồng nhập cư đông thứ hai tại nước này, sau Maroc. Họ hiện diện trong các lĩnh vực giáo dục, xây dựng, công nghiệp, ngân hàng, nhà hàng và garage. Họ đã định hình sâu sắc trong cấu trúc kinh tế và xã hội của Bỉ. Tám mươi năm sau, cuộc sống lưu vong vẫn hằn sâu trong tâm thức của những người Ý này. Nó sống mãi trong tận sâu thẳm tâm hồn con cháu của họ. Tiếng Ý và các phương ngữ vùng miền của nước Ý, tình cảm gia đình sâu đậm, tinh thần liên đới, ý chí chiến đấu v.v… tất cả đều là những dấu vết không phai nhạt của một lịch sử chung. Những tấm biển ghi dòng chữ “Không cho phép chó hoặc người Ý vào” ở những cửa hiệu, quán cà phê, v.v… vẫn chưa cất khỏi quá khứ, mà như động lực gắn vào những hoạt động chính trị và tinh thần đoàn kết của các thế hệ người Ý. Và trên hết, ẩm thực là sợi dây liên kết đích thực của một bản sắc văn hóa được gìn giữ bất chấp thời gian và biên giới. Ngày nay, họ có thể chia sẻ với các sắc dân khác cách thức uống cà phê Italia, ăn bánh pizza, mì pasta hay xúc xích prosciutto, salami, hay làm bếp với các hương liệu từ hương thảo cho đến nước sốt cà chua. Và cùng thưởng thức âm nhạc bên ly rượu mùi limocello làm từ chanh. Trong số những thợ mỏ ngày đó, có không ít những người biết ca hát và chơi các loại nhạc cụ. Và nhất là tinh thần văn nghệ đã ăn sâu trong máu của người Ý. Theo nhà xã hội học Marco Martiniello, những người Ý đầu tiên đang mang theo văn hóa âm nhạc: “Ngay từ khi đặt chân đến đây, năm 1946, trong số những công nhân, nhiều người là nhạc sĩ, người yêu âm nhạc, và thường thì họ chỉ có đài phát thanh. Đài phát thanh dành cho doanh trại, và chúng tôi nghe những bài hát từ đất nước mà chúng tôi vừa rời đi, và một số người là nhạc sĩ, ví dụ như người chơi đàn accordion, guitar". Marco Martiniello thuộc thế hệ thứ hai của các gia đình nhập cư người Ý. Sự truyền tải này phản ánh lịch sử chính gia đình của ông : "Đối với cha tôi, đó là cây đàn môi (guimbarde), bởi vì khi còn nhỏ, trong các bài hát, ông ấy đã chơi đàn môi. Và cây đàn môi này thực sự tượng trưng cho mối liên hệ của ông ấy với đất nước mà ông ấy đã rời đi. Và rồi nó phát triển cho đến khi đạt đến những ngôi sao gốc Ý mà chúng ta biết, và cả những ngôi sao ít nổi tiếng hơn, những người cực kỳ năng động trong làng nhạc ở Bỉ, với nhiều phong cách âm nhạc khác nhau.” Kinh nghiệm nhập cư từ Ý có phải là một mô hình hội nhập? 80 năm sau, liệu câu chuyện di cư này là một thành công ? Đối với nhà xã hội học Marco Martiniello, người Ý và con cháu của họ là một phần không thể thiếu của nước Bỉ, ngay cả khi ông bác bỏ thuật ngữ "hội nhập thành công". Ông giải thích : "Đây là một câu chuyện về sự di cư với tất cả những điều mơ hồ, phức tạp và khó khăn. Tôi tin rằng thế hệ này, nếu hiện đang dần biến mất, có lẽ đã thành công thông qua một số hậu duệ của họ. Nhưng tôi có phần phản đối quan niệm về sự hội nhập hoàn hảo, mô hình mà những người khác nên lựa chọn. Tôi nghĩ đó là một điều hơi hư cấu. Đã có nhiều khó khăn, nhưng rõ ràng là họ đã có chỗ đứng vững chắc trong xã hội Bỉ. Ngày nay, không ai ở Bỉ tin rằng người Ý có thể biến mất một ngày nào đó. Họ là một phần của cảnh quan Bỉ. Trên thực tế, nhiều mối liên kết đã được hình thành từ rất sớm: hôn nhân hỗn hợp, tình bạn, các dự án nghệ thuật chung, tình liên đới trong các mỏ than. Nhưng họ cũng phải chịu đựng sự suy thoái công nghiệp vì hầu hết họ sống ở các khu công nghiệp. Họ phải đối mặt với những vấn đề tương tự như giai cấp công nhân Bỉ.” Vấn đề lao động và nhập cư luôn là thời sự. Bỉ và châu Âu hiện vẫn đang phải đau đầu tìm kiếm giải pháp cho việc cân bằng gi

  7. Jul 8

    Từ chiến tranh Việt Nam đến Ukraina : “Lính đánh thuê” Hàn Quốc trong hình thái mới

    Rồng Xanh, Mãnh Hổ, Bạch Mã là những cái tên từng để lại ký ức nặng nề trong tâm trí nhiều người Việt Nam trong chiến tranh Việt Nam. Về pháp lý, họ là binh sĩ chính quy được chính phủ Hàn Quốc phái sang miền Nam Việt Nam trong khuôn khổ liên minh với Mỹ. Họ là những người lính Hàn Quốc rời quê hương nghèo khó, đổi sinh mạng trên một chiến trường xa lạ để lấy tiền gửi về cho gia đình, đồng thời giúp đất nước tích lũy ngoại tệ và nhận viện trợ từ Washington. Nhưng trong cách nhìn của không ít người Việt, họ thường được nhớ đến như những “lính đánh thuê”. Hơn nửa thế kỷ sau, Hàn Quốc đã trở thành một quốc gia giàu mạnh, có một công nghiệp quốc phòng phát triển và vị thế quốc tế ngày càng cao. Quân đội chính quy Hàn Quốc hiện vẫn hiện diện ở một số khu vực như Liban, Nam Sudan, vùng biển Somalia và Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất, nhưng đó không còn là nhiệm vụ với mục đích mang ngoại tệ và viện trợ về nước, mà là những nhiệm vụ mang tính chất gìn giữ hòa bình, tái thiết, hộ tống hàng hải, hợp tác huấn luyện hoặc bảo vệ công dân trong khuôn khổ nhà nước. Những lực lượng này không được xem là “lính đánh thuê”, bởi họ là binh sĩ chính quy, được Seoul chính thức phái đi và đặt dưới hệ thống chỉ huy hợp pháp. Một câu hỏi được đặt ra : nếu các đơn vị chính quy Hàn Quốc ở nước ngoài không phải là lính đánh thuê, thì “lính đánh thuê Hàn Quốc hiện đại” là ai? Câu trả lời nằm trong vùng xám giữa các công ty quân sự tư nhân, bảo vệ có vũ trang, bảo vệ yếu nhân, an ninh hàng hải, hỗ trợ hậu cần và đào tạo an ninh ở nước ngoài. Dưới những tên gọi đầy tính chuyên môn như thế, hình ảnh người Hàn Quốc trong các vùng xung đột không biến mất, mà chuyển sang hình thái mới : từ cựu đặc nhiệm bảo vệ doanh nghiệp tại Trung Đông, châu Phi, đến những cá nhân tự ý sang Ukraina tham chiến dưới danh nghĩa “tình nguyện”, hiện tượng này phản ánh mặt khuất của chiến tranh toàn cầu hóa : việc làm sau xuất ngũ, sức hút của tiền lương cao, lý tưởng cá nhân và rủi ro pháp lý ngày càng đan xen. PMC Hàn Quốc : Không phải “quân đội tư nhân” theo nghĩa truyền thống Các công ty quân sự tư nhân, hay PMC, tại Hàn Quốc được chú ý nhiều hơn từ đầu thập niên 2010, đặc biệt sau các vụ cướp biển Somalia và nhu cầu bảo vệ tàu thương mại, công trình xây dựng, nhân sự doanh nghiệp Hàn Quốc tại Trung Đông - châu Phi. Những cái tên như Shield Consulting, Aegis International, Hatch Global hay Bullet-K từng được nhắc tới như các ví dụ tiêu biểu của thị trường này. Tuy nhiên, phần lớn các công ty quân sự tư nhân Hàn Quốc không hoạt động như lực lượng chiến đấu tư nhân trực tiếp tham chiến thay cho một bên xung đột. Hoạt động chính của họ thường là bảo vệ tàu hàng đi qua vùng biển nguy hiểm, bảo vệ công trình ở Irak, Afghanistan, Libya hoặc Trung Đông, hộ tống yếu nhân, bảo vệ cơ sở, hỗ trợ logistics, đào tạo an ninh và tư vấn chiến thuật. Nói cách khác, mô hình này gần với doanh nghiệp an ninh chuyên nghiệp hơn là “lính đánh thuê” theo nghĩa truyền thống. Điểm đáng chú ý là các công ty này tận dụng nhiều nhân sự từng phục vụ trong lực lượng đặc nhiệm, thủy quân lục chiến, UDT (đặc nhiệm người nhái), cảnh sát hoặc lực lượng bảo vệ. Với họ, PMC là một lối đi sau khi xuất ngũ: dùng kỹ năng quân sự để tham gia thị trường an ninh quốc tế. Có thời điểm xuất hiện thông tin và đồn đoán rằng nhân sự làm việc ở nước ngoài có thể nhận thu nhập khoảng 100 triệu won mỗi năm, thậm chí cao hơn nếu đảm nhận nhiệm vụ tại Trung Đông, châu Phi hoặc các tuyến hàng hải nguy hiểm. Chính yếu tố tiền bạc khiến nghề này vừa được xem là cơ hội việc làm hấp dẫn, vừa đặt ra câu hỏi về việc đánh đổi an toàn cá nhân để lấy thu nhập. Vùng xám giữa bảo vệ, tư vấn và “đánh thuê” Cần phân biệt rõ giữa PMC - các công ty quân sự tư nhân, nhân viên an ninh tư nhân và lính đánh thuê. Một đội bảo vệ công trình ở Irak, một nhóm bảo vệ tàu hàng qua vùng biển có nguy cơ cướp biển, một chuyên gia huấn luyện an ninh cho cảnh sát nước ngoài, một nhân viên an ninh mạng bảo vệ hệ thống của tập đoàn đa quốc gia và một cá nhân trực tiếp tham chiến ở Ukraina, là những hiện tượng khác nhau về pháp lý, nhiệm vụ và mức độ rủi ro ngoại giao. Ban đầu, các công ty này không tự giới thiệu là “lính đánh thuê”, mà thường được mô tả như doanh nghiệp quản trị rủi ro, bảo vệ vũ trang, an ninh hàng hải, bảo vệ công trình, tư vấn chiến thuật hoặc hỗ trợ hậu cần. Ngày nay, phạm vi an ninh tư nhân còn mở rộng sang cả “mặt trận số”, khi doanh nghiệp thuê ngoài dịch vụ bảo vệ dữ liệu, giám sát hệ thống, ứng phó tấn công mạng, chống gián điệp công nghiệp và bảo vệ hạ tầng vận hành. Chính sự mở rộng này tạo nên vùng xám của “lính đánh thuê Hàn Quốc hiện đại”. Nó không còn giống hình ảnh binh sĩ Hàn Quốc trong chiến tranh Việt Nam, cũng không hoàn toàn giống các tập đoàn quân sự tư nhân lớn của Mỹ, Anh hay Nga. Thay vào đó, nó nằm giữa bảo vệ doanh nghiệp, an ninh hàng hải, an ninh mạng, huấn luyện, tư vấn chiến thuật, việc làm cho cựu quân nhân và nhu cầu quản trị rủi ro của các tập đoàn Hàn Quốc trên thị trường toàn cầu. Rắc rối pháp lý quanh vũ khí Một điểm khiến hoạt động của các công ty quân sự tư nhân Hàn Quốc trở nên đặc biệt nhạy cảm là vấn đề vũ khí. Khác với quân đội chính quy, nhân viên các công ty tư nhân không thể tự do mang súng, đạn, bom khói hay trang bị sát thương từ Hàn Quốc ra nước ngoài. Khi làm nhiệm vụ tại các khu vực rủi ro cao, họ thường phải được trang bị sau khi đến quốc gia sở tại, thông qua giấy phép địa phương hoặc đối tác an ninh tại chỗ. Điều này tạo ra nhiều câu hỏi pháp lý phức tạp: vũ khí đó do ai sở hữu, ai cấp phép, ai sử dụng, có hợp pháp tại nước sở tại hay không, và có đã từng bị dùng trong hoạt động bất hợp pháp nào trước đó hay chưa? Khi xảy ra nổ súng, thương vong hoặc tranh chấp, vấn đề không còn là chuyện nội bộ của một công ty an ninh, mà có thể kéo theo trách nhiệm lãnh sự, phản ứng ngoại giao và áp lực xử lý từ bộ Ngoại Giao Hàn Quốc. Vì vậy, rủi ro của các công ty quân sự tư nhân không chỉ nằm ở chiến trường hay mức lương cao, mà còn ở khoảng trống kiểm soát vũ khí. Một nhân viên an ninh tư nhân có thể được thuê để bảo vệ doanh nghiệp, nhưng khi người đó sử dụng vũ khí ở nước ngoài, câu hỏi lập tức trở thành: đó là phòng vệ hợp pháp, bạo lực tư nhân, hay một tình huống vượt khỏi khả năng kiểm soát của nhà nước? Đào tạo công khai : PMC trở thành một hướng nghề nghiệp Một dấu hiệu cho thấy các công ty quân sự tư nhân PMC đã trở thành một lĩnh vực được công khai hóa tại Hàn Quốc là sự xuất hiện của các khóa đào tạo nhân sự PMC trong hệ thống giáo dục nghề nghiệp. Một số trường nghề, tiêu biểu như các chương trình thuộc khối an ninh - hàng không, quảng cáo công khai “khóa các công ty quân sự tư nhân - bảo vệ yếu nhân”, với mục tiêu đào tạo nhân lực cho các công ty quân sự tư nhân trong và ngoài nước. Theo phần giới thiệu khóa học, chương trình không chỉ đào tạo bảo vệ cá nhân thông thường mà còn hướng tới các nhiệm vụ thường được gắn với các công ty quân sự tư nhân như bảo vệ yếu nhân, bảo vệ cơ sở, an ninh hàng không, quản trị rủi ro, ứng phó tình huống khẩn cấp, ngoại ngữ chuyên ngành và kỹ năng làm việc trong môi trường quốc tế. Nội dung quảng bá cũng nhấn mạnh liên kết với doanh nghiệp PMC, cơ hội tuyển dụng, chứng chỉ nghề nghiệp và đội ngũ giảng viên từng có kinh nghiệm trong cơ quan chính phủ hoặc lực lượng đặc nhiệm. Việc những khóa học như vậy được quảng cáo công khai cho thấy thị trường các công ty quân sự tư nhân ở Hàn Quốc đã có một lớp hạ tầng nhân lực riêng. Nếu trong giai đoạn đầu, các công ty như Bullet-K, Shield Consulting, Aegis International hay Hatch Global chủ yếu tuyển dụng cựu đặc nhiệm, thủy quâ

  8. Jul 1

    Môi trường : Không khí ở Paris trong lành, « dễ thở » hơn so với hồi năm 2010

    Theo một nghiên cứu mà Airparif, tổ chức quan trắc và giám sát chất lượng không khí tại vùng Île-de-France (Paris và vùng phụ cận), được công bố hồi cuối năm 2025, trong những năm qua, không khí ở thủ đô Pháp đã « dễ thở » hơn. Nồng độ một số chất gây ô nhiễm không khí và hâm nóng Trái đất đã giảm. Để hiểu thêm về kết quả của việc cải thiện chất lượng không khí ở Paris, RFI tiếng Việt hôm 20/03/2026 đã phỏng vấn kỹ sư Pierre Pernot, phụ trách quan hệ đối tác và truyền thông của Airparif. RFI : Chất lượng không khí ở Paris hiện nay thực sự như thế nào ? Có đúng là người dân vùng Paris đang được hít thở không khí trong sạch hơn so với cách nay 10-15 năm ? Pierre Pernot : Đúng vậy, chúng ta đang hít thở không khí trong lành hơn so với 10, 15, hoặc thậm chí 20 năm trước. Chúng tôi ghi nhận những cải thiện về nồng độ các chất gây ô nhiễm chính. Nồng độ khí nitơ dioxide đã giảm 40%. Nitơ dioxide là một chất gây ô nhiễm chủ yếu được phát thải từ giao thông đường bộ và đã ảnh hưởng đến sức khỏe đường hô hấp của chúng ta. Trong 10 năm qua, nồng độ khí này đã giảm 40%. Một chất gây ô nhiễm khác là bụi mịn, tức là các hạt bụi li ti, có kích thước dưới 2,5 micron, cũng đã giảm. Chất gây ô nhiễm này được phát thải từ nhiều nguồn khác nhau, bao gồm hệ thống sưởi ấm và giao thông đường bộ. Bụi mịn đã giảm khoảng 30% trong 10 năm qua, điều này rất quan trọng bởi vì bụi mịn ảnh hưởng đến sức khỏe tim mạch của chúng ta. RFI : Những nguồn chính gây ô nhiễm không khí ở Paris là gì ? Đó là do khí thải từ giao thông đường bộ, hệ thống sưởi, công nghiệp hay còn có những nguyên nhân nào khác ? Pierre Pernot : Đây là một câu hỏi thú vị vì nó làm nổi bật sự phức tạp của vấn đề ô nhiễm không khí. Điều quan trọng nhất là chúng ta cần hiểu rằng trên thực tế không khí ô nhiễm do nhiều chất gây ô nhiễm khác nhau, và các chất gây ô nhiễm này có thể được phát thải ở các mức độ khác nhau và từ các nguồn khác nhau. Tôi xin lấy một ví dụ : Đối với khí nitơ dioxide, hơn một nửa lượng khí này được phát thải từ giao thông đường bộ, đặc biệt là từ các xe động cơ đốt trong, nhất là xe chạy bằng dầu diesel. Còn đối với bụi mịn, khoảng một nửa lượng khí này được phát thải từ việc sưởi ấm, đặc biệt là đốt củi, khoảng 20,5% đến từ giao thông đường bộ, phần còn lại là từ các nguồn khác, chẳng hạn như các công trường xây dựng. RFI : Liệu có những khu dân cư hoặc cộng đồng dân cư tại Paris phải tiếp xúc với không khí bị ô nhiễm nhiều hơn những khu vực còn lại hay không ? Pierre Pernot : Đúng là như vậy, bởi vì nhìn chung, ai càng ở gần nguồn gây ô nhiễm không khí thì càng phải tiếp xúc nhiều hơn với các chất này. Ở một thành phố như Paris, những người dân phải tiếp xúc nhiều nhất với các chất gây ô nhiễm không khí thường là những người sống gần các tuyến đường giao thông chính của Paris hoặc đường vành đai. Và đó cũng là nơi nồng độ nitơ dioxide được đo đạc. Ở đây, chúng ta đang nói về sự tiếp xúc trực tiếp với không khí bị ô nhiễm. Thế nhưng, chúng ta cũng cần biết là có những nhóm dân cư có thể ít nhiều dễ bị tổn thương hơn từ không khí bị ô nhiễm. Điều này đặc biệt đúng đối với các nhóm dân cư không mấy khá giả. Họ là nhóm người ít được tiếp cận với hệ thống chăm sóc sức khỏe, ít có khả năng chuyển nhà khỏi các khu vực bị ô nhiễm không khí. Không những vậy, họ còn phải tiếp xúc với các nguồn gây ô nhiễm môi trường khác, chẳng hạn như tiếng ồn, chất lượng không khí trong nhà và tình trạng nhà ở không đạt tiêu chuẩn. Đây là những nguồn bổ sung có thể khiến sức khỏe của họ thêm suy giảm. RFI : Theo ý kiến ​​của ông, đâu là các chính sách môi trường của chính quyền Paris đã giúp cải thiện chất lượng không khí ? Pierre Pernot : Chúng ta nên biết là những kết quả đạt được về chất lượng không khí, dù là giảm mức độ nitơ dioxide hay giảm mức độ bụi mịn, đều là kết quả của nhiều chính sách được thực hiện ở các cấp khác nhau. Đã có những thay đổi quan trọng về các quy định ở cả cấp độ châu Âu và trên quy mô quốc gia, đặc biệt là liên quan đến việc áp dụng các tiêu chuẩn mà Liên Hiệp Châu Âu đề ra, nhờ đó mà các phương tiện giao thông hiện đang lưu thông trên đường ít gây ô nhiễm hơn so với những phương tiện trước kia. Ngoài những nỗ lực này, thì còn có nhiều hành động mang tính ​​địa phương hơn, nhất là để hạn chế giao thông đường bộ, và đặc biệt là hạn chế sự lưu thông của các phương tiện gây ô nhiễm nhất, như chúng ta thấy là Paris có quy định về các khu vực phát thải thấp (Zone à Faibles Émissions). Chính sự kết hợp của tất cả các chính sách này đã giúp cải thiện chất lượng không khí. Tại Paris, mới đây chúng tôi đã tiến hành một nghiên cứu để tìm hiểu xem tất cả các chính sách này đã góp phần vào sự cải thiện chất lượng không khí như thế nào. Nếu lấy khí nitơ dioxide làm ví dụ, chúng ta có thể thấy mức giảm 55% nồng độ nitơ dioxide có được là nhờ hiện đại hóa các xe tham gia giao thông. Điều này có nghĩa là các phương tiện hiện đang lưu thông ít gây ô nhiễm hơn so với những phương tiện trước đây. Đây không phải là sự trùng hợp ngẫu nhiên, mà là kết quả đạt được từ các quy định của châu Âu, của nước Pháp, và cả việc quy định khu vực phát thải thấp ở cấp địa phương (tức là Paris). Các chính sách được thực hiện để hạn chế không gian dành cho ô tô trong thành phố đã góp phần làm giảm 1/4 nồng độ khí nitơ dioxide. 20% còn lại thực chất là liên quan các nguồn ô nhiễm khác ở cấp địa phương, tức là tại Paris, và các biện pháp ở Paris cũng như cấp vùng Paris đã góp phần làm giảm ô nhiễm. RFI : Liệu các biện pháp như quy định về khu vực phát thải thấp hoặc giảm lưu lượng giao thông có thực sự hiệu quả trong việc cải thiện chất lượng không khí ở Paris ? Pierre Pernot : Vâng, các biện pháp này có đóng góp vào hiệu quả, nhưng không phải là « cây đũa thần ». Điều tôi muốn nói là chính sự kết hợp của nhiều biện pháp mới dẫn đến cải thiện chất lượng không khí. Tuy nhiên, chúng ta vẫn có thể định lượng được mức đóng góp của các biện pháp, ví dụ việc triển khai quy định về khu vực phát thải thấp góp phần giảm 14% lượng khí thải gây ô nhiễm, theo ghi nhận ở khu vực đô thị Đại Paris (Grand Paris) kể từ khi biện pháp này được thực hiện vào năm 2017. RFI : Mặc dù chất lượng không khí ở Paris đã được cải thiện, ô nhiễm đã giảm bớt, nhưng mức độ ô nhiễm không khí ở Paris dường như vẫn cao hơn khuyến cáo của Tổ Chức Y Tế Thế Giới. Theo ông thì tại sao ? Pierre Pernot : Vâng, đó là bởi vì xuất phát điểm của chúng ta rất thấp. Chúng ta đã bắt đầu với mức ô nhiễm không khí nghiêm trọng. Sau đó thì mới có các khuyến nghị của Tổ Chức Y Tế Thế Giới, được cập nhật cách đây 4 năm, bởi khi đó các kiến ​​thức khoa học đã được cải thiện và người ta nhận thức được rằng tác động đến sức khỏe con người bắt đầu từ mức ô nhiễm không khí thấp so với suy nghĩ trước đây. Thế nên, chúng ta cần tiếp tục cải thiện chất lượng không khí để một ngày nào đó đáp ứng được các khuyến nghị của Tổ Chức Y Tế Thế Giới. Việc duy trì đà tiến này thực sự quan trọng, ngay cả khi tạm thời ở cả Paris và khu vực phụ cận chúng ta vẫn chưa đạt đến mức các khuyến nghị của Tổ Chức Y Tế Thế Giới về tất cả các chất gây ô nhiễm không khí. RFI : Pierre Pernot, ông là kỹ sư của tổ chức quan trắc và giám sát chất lượng không khí tại vùng Île-de-France của Pháp. Nếu phải nêu lên vài biện pháp cần ưu tiên thực hiện để có thể nhanh chóng cải thiện chất lượng không khí Paris thì ông sẽ hướng đến những biện pháp nào ? Pierre Pernot : Chúng ta hãy trở lại với điều đã được nói tới ở trên. Hai nguồn ô nhiễm không khí chính ở Paris là giao thông đường bộ và hệ thống sư

About

Những vấn đề xã hội Việt Nam và trên thế giới qua lăng kính RFI

More From RFI Tiếng Việt

You Might Also Like