Tạp chí xã hội

Những vấn đề xã hội Việt Nam và trên thế giới qua lăng kính RFI

  1. 4d ago

    Những cận vệ của Che Guevara lần đầu lên tiếng tại LHP Cannes

    Danh sách phim chiếu tại LHP Cannes lần thứ 79 đã đi một vòng trái đất, không chỉ đưa những câu chuyện viễn tưởng lên màn ảnh lớn mà cả những thước phim tài liệu chân thực, hé mở những câu chuyện chưa từng được tiết lộ, tranh giải l’Oeil d’Or (Con mắt vàng). Đáng chú ý là phim tài liệu những người hộ vệ Che Guevera cuối cùng còn sống sót trong chiến dịch ở Bolivia, do đạo diễn người Pháp thực hiện trong hơn 20 năm. Bằng cách kết hợp những hình ảnh tư liệu, lời chứng của các nhân vật và cả hoạt hình minh hoạ, phim tài liệu Les Survivants du Che của Chritophe Dimitri Reveille, đã tái hiện lại ký ức của những cựu chiến binh, những hộ vệ thân cận bên Che Guevara khi làm cách mạng ở Bolivia, trước khi vị anh hùng, biểu tượng của cách mạng Cuba bị hành quyết vào năm 1967. Cụ thể, Che Guevara đã bí mật thâm nhập Bolivia với khoảng 50 binh sĩ, là người Cuba, một số người Achentina, Bolivia và vài người Peru, đặt mục tiêu biến Bolivia thành bàn đạp cách mạng cho toàn Nam Mỹ, “tạo ra nhiều Việt Nam hơn nữa để thách thức đế quốc Mỹ”. Hành trình băng rừng, vượt suối được tái hiện lại đầy kịch tính nhưng cũng xúc động, mang chút tiếc nuối, xen lẫn ân hận khi không bảo vệ được Che. Hầu hết những chia sẻ này chưa từng được tiết lộ trên màn ảnh lớn. Giám đốc liên hoan phim Cannes Thierry Frémaux, hiện diện tại rạp chiếu phim cùng nhóm cộng sự của đạo diễn Christophe Dimitri Reveillé, khẳng định rằng “những bộ phim này mang lịch sử trở lại hiện tại”, “khiến chúng ta phải suy nghĩ về hiện tại”. Bộ phim được ra mắt giữa lúc Cuba đang kiệt quệ, hàng triệu người dân khốn khổ đang vật lộn từng ngày trước lệnh cấm vận của Hoa Kỳ. Ông Frémaux nhận định : “Đây là tác phẩm cả đời của một đạo diễn, không phải là một sử gia mà là một nhà làm phim”. Nếu như chuyện về Che Guevara hầu hết đều được biết đến rộng rãi thì câu chuyện về đội ngũ thân cận làm cách mạng cùng ông ở Bolivia lại không được kể nhiều, từ 50 ban đầu, chỉ còn vài người sống sót. Đạo diễn cũng nhắc nhở khán giả tại Pháp về những can thiệp của nước Pháp thời điểm đó, và vai trò của De Gaulle, đưa họ trở về Cuba an toàn vào năm 1968. RFI Tiếng Việt đã có dịp phỏng vấn đạo diễn người Pháp Christophe Dimitri Reveillé bên lề LHP Cannes. *** Đạo diễn đã mất hơn 22 năm để hoàn thành bộ phim tài liệu này. Đáng nói là ông đã từng viết sách, viết truyện tranh về câu chuyện của những người sống sót trong chiến dịch này. Điều gì đã khiến ông quyết định rằng câu chuyện này cần phải được đưa lên màn ảnh lớn? Thật ra nếu biết trước phải mất 22 năm, tôi đã không bắt đầu. Đúng là tôi đã làm tiểu sử về họ, ra một cuốn truyện tranh rồi mới làm phim, nhưng thực tế, việc thu thập tư liệu cho phim diễn ra song song với việc viết sách tiểu sử. Bởi vì người chiến binh, phải nói là người hùng mà tôi viết tiểu sử, đã bị Fidel Castro kết án tử hình, nên tôi tự nhủ: phải ghi lại lời ông ấy, để nếu có chuyện gì xảy ra, người ta không thể nói rằng ông ta đã bịa đặt ra tất cả. Tôi cần bằng chứng. Và còn một lý do thực tế nữa: tôi không nói được tiếng Tây Ban Nha. Vì vậy tôi phải giao băng cassette cho người phiên dịch để có thể viết tiểu sử. Hai việc đó cứ thế tiến hành song song. Ban đầu tôi chỉ định làm phim tài liệu về một binh sĩ duy nhất, nhưng theo thời gian, qua đọc sách, qua sự tin tưởng dần được gây dựng, tôi nhận ra mình có thể tiếp cận được người thứ hai, rồi người thứ ba, người thứ tư. Trong phim có khoảng tám nhân chứng, nhưng thực ra tôi đã phỏng vấn ít nhất mười lăm người, số còn lại không thể đưa vào trong khuôn khổ phim. Vì vậy tôi đang viết thêm một cuốn sách sẽ ra mắt năm tới, về những điều không thuộc phạm vi phim tài liệu nhưng chứa đựng nhiều tiết lộ chưa từng được công bố về chiến dịch của Che, về cái chết của ông, về những diễn biến sau đó (…) Ưu điểm của việc đối chiếu nhiều góc nhìn của các nhân chứng khiến chúng ta không rơi vào cái bẫy một chiều. Chúng tôi đối chiếu tất cả lời chứng của những người vốn không ưa nhau lại, và thấy chúng khớp với nhau, thì sự thật tự hiện ra. Ông đã thu thập được những lời chứng từ nhiều người chưa bao giờ tiết lộ trước đây. Làm thế nào ông gây dựng được lòng tin với họ ? Thành thật mà nói, không phải để quảng bá phim, nhưng đây thực sự là điều tuyệt vời để kể trên màn ảnh. Ngay chỉ việc gặp được một người trong số họ đã là điều kỳ lạ rồi. Tôi thuyết phục họ bằng cách nào? Có người đứng dậy bỏ đi giữa chừng và nói: “Thôi, tôi không muốn”. Ngay cả điệp viên CIA, tôi run khi phỏng vấn ông ta, vì tôi chuẩn bị đặt những câu hỏi thẳng thắn về cái chết của Che. Với tất cả những người đó, tôi áp dụng điều tôi gọi là tư duy hiện thực, tức là một kỹ thuật tôi học trong khóa học diễn xuất : chấp nhận cảm xúc của bản thân ngay tại khoảnh khắc đó, không che giấu. Cách đó dừng thời gian lại và tạo ra một dạng chân thực nào đó. Tôi nói thẳng với họ : “Tôi thực ra không quan tâm đến ông.” Nghe có vẻ tàn nhẫn. Nhưng tôi giải thích: “Không phải ông mà tôi quan tâm. Câu chuyện của ông mới là điều quan trọng. Và câu chuyện đó, ông đang nợ thế giới trước khi qua đời….Ông nợ chúng tôi câu chuyện này. Và cách đó đã hiệu quả… Hôm nay, trong bối cảnh chủ nghĩa cực đoan đang trỗi dậy khắp nơi, khi những kẻ cực hữu điều khiển thế giới và gây chiến tranh liên miên, thì việc kể câu chuyện này lại càng có ý nghĩa. Không phải kể về những gương mặt nổi tiếng, mà kể về những con người vô danh, những kẻ làm nên cách mạng nhưng tên họ chưa bao giờ xuất hiện ở đâu cả. [05:42]  Trong phim, ông kết hợp những hình ảnh: tư liệu lưu trữ, cảnh quay mới, và hoạt họa. Ông tự đánh giá về lựa chọn này như thế nào trong một phim tài liệu lịch sử? Có lúc tôi cũng tự nghi ngờ, liệu những hình ảnh khác nhau đó có hòa quyện được với nhau không? Phim có năm lớp: lời chứng của các nhân vật, tư liệu lưu trữ, hành trình địa lý dài, theo dấu chân họ, hoạt họa, và lời bình. Về tư liệu lưu trữ: nếu phải chọn một thứ tôi làm tốt trong đời, thì đó là đi tìm tài liệu ở tận cùng thế giới. Còn về hành trình làm sao để sống sót của họ khi bằng rừng ở Nam Mỹ: ngôn từ không đủ để tái hiện cảm xúc. Khi đặt khán giả vào đúng khung cảnh, rừng rậm, thành phố, sa mạc,  tôi không cần phải giải thích nữa, để họ tự cảm nhận. Hoạt họa là lớp thứ tư, là những hình ảnh mà chúng tôi thiếu. Tôi cần nó để đưa khán giả vào “đôi giày” của các chiến binh, sống cùng họ trong từng khoảnh khắc. Trong các cuộc phỏng vấn, tôi nhận ra họ thường kể lướt qua rất nhanh những cảnh hành động và cảm xúc dữ dội nhất… Chính vì vậy tôi dùng hoạt họa để lấp đầy những khoảng trống đó, để đặt khán giả vào đúng thời điểm, đúng không gian, mà không làm đứt mạch Với hoạt họa, vốn đòi hỏi tưởng tượng và sáng tạo, làm sao ông bảo đảm tính trung lập của một đạo diễn tài liệu như thế nào? Tôi đã cố gắng hết sức để trung lập, nhưng nếu thành thật mà nói: không ai trung lập hoàn toàn. Nếu có điểm nào tôi không trung lập, thì điều đó xảy ra ngoài ý thức của tôi. Các phần hoạt họa được xây dựng trên cơ sở nghiên cứu nghiêm túc. Ở mỗi giai đoạn của câu chuyện, tôi gặp những người có cùng sự ám ảnh như tôi,  những người dành 15 năm nghiên cứu quân đội Bolivia, 15 năm nghiên cứu chủ đề này hay chủ đề kia. Ở giai đoạn dựng phim, chúng tôi quyết định không đưa các sử gia và chuyên gia vào trực tiếp vì làm rối mạch phim. Thay vào đó, tôi tổng hợp kiến thức của họ vào lời bình. Mỗi câu trong lời bình, tôi có thể tranh luận với một chuyên gia về từng từ đã chọn. Điều đó dành cho 2% khán giả chuyên sâu. Nhưng điều tôi thực sự muốn là làm hài lòng cả đại chúng lẫn giới chuyên g

    10 min
  2. May 27

    Rừng ngập mặn và những thách thức về bảo tồn « tuyến phòng thủ tự nhiên » ven biển Việt Nam

    Ngày 26/07 hàng năm được UNESCO chọn làm Ngày Quốc tế Bảo tồn Hệ sinh thái Rừng ngập mặn, kể từ năm 2015, nhằm nâng cao nhận thức của cộng đồng về tầm quan trọng của rừng ngập mặn và khuyến khích việc bảo vệ chúng. Tại Việt Nam, một trong những nước phải chịu nhiều tác động biến đổi khí hậu, nước biển không ngừng dâng cao, rừng ngập mặn là một tuyến phòng thủ tự nhiên không thể thiếu trước những tác động khắc nghiệt của tự nhiên. Không chỉ đóng vai trò bảo vệ bờ biển, hệ sinh thái đặc biệt này còn là nơi trú ngụ của nhiều loài sinh vật, góp phần vào sinh kế của người dân ven biển. Tuy nhiên, áp lực từ đô thị hóa, nuôi trồng thủy sản đã khiến diện tích rừng ngập mặn suy giảm đáng kể.  Để hiểu rõ hơn về thực trạng, thách thức về bảo tồn rừng ngập mặn ở Việt Nam, RFI tiếng Việt đã có cuộc trao đổi với tiến sĩ Lê Anh Tuấn, giảng viên khoa Môi trường và Tài nguyên Thiên nhiên của Đại học Cần Thơ. RFI : Báo chí Việt Nam thường gọi rừng ngập mặn là bức tường xanh, lá chắn sinh thái … Tiến sĩ có thể giải thích cho thính giả - độc giả của đài RFI tiếng Việt được biết rừng ngập mặn là gì, có những nét đặc biệt về sinh thái như thế nào ? TS. Lê Anh Tuấn : Rừng ngập mặn là những cánh rừng phát triển ở những khu đất đang bị ngập do nước mặn, đặc biệt là nước từ biển. Rừng ngập mặn có một vai trò rất lớn, là một lá chắn để bảo vệ vùng bờ biển và tạo ra một hệ sinh thái rất độc đáo cho các khu vực xung quanh, đồng thời là một nguồn phát triển sinh kế cho người dân, cũng như ổn định bờ biển của Việt Nam. Ở Việt Nam thì rừng ngập mặn tập trung nhiều nhất là ở vùng bán đảo Cà Mau, ở đồng bằng sông Cửu Long. Vào khoảng năm 1953-1954, diện tích rừng rất lớn, khoảng hơn 71.300 ha. Nhưng tới năm 1992 thì diện tích rừng ngập mặn bị thu hẹp rất nhiều, chỉ còn khoảng 33.000 ha. Một lý do là chiến tranh Việt Nam trước năm 1975, cùng với việc sử dụng chất diệt cỏ nên diện tích rừng ngập mặn bị thu hẹp. Rồi người ta sử dụng rừng ngập mặn để khai thác gỗ hoặc là chế biến than củi làm chất đốt. Rừng ngập mặn cũng bị người ta chuyển sang sản xuất nuôi trồng thủy sản, như là nuôi tôm hay nuôi cua. Khi sản xuất được mở rộng thì rừng ngập mặn bị thu hẹp lại. Nhưng mà sau đó thì người ta nhận thấy rằng rừng ngập mặn có một vai trò rất lớn trong hệ sinh thái và đồng thời bảo vệ vùng bờ biển nên có nhiều chương trình để phục hồi rừng ngập mặn, đặc biệt là từ những năm 1995 trở đi, song song với chương trình gọi là phục hồi rừng trên toàn quốc và kèm theo đó là chương trình mà trồng rừng 5 triệu ha rừng nữa. Đây là một nỗ lực rất lớn để phục hồi lại rừng ngập mặn. Đồng thời cũng có rất nhiều chương trình tài trợ cho việc bảo vệ rừng ngập mặn và khôi phục lại những hệ sinh thái ở vùng ngập rừng ngập mặn, đặc biệt là các vùng ven biển đồng bằng Sông Cửu Long, một số vùng ở Cần Giờ của Sài Gòn, một số vùng miền Trung như là vùng đầm phá Tam Giang hoặc là một số vùng ven biển ở phía Bắc thì rừng gặp mặn bắt đầu khôi phục dần dần. Tuy nhiên cũng có rất nhiều thách thức, do biến đổi khí hậu chẳng hạn, hoặc là do sự phát triển của dân số và sản xuất, nên diện tích rừng ngập mặn vẫn không được nhiều như mong muốn. Và đặc biệt, do nước biển dâng và thiên tai, nên rừng ngập mặn ở vùng bán đảo Cà Mau đang có khuynh hướng bị thu hẹp, bị xói lở rất mạnh ở mũi Cà Mau bên phía biển đông. Nhưng một phần phù sa lại đắp cho vùng biển phía tây, nên rừng ngập mặn đang có khuynh hướng phát triển về phía tây, trong khi phía đông thì bị thu hẹp lại. RFI : Vai trò của rừng ngập mặn trong việc chống biến đổi khí hậu là gì ? TS. Lê Anh Tuấn : Thứ nhất, rừng ngập mặn có sinh khối rất lớn. Các cây rừng ngập mặn, ví dụ như là cây mắm, cây đước, cây bần, phát triển mạnh, tạo ra một sinh khối rất lớn và dày đặc. Các rừng này sẽ hấp thụ lượng carbon (CO2) và đồng thời nhả ra oxy cho khu vực. Đồng thời rừng ngập mặn có vai trò che chắn sự tàn phá của sóng biển hay sự tàn phá của những trận bão nhiệt đới, để bảo vệ sản xuất và đời sống của người dân ở bên trong. Rừng ngập mặn cũng là nơi trú ngụ của rất nhiều loài chim, cá, và những loài chim cá này tạo ra một cảnh quan, một sự đa dạng sinh học cho khu vực. RFI : Với vai trò của rừng gập mặn trong việc chống biến đổi khí hậu như vậy, có thể hiểu là Việt Nam, đặc biệt là khu vực đồng bằng sông Cửu Long, rất cần rừng ngập mặn. Vậy ngoài tác dụng về chống biến đổi khí hậu thì rừng ngập mặn còn có vai trò gì đối với sinh kế của người dân Việt Nam ? TS.Lê Anh Tuấn : Rừng ngập mặn là nơi trú ngụ của rất nhiều loại thủy sản, như các loại tôm, cua, sò, ốc khác nhau. Người dân có thể dựa vào rừng ngập mặn để nuôi tôm, rồi nuôi cua hay là nuôi sò, nuôi ốc, hoặc là người ta có thể tạo ra những sản phẩm phụ như là cây gỗ hay là tạo ra hoạt động du lịch, du lịch sinh thái ở những vùng như vậy. Đó là một cơ sở để tạo ra sinh kế của cộng đồng và thêm nguồn thu cho cho chính quyền địa phương ở đó. RFI : Ở nhiều nước trên thế giới thì rừng ngập mặn bị tàn phá vì nhiều lý do. Tình hình tại Việt Nam, như tiến sĩ đã phân tích, diện tích rừng ngập mặn cũng đã giảm, về lịch sử thì có thể nói là do chiến tranh Việt Nam từ những năm trước 1975. Sau này thì có thể nói đến hai yếu tố, thứ nhất là biến đổi khí hậu, thứ hai là hoạt động của con người cũng đã góp phần là tàn phá, thu hẹp cái rừng ngập mặn. Vậy còn về chất lượng rừng ngập mặn hiện nay thì ra sao ? TS. Lê Anh Tuấn : Tôi cho rằng vùng rừng ngập mặn mà được khôi phục và bảo tồn thì chất lượng sẽ tốt hơn rất là nhiều. Ví dụ như ngày xưa là rừng ngập mặn ở Cần Giờ ở khu vực Sài Gòn bị tàn phá rất nhiều. Nhưng bây giờ rừng này đã phục hồi và có rất nhiều loài chim muông và thú, hay cá tụ về. Vùng bản đảo Cà Mau người ta cũng ghi nhận như vậy. Tuy nhiên, do sự giằng co giữa con người và thiên nhiên, biến đổi khí hậu, hoặc do sự quản lý lỏng lẻo, người ta có thể đi vào trong một khu rừng ngập mặn, chặt phá trộm hoặc là lén lút mở rộng diện tích nuôi tôm. Về mặt pháp luật, họ bị ngăn cấm rất nhiều, nhưng mà vấn đề là quản lý của chính quyền địa phương ở mỗi khu vực thì khác nhau, nơi làm tốt thì có thể rừng ngập mặn phát triển nhiều và đóng vai trò khôi phục lại hệ sinh thái và bảo vệ cái bờ biển khu vực đó. Còn những nơi quản lý lỏng lẻo, để cho người dân vô chặt phá, hoặc ở những vùng chịu những tác động của sóng biển bị xói lở hay là do những yếu tố thiên tai khác thì rừng ngập mặn đang thu hẹp. Nhìn trên bản đồ, chúng ta thấy rằng sự thu hẹp hay là mở rộng rừng ngập mặn không đồng đều ở các vùng khác nhau của Việt Nam. RFI : Thưa tiến sĩ Lê Anh Tuấn, ông là chuyên gia về môi trường và tài nguyên thiên nhiên, theo ông đâu là những khó khăn, những thách thức trong thời gian tới đây để bảo vệ, khôi phục rừng ngập mặn tại Việt Nam mà vẫn bảo đảm được sinh kế cho người dân ? TS.Lê Anh Tuấn : Một trong những thách thức để bảo vệ rừng ngập mặn là chúng ta phải nhận diện lại những mối đe dọa đến diện tích rừng ngập mặn. Thí dụ như là sạt lở bờ biển, sự suy giảm phù sa của sông Cửu Long khi ra biển, bởi vì rừng ngập mặn là một bãi bồi nhận phù sa đổ ra ngoài biển. Và những phù sa này hiện nay đang có khuynh hướng giảm đi, do sự hình thành của các đập thủy điện ở thượng nguồn sông Mê Kông. Đồng thời tình trạng khai thác cát bừa bãi ở vùng thượng nguồn làm cho lượng phù sa đi đến vùng bờ biển cũng ít đi. Và khi phù sa ít đi thì không còn bồi đắp lại mũi Cà Mau nữa. Điều này vừa có yếu tố con người, vừa có yếu tố tự nhiên. Thứ hai, vấn đề là quản lý và khôi phục lại những cánh rừng ngập mặn. Nếu c

    15 min
  3. May 20

    Hàn Quốc kích cầu du lịch vùng ít dân: Hoàn tới 50% chi tiêu, mở rộng mô hình workation

    Trong nỗ lực ứng phó với tình trạng suy giảm dân số ở nông thôn và phân bổ lại dòng khách du lịch ngoài các đô thị lớn, chính phủ Hàn Quốc năm 2026 bắt đầu triển khai mạnh hơn chính sách đưa du khách đến các địa phương ít dân bằng ưu đãi tài chính trực tiếp. Trọng tâm của chính sách là chương trình thí điểm “Hỗ trợ kỳ nghỉ yêu địa phương” - thường được gọi là “du lịch nửa giá” - cho phép người dân được hoàn lại 50% chi phí du lịch khi tới các vùng nông, ngư thôn bị giảm dân số, qua đó vừa kích cầu tiêu dùng tại chỗ, vừa tạo động lực để du khách quay lại lần sau. Theo bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Hàn Quốc, chương trình này được bố trí ngân sách 6,5 tỷ won và trong đợt đầu đã chọn 16 địa phương tham gia trong nửa đầu năm 2026. Danh sách gồm Pyeongchang, Yeongwol, Hoengseong của tỉnh Gangwon, Jecheon của Chungbuk, Gochang của Jeonbuk, Gangjin, Yeonggwang, Haenam, Goheung, Wando, Yeongam của Jeonnam, cùng Miryang, Hadong, Hapcheon, Geochang và Namhae của Gyeongnam. Chính phủ cũng cho biết sẽ tuyển thêm 4 địa phương nữa trong nửa cuối năm, trước khi xem xét mở rộng chương trình từ năm 2027 dựa trên kết quả thí điểm. Hoàn một phần chi phí du lịch bằng phiếu quà tặng Về cách thức hỗ trợ, du khách sẽ không nhận tiền mặt trực tiếp mà được hoàn lại bằng phiếu quà tặng địa phương trên điện thoại. Mức hỗ trợ tối đa là 100.000 won đối với cá nhân và 200.000 won đối với nhóm từ hai người trở lên. Điều đáng chú ý là khoản hoàn này chỉ được sử dụng ngay tại địa phương, tại các cửa hàng liên kết hoặc các kênh bán đặc sản bản địa, nên dòng tiền du lịch được giữ lại trong khu vực thay vì chảy ngược về các nền tảng lớn hoặc đô thị trung tâm. Đây chính là điểm cho thấy mục tiêu của Seoul không chỉ là tăng lượng khách, mà còn muốn biến du lịch thành công cụ nuôi lại kinh tế địa phương. Chương trình dự kiến vận hành chính thức từ tháng 4 đến cuối tháng 6 năm 2026 sau giai đoạn chuẩn bị của từng địa phương. Người tham gia phải từ 18 tuổi trở lên, nộp kế hoạch du lịch trước để chính quyền sở tại xét duyệt, sau đó mới đi du lịch, lưu lại chứng từ chi tiêu, rồi nộp hồ sơ xác nhận để được hoàn 50% chi phí. Phiếu quà tặng sau khi được hoàn phải dùng trong năm 2026. Bộ Văn hóa Hàn Quốc lưu ý thời điểm đăng ký, cách chứng minh chi tiêu và quy định sử dụng có thể khác nhau giữa các địa phương, nên Hàn Quốc khuyến khích người dân cần kiểm tra kỹ trên cổng du lịch quốc gia “Korea Travel” (대한민국 구석구석) trước khi đi. Workation - mô hình làm việc kết hợp nghỉ dưỡng Nếu nhìn rộng hơn, chính sách “du lịch nửa giá” không phải là động thái đơn lẻ mà nằm trong chiến lược lớn hơn của Hàn Quốc nhằm đưa người dân rời khỏi các tuyến du lịch quá quen thuộc để tìm đến những vùng đang mất dân, thiếu sức sống kinh tế nhưng có nhiều tài nguyên tự nhiên và văn hóa. Song song với việc hoàn tiền cho khách du lịch phổ thông, Hàn Quốc còn cổ vũ một xu hướng khác có khả năng tạo chi tiêu dài ngày hơn : workation - tức kết hợp làm việc từ xa với nghỉ dưỡng. Theo cách phân loại được giới thiệu trong các tài liệu phổ biến của Hàn Quốc, workation có thể chia thành ba nhóm lớn: kiểu đô thị, kiểu nghỉ dưỡng và kiểu nông thôn - trải nghiệm truyền thống. Ý tưởng chung là thay vì chỉ nghỉ vài ngày rồi rời đi, người lao động có thể ở lại lâu hơn tại một điểm đến, vừa làm việc từ xa ban ngày, vừa sử dụng dịch vụ lưu trú, ăn uống, trải nghiệm địa phương sau giờ làm. Đây là mô hình đặc biệt phù hợp với những địa bàn ven biển, miền núi, hoặc các làng quê vốn khó cạnh tranh với Seoul về việc làm nhưng lại có lợi thế về cảnh quan và chất lượng nghỉ ngơi. Nhiều địa phương Hàn Quốc đã nắm bắt xu hướng này khá nhanh. Jeju là ví dụ tiêu biểu, khi địa phương này được giới thiệu là một trong những điểm workation nổi bật nhất, với mạng lưới nhà lưu trú, không gian làm việc chung và cộng đồng du mục số phát triển khá sớm. Tài liệu của thành phố Seoul dẫn lại rằng số người tham gia workation tại Jeju đã lên tới khoảng 10.000 người, và chính quyền đảo đang tiếp tục mở rộng thêm các văn phòng chia sẻ công cộng vì nhu cầu từ doanh nghiệp tăng cao. Cũng tại Seogwipo, Jeju từng thí điểm không gian làm việc từ xa kỹ thuật số Island Work Labs, cho thấy chính quyền địa phương không chỉ quảng bá hình ảnh mà còn đầu tư trực tiếp vào hạ tầng làm việc. Ở cấp độ hỗ trợ doanh nghiệp, Cơ quan Xúc tiến Kinh tế Seoul (SBA) đang vận hành chương trình Seoul Workation dành cho người lao động tại các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Seoul, liên kết với nhiều điểm đến như Jeju, Yeosu và Yangyang. Theo số liệu được công bố, những người tham gia có thể trải nghiệm gói khoảng 3 đêm 4 ngày với chỗ ở, không gian làm việc và các chương trình trải nghiệm địa phương, với mức chi phí vào khoảng 100.000 won. Khảo sát với 523 người tham gia năm 2023 cho thấy mức hài lòng tổng thể đạt 90%, tỷ lệ muốn tham gia lại đạt 96%; trong khi khảo sát với đại diện doanh nghiệp và bộ phận nhân sự cho thấy 75,4% nhận định tỷ lệ nghỉ việc của nhân viên giảm sau khi tham gia. Những con số này cho thấy workation tại Hàn Quốc đang được nhìn nhận không chỉ là sản phẩm du lịch, mà còn là một công cụ phúc lợi lao động và giữ chân nhân sự. Không chỉ các địa phương du lịch nổi tiếng, khu vực nông thôn cũng đang được kéo vào làn sóng này. Bộ Nông nghiệp, Lương thực và Nông thôn Hàn Quốc cho biết từ tháng 9 đến tháng 11 năm 2025 đã triển khai chương trình rural workation trên phạm vi toàn quốc, mở rộng thêm các điểm mới như Icheon, Gokseong, Namhae và Gongju, bên cạnh các điểm đang vận hành trước đó như Gangneung, Hongcheon, Jeongeup, Sangju, Namwon. Người tham gia được hưởng ưu đãi tối đa 50.000 won mỗi người mỗi ngày làm việc, kèm bảo hiểm du lịch; đồng thời chính phủ cũng hỗ trợ tạo lập không gian làm việc và lưu trú thông qua quỹ hợp tác nông thôn - đô thị. Điều này cho thấy workation ở Hàn Quốc đang được thể chế hóa dần như một phần trong chính sách phục hồi nông thôn, chứ không còn là thử nghiệm nhỏ lẻ của vài doanh nghiệp công nghệ. Tại một số địa phương cụ thể, workation còn được gắn thẳng với chiến lược tái thiết điểm đến. Ở Buan của tỉnh Jeonbuk, chính quyền địa phương hiện có bộ phận phụ trách riêng về vận hành workation, công bố cả dự án xây dựng không gian hạ tầng workation, đồng thời hợp tác với Tổng cục Du lịch Hàn Quốc để tổ chức các chuyến khảo sát cho doanh nghiệp quan tâm đến mô hình này. Ở Gangwon, chính quyền tỉnh cũng đưa nội dung “thúc đẩy workation” vào kế hoạch du lịch cấp tỉnh và gắn nó với chiến dịch “Năm du lịch Gangwon 2025-2026”, cho thấy các vùng ven biển phía đông như Gangneung hay Yangyang đang được xây dựng như những điểm lưu trú - làm việc dài ngày, không chỉ là nơi đi biển cuối tuần. Nhìn từ tổng thể, Hàn Quốc đang thử một công thức khá rõ ràng: với khách du lịch phổ thông, nhà nước dùng chính sách hoàn 50% chi tiêu để kéo người dân tới các vùng ít dân; với nhóm lao động linh hoạt và doanh nghiệp, nhà nước cùng địa phương đầu tư vào workation để kéo dài thời gian lưu trú và tăng chi tiêu chất lượng cao. Hai hướng đi này bổ trợ cho nhau: một bên kích cầu nhanh, bên kia tạo ra dòng người ở lâu hơn, có khả năng quay lại nhiều lần và gắn kết sâu hơn với địa phương. Nếu chương trình thí điểm năm 2026 cho kết quả tích cực, rất có thể Hàn Quốc sẽ còn mở rộng cả “du lịch nửa giá” lẫn mạng lưới workation như hai mũi nhọn mới của chính sách du lịch vùng. (Theo Yonhap, ZDNET, Love Seoul, MAFRA - Bộ Nông nghiệp, Lương thực và Nông thôn Hàn Quốc)

    9 min
  4. May 13

    Thi đại học tại Hàn Quốc : Giấc mơ đổi đời hay vòng xoáy « địa ngục Joseon » ?

    Ngày 14/01/2026, phiên tòa sơ thẩm tại chi nhánh Andong của Tòa án Quận Daegu đã tuyên án trong vụ gian lận thi cử gây chấn động tại một trường THPT nữ ở TP Andong (tỉnh Gyeongsangbuk-do) : một giáo viên hợp đồng lĩnh 5 năm tù và bị tịch thu 31,5 triệu won, một phụ huynh bị phạt 4 năm 6 tháng tù, còn một nữ sinh 19 tuổi nhận 1 năm tù nhưng cho hưởng án treo 2 năm. Theo điều tra, phụ huynh và giáo viên chủ nhiệm đã 11 lần đột nhập trường trong giai đoạn 2023 – 2025, riêng thời gian nữ sinh theo học đã bảy lần lấy trộm đề thi giữa kỳ và cuối kỳ ; giáo viên cũng bị xác định nhận 31,5 triệu won qua 16 lần chuyển khoản để đổi lấy việc « tuồn/đánh cắp đề », giúp nữ sinh học trước câu hỏi – đáp án. Vụ việc bị phát giác ngày 04/07/2025 khi hệ thống an ninh kích hoạt đúng thời điểm tổ chức kỳ thi cuối kỳ. Tại tòa, Chánh án tòa án nhấn mạnh vụ án đã « vi phạm nghiêm trọng niềm tin vào giáo dục », đồng thời các bị cáo « xâm phạm nghiêm trọng quyền được học tập và cơ hội được đánh giá công bằng của học sinh » ; ông cho rằng hành vi này đã gây « tuyệt vọng và phẫn nộ sâu sắc » cho học sinh và phụ huynh trong môi trường cạnh tranh, thậm chí làm tổn hại « lòng tự trọng nghề nghiệp » của nhiều giáo viên tận tâm. Hội đồng xét xử cũng nêu việc giáo viên và nhân viên nhà trường bị hại kiến nghị xử phạt nghiêm khắc, và phụ huynh từng phá hủy một điện thoại di động bị coi là vật chứng ; tuy vậy, tòa xem xét tình tiết giáo viên cùng các bên liên quan đã thừa nhận hành vi, còn phụ huynh nộp 100 triệu won cho nhà trường như một phần khắc phục hậu quả. Bản án không chỉ khép lại một vụ « lộ đề thi nội bộ » tưởng như chỉ là lời đồn trong hành lang lớp học, mà còn phơi bày mặt tối của « cuộc đua điểm số » khi chính người lớn – những người lẽ ra phải bảo vệ chuẩn mực công bằng – lại tham gia bẻ cong luật lệ để giành lợi thế cho con em mình. Tòa nhận định hành vi này xâm hại nghiêm trọng niềm tin xã hội vào giáo dục và tước đoạt quyền được đánh giá công bằng của học sinh học tập trung thực ; vì vậy, đây không còn là sai phạm nội bộ có thể xí xóa mà là vụ án hình sự liên quan đến hành vi xâm phạm niềm tin xã hội vào giáo dục và cần bị trừng phạt tương xứng. Kỳ thi đại học toàn quốc tại Hàn Quốc Nhưng Andong không phải một « tai nạn đơn lẻ ». Giáo dục Hàn Quốc là một lát cắt của thứ mà giới trẻ thường gọi bằng cái tên lạnh lùng : « địa ngục Joseon » – nơi tuổi trẻ bị nén lại trong một công thức gần như bất di bất dịch : học hết sức, thi bằng mọi giá, và vào đại học danh tiếng để đổi đời. Hàn Quốc thuộc nhóm các nước OECD có tỷ lệ người trẻ tốt nghiệp bậc đại học/giáo dục bậc cao rất cao; nhưng nghịch lý nằm ở chỗ bằng cấp không có giá trị như nhau, khi trong tâm thức xã hội, tấm vé « đổi đời » thường gắn với SKY (Seoul National – Korea – Yonsei) và đường vào các chaebol – nơi lương thưởng, mạng lưới quan hệ và cơ hội thăng tiến tập trung mạnh. Còn lại, một bộ phận lớn người tốt nghiệp các trường « khá – trung bình khá » vẫn phải vật lộn để đứng vững ở các thành phố lớn : làm thêm, đổi việc liên tục, kéo dài giờ làm, chấp nhận kiệt sức – bởi chi phí sinh hoạt, nhà ở và áp lực « phải thành công » không hề giảm đi chỉ vì đã có bằng đại học – tấm bằng chỉ là điểm khởi đầu, không phải lời hứa chắc chắn về cơ hội. Trong bối cảnh ấy, kỳ thi tuyển sinh đại học quốc gia vì thế không còn là một bài kiểm tra thuần túy, mà trở thành « sự kiện quốc gia » khiến cả xã hội phải đổi nhịp để nhường đường cho sĩ tử : giao thông quanh điểm thi được yêu cầu hạn chế tiếng ồn, nhiều cơ quan – doanh nghiệp mở cửa muộn, cảnh sát sẵn sàng hỗ trợ thí sinh đến trễ, thậm chí các chuyến bay trên toàn quốc cũng bị điều chỉnh trong khung giờ thi nghe tiếng Anh để tránh tiếng động ảnh hưởng phòng thi. Kéo dài khoảng 8 giờ, Suneung (Kỳ thi kiểm tra năng lực học thuật đại học – tương đương thi tốt nghiệp trung học) phủ từ tiếng Hàn, Toán, tiếng Anh đến lịch sử Hàn Quốc và ngoại ngữ thứ hai/chữ Hán, nhưng áp lực lớn nhất thường dồn vào những « câu hỏi sát thủ » – các câu hỏi cực khó (hay rơi vào Toán và tiếng Hàn), tỷ lệ làm đúng rất thấp, dùng để sàng lọc nhóm thí sinh top đầu. Và chính vì các « câu sát thủ » bị xem là vượt khỏi phạm vi « học trong sách là đủ », học sinh lại phải lao vào cuộc đua ở lò luyện thi sau giờ học ; vòng xoáy ấy được nuôi bằng kỳ vọng và chi tiêu khổng lồ của gia đình, trong niềm tin rằng chỉ cần bước qua cánh cửa đại học danh tiếng, tương lai sẽ « mở khóa » – dù thực tế nhiều người trẻ sau đó vẫn mắc kẹt trong một thị trường lao động không phải lúc nào cũng trả kết quả tương xứng với những năm tháng đã đánh cược. Hệ thống tuyển sinh đại học Hàn Quốc không dồn áp lực vào « một kỳ thi », mà kéo dài thành cuộc chạy marathon 3 năm. Bên cạnh tuyển sinh chính quy dựa nhiều vào kỳ thi năng lực đại học toàn quốc, Hàn Quốc còn có tuyển sinh sớm – nơi nhiều trường giảm tỷ trọng điểm thi chuẩn hóa và tăng vai trò của học bạ cùng các yếu tố như bài luận, phỏng vấn, đánh giá hồ sơ… Nghe thì đa dạng và « nhân văn » hơn một kỳ thi duy nhất, nhưng mặt trái là : nếu hồ sơ học tập và hoạt động được cân nhắc nặng, học sinh buộc phải « giỏi đều – sạch đều – đẹp đều » trong thời gian dài. Một vết trượt điểm, một năm học không nổi bật, hoặc thiếu hoạt động phù hợp, « câu chuyện hồ sơ » có thể trở thành bất lợi. Thế là trường học biến thành nơi vừa học kiến thức, vừa chạy KPI (Key Performance Indicator – Chỉ số đánh giá kết quả) ; còn phụ huynh thì biến thành « quản lý dự án » của con – sắp lịch học thêm, định hướng chứng chỉ, chọn hoạt động, chọn chiến lược nộp hồ sơ. Cơ chế « tối thiểu điểm thi toàn quốc » lại khiến « tuyển sinh sớm » không hẳn tách khỏi thi cử : nhiều học sinh vẫn phải ôn thi như điên để chốt ngưỡng trong kỳ thi toàn quốc, đồng thời vẫn phải duy trì học bạ và hồ sơ. Kết quả là áp lực bị kéo dài, chồng lớp – mảnh đất màu mỡ cho sợ hãi, so sánh, và đôi khi là những lựa chọn sai lầm. Vụ án cung cấp đề cho hai chị em song sinh Trong bối cảnh ấy, vụ hai học sinh song sinh của trường THPT nữ Sookmyung trở thành một biểu tượng khác của « cơn nghiện điểm số » : khi cuộc đua quá khốc liệt, người ta sẽ tìm cách bẻ lái hệ thống thay vì chịu thua nó. Dư luận Hàn Quốc từng dậy sóng vì trường hợp hai chị em song sinh bị phát hiện liên quan gian lận điểm/đề, kéo theo trách nhiệm của người lớn và câu hỏi lớn hơn : vì sao một ngôi trường, một cộng đồng giáo dục, lại có thể để « một lợi thế bất công » tồn tại đủ lâu để làm tổn thương hàng trăm học sinh khác ? Theo hồ sơ vụ án được truyền thông Hàn Quốc tường thuật, người cha – khi đó là trưởng bộ phận giáo vụ – bị xác định đã cung cấp thông tin đề/đáp án cho hai con sinh đôi để các em làm bài trong nhiều kỳ kiểm tra định kỳ, khiến hoạt động đánh giá học lực của nhà trường được xem là « bị cản trở ». Không phải ngẫu nhiên mà vụ việc gây phẫn nộ diện rộng : trong cuộc đua mà chỉ cần chênh vài câu là có thể đổi thứ hạng, « đáp án đi trước một bước » đồng nghĩa với việc tước mất cơ hội công bằng của hàng trăm học sinh khác. Tòa án đã tuyên những bản án nặng cho người lớn : bản án dành cho người cha được giữ nguyên ở mức tù giam ba năm theo phán quyết tối cao năm 2020, như một thông điệp rằng đây không còn là « sai phạm học đường » có thể xử lý nội bộ. Còn với hai nữ sinh, quá trình tố tụng kéo dài nhiều năm : từ bản án sơ thẩm, phúc thẩm (giảm nhẹ so với sơ thẩm), cho tới khi Tòa Tối cao chốt lại vào ngày 24/12/2024, giữ nguyên mức một năm tù nhưng cho hưởng án treo ba năm

    10 min
  5. May 6

    Ô nhiễm kim loại nặng do khai thác đất hiếm, “quả bom nguyên tử” đối với sông Mê Kông

    Dòng sông dài nhất Đông Nam Á đang phải đối mặt với một cuộc khủng hoảng môi trường chưa từng có do chất thải từ các hoạt động khai thác đất hiếm khoáng sản ở thượng nguồn. Tại nhiều khu vực trên sông Mê Kông, mức độ nhiễm các kim loại nặng độc hại như thạch tín, thuỷ ngân chì, cao gấp gần 10 lần so với mức an toàn. Không chỉ nguồn sinh kế của hơn 70 triệu người bị đe dọa, những tác động này còn mang tính huỷ hoại đối với môi trường về lâu dài. Từ nhiều tháng qua, các hình ảnh về cá biến dạng, vảy đổi màu, có nhiều khối u, màu mắt bất thường,…, được loan truyền rộng rãi tại Thái Lan. Chúng được phát hiện dọc theo sông Kok ở miền bắc Thái Lan, bắt nguồn từ Miến Điện, chảy qua tỉnh Chiang Rai và đổ vào sông Mê Kông. Nhiều người dân không dám ăn cá sông, ngừng đánh bắt cá trước những thông tin về cá bị nhiễm độc do kim loại nặng được thải ra từ các hoạt động khai khoáng ở thượng nguồn. Tình trạng ô nhiễm tập trung chủ yếu tại vùng Tam giác vàng, nơi các con sông Kok, Sai, Ruak chảy từ Miến Điện vào Thái Lan và đổ vào sông Mê Kông. Trên thực tế, theo Bangkok Post tình trạng ô nhiễm kim loại nặng đã được phát hiện vào tháng 08/2024, khi người dân báo cáo về tình trạng nước sông vẩn đục. Tại đập Ban Kwae Wua, trẻ em bị phát ban sau khi chơi đùa trên sông. Tại Huai Chomphu, nông dân nhận thấy cây trồng héo úa dù được tưới nước hàng ngày. Đến đầu năm 2025, các xét nghiệm trong phòng thí nghiệm đã xác nhận nỗi lo sợ : dòng sông bị ô nhiễm với hàm lượng thạch tín cao, nồng độ kim loại nặng ở mức báo động. Cục Thủy Sản Thái Lan, được cho là để trấn an dư luận và tránh tác động đối với thị trường, đã thông báo hồi tháng 06/2025, rằng những con cá bị biến dạng được đánh bắt ở các con sông bị nhiễm ký sinh trùng Digenea và sự biến dạng không phải do kim loại nặng gây ra. Trong khi đó các tổ chức phi chính phủ và các nghiên cứu của Đại học Naresuan ở Thái Lan đã đưa ra bằng chứng về việc mô cá chứa kim loại nặng và các dấu hiệu như u, biến màu… là do nhiễm độc hóa học. Họ kết luận rằng cá bị nhiễm vi khuẩn/ký sinh trùng là hệ quả của việc hệ miễn dịch bị suy yếu do sống trong môi trường nhiễm độc lâu ngày. Các báo cáo từ Cục Kiểm soát Ô nhiễm Thái Lan (PCD) gần đây cũng đã phải thừa nhận các chỉ số hóa học về thạch tín, đang vượt ngưỡng an toàn. Kết quả xét nghiệm trầm tích, được công bố vào tháng 4/2026 cho thấy mức độ thạch tín đo được ở nhiều khu vực sông Kok, Sai và Ruak, lên đến mức 296 mg/kg, cao gấp 9 lần ngưỡng nguy hiểm (33 mg/kg). Ô nhiễm chì vượt quá mức an toàn cũng được phát hiện tại nhiều khu vực trên sông Kok, cùng với các kim loại nặng khác, bao gồm niken, đồng và crom, thuỷ ngân. Theo Ủy ban Sông Mê Kông - Mekong River Commission, cơ quan quản lý con sông, nồng độ thạch tín trong trầm tích có thể gây nguy hiểm cho các sinh vật đáy, đặc biệt là ở thượng nguồn sông Kok và sông Mekong. Vào mùa khô, mực nước thấp và lưu lượng giảm, có thể góp phần làm tăng lượng trầm tích tích tụ và nồng độ chất gây ô nhiễm cao hơn. Trong cuộc hội thảo trực tuyến về Khủng hoảng nhiễm độc tại sông Mê Kông, hồi tháng 04/2026, phó giáo sư Wan Wiriya, thuộc đại học Chiang Mai Thái Lan, nhận định :  “Mặc dù hiện nay con người không tiếp xúc trực tiếp với trầm tích giống như các sinh vật sống dưới đáy sông, nhưng thạch tín sẽ tích tụ dần trong hệ sinh thái và dần dần đầu độc chuỗi thức ăn, tác động trực tiếp đến con người”. Dòng sông đã bị đầu độc như thế nào ? Thanapol Penrat, giáo sư tại Đại học Naresuan của Thái Lan, trả lời AP, nhận định : “Vấn đề là ô nhiễm nguồn nước xuyên biên giới do khai thác khoáng sản đất hiếm và vàng không được kiểm soát và quản lý đúng cách ở Miến Điện. Tôi cũng rất quan ngại vì việc khai thác vẫn tiếp diễn ở Lào, như vậy là có thêm một nguồn phát thải chất ô nhiễm, không chỉ ở Miến Điện mà còn ở Lào và điều đó thực sự ảnh hưởng đến sông Mekong một cách tổng thể.” Ở phía thượng nguồn sông Mê Kông, miền bắc Thái Lan, báo cáo của Viện nghiên cứu Stimson có trụ sở tại Mỹ, dựa vào các hình ảnh vệ tinh và việc xác nhận các nguồn tin từ thực địa, chỉ ra hơn 2400 địa điểm khai thác khoáng sản, dọc theo 43 con sông. Tại các phụ lưu của sông Mê Kông, có đến gần 800 địa điểm khai thác, hầu hết không được kiểm soát. Các mỏ này xả trực tiếp xyanua (cyanide), thủy ngân, thạch tín (asen) và kim loại nặng vào nước sông. Các tác giả của báo cáo nêu ra các cơ chế chính đầu độc dòng sông, trong đó có việc khai thác đất hiếm bằng “rửa hóa chất tại chỗ” (in-situ leaching), khai thác vàng và dùng hóa chất (thường là xyanua) để rửa quặng kim loại... Ông Regan Kwan, một trong những tác giả của báo cáo, giải thích với RFI Tiếng Việt : “Mỗi phương pháp đều có nguy cơ gây tác động môi trường đáng kể. Với khai thác sa khoáng dọc sông, quá trình đào bới và khuấy động trầm tích làm giải phóng các kim loại nặng vốn tồn tại tự nhiên trong đất. Khi tiếp xúc với nước và không khí, các chất này có thể hòa tan và làm gia tăng ô nhiễm nguồn nước, với nồng độ kim loại nặng nhiều nơi vượt chuẩn của WHO. Phương pháp ngâm chiết (heap leaching) sử dụng axit để tách kim loại trong quặng ngoài trời. Hệ thống này thiếu che chắn và quản lý chặt chẽ, nên dễ gây rò rỉ nước thải độc hại, ảnh hưởng đến động vật hoang dã và có nguy cơ lan rộng khi xảy ra mưa lớn hoặc thiên tai. Cuối cùng, chiết tách tại chỗ (in situ leaching) bơm hóa chất trực tiếp vào lòng đất để hòa tan đất hiếm, đồng thời sử dụng nước sông trong quá trình khai thác. Sau đó, lượng nước thải chứa kim loại nặng và hóa chất thường được xả ngược trở lại môi trường, gây nguy cơ ô nhiễm nguồn nước mặt và nước ngầm.” Bắt nguồn từ Tây Tạng, sông Mê Kông chảy qua 6 nước rồi đổ ra Biển Đông, là nguồn cung cấp nước cho nông nghiệp, thuỷ điện, giao thông và thuỷ sản, nuôi sống hơn 70 triệu người trong khu vực. Dòng sông từ lâu đã phải chịu ô nhiễm nhựa, đến các đập thủy điện kìm hãm dòng chảy ở thượng nguồn và việc khai thác cát tàn phá bờ sông, chưa kể tình trạng biến đổi khí hậu, hay các loại ô nhiễm khác. Tuy nhiên, giới chuyên gia cho rằng các hoạt động khai thác đất hiếm không được kiểm soát, có thể gây ra cuộc khủng hoảng môi trường nghiêm trọng nhất mà dòng sông từng phải đối mặt. Quả bom nguyên tử "nổ chậm" ở sông Mê Kông Các kim loại nặng như thạch tín hay xyanua không bị phân huỷ theo thời gian. Khi chúng tích tụ, và có thể gây tác động lâu dài ngay cả khi các hoạt đông khai thác đã chấm dứt. Việc tiếp xúc với các kim loại nặng gây ra những hậu quả nguy hiểm đối với sức khoẻ. Ví dụ, thạch tín có thể gây suy tạng. Thủy ngân gây hại cho hệ thần kinh. Chì làm suy giảm nhận thức và cadmium gây hại cho thận. Ônh Brian Eyler, giám đốc chương trình về Đông Nam Á tại viện nghiên cứu Stimson, cũng là đồng tác giả của báo cáo nói trên, nhận định: “Một số người tại Thái Lan gọi đây là “quả bom nguyên tử” đối với sông Mê Kông. Tôi từng được hỏi so sánh về mức độ nghiêm trọng của tình trạng hiện nay. Phải nói rằng, ngoài cuộc chiến tranh Việt Nam trong thế kỷ trước, chưa từng có sự kiện nào ảnh hưởng đến nhiều người như thế này. Hiện áp lực đang đến từ nhiều phía. Nhật Bản và Úc đã phát hiện sản phẩm nhiễm độc. Cuối năm ngoái, Nhật Bản đã ngừng nhập khẩu đậu bắp và đậu xanh từ Chiang Rai ở Thái Lan. Úc cũng tìm thấy nồng độ thạch tín cao trong gạo Thái. Chúng tôi hy vọng áp lực kinh tế này sẽ thúc đẩy sự thay đổi.” Bàn tay Trung Quốc Báo cáo được thực hiện ban đầu, nhằm mục đích nâng cao nhận thức về mức độ nguy hiểm của nồng độ các kim loại nặng được phát hiện trước đó, và chủ yếu tập trung theo dõi hai mỏ khai thác. Nhưng qua quá trình nghiên cứu, nhiều mỏ khai thác mới đã được

    10 min
  6. Apr 29

    Mặt trận Bình dân Pháp : 2 năm cầm quyền, 90 năm di sản

    Cách nay đúng 90 năm, vào năm 1936, trong bối cảnh châu Âu nói chung và nước Pháp nói riêng phải đương đầu với nhiều biến động xã hội, Mặt trận Bình dân - Front populaire - đã ra đời, với nhiều cải cách xã hội mang tính cách mạng, tạo ra những thay đổi lớn lao cho cuộc sống của người dân Pháp. Cho dù chỉ tồn tại trong một thời gian ngắn, khoảng 2 năm, từ năm 1936 đến 1938, nhưng Mặt trận Bình dân đã để lại nhiều dấu ấn cho tới tận ngày nay. RFI tiếng Việt ngày 01/04/2026 phỏng vấn sử gia Jean Vigreux, chuyên gia nghiên cứu về Mặt trận Bình dân, giáo sư Đại học Bourgogne Europe của Pháp. RFI : Mặt trận Bình Dân là gì ? Ra đời trong bối cảnh chính trị - kinh tế - xã hội như thế nào ? Jean Vigreux : Mặt trận Bình dân là một phong trào chính trị, bởi vì chính cuộc bầu cử tháng 4-5 năm 1936 đã đưa một người theo chủ nghĩa xã hội lên lãnh đạo chính phủ ở Pháp, lần đầu tiên trong lịch sử. Đó là Léon Blum. Nhưng ngoài khía cạnh chính trị, Mặt trận Bình dân còn là một phong trào xã hội có quy mô rất lớn, một phong trào đình công lớn chưa từng có và đã giành được những quyền lợi mới cho nhân dân, cho người làm công ăn lương … Có thể nói rằng trong một giai đoạn đặc biệt, từ năm 1936 đến năm 1938, chỉ trong vòng 2 năm, Mặt trận Bình dân thực sự đã ghi dấu ấn trong đời sống của đất nước. Về nguồn gốc, Mặt trận Bình dân ra đời từ sự tập hợp của cánh tả Pháp, vốn dĩ bị chia rẽ kể từ sau Đệ nhất Thế chiến. Có 3 lực lượng chính của cánh tả, đó là đảng Cộng Sản, đảng Xã Hội và các phần tử cánh tả cấp tiến. Ngoài ra, còn có những lực lượng khác. Khi đó, giữa họ có sự chia rẽ. Rồi điều gắn kết họ lại với nhau chính là sự trỗi dậy của chủ nghĩa phát xít, là nỗi sợ hãi trước chủ nghĩa Quốc Xã và những gì đã xảy ra ở Đức năm 1933. Và sau đó là đến năm 1934, một cuộc đảo chính do những kẻ cực đoan cánh hữu tiến hành đã chiếm giữ Cung điện Bourbon (Palais Bourbon), trụ sở Hạ Viện, biểu tượng của Cộng Hòa Pháp. Trong bối cảnh đó, phe cánh tả muốn đoàn kết lực lượng và thành lập một liên minh bình dân, sau này đã trở thành Mặt trận Bình dân. Liên minh này được thành lập để bảo vệ nền Cộng Hòa, đồng thời nhằm chống lại cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội trong những năm 1930 và Đại Suy Thoái 1929. RFI : Trong bối cảnh thời đó, đâu là những thách thức và mục tiêu chính của Mặt trận Bình dân Pháp ? Jean Vigreux : Như tôi vừa nói, mục tiêu là bảo vệ nền Cộng Hòa, nhưng không chỉ đơn thuần là bảo vệ nền Cộng hòa, mà mục tiêu của Mặt trận Bình dân còn là chương trình có thể được tóm gọn khá đơn giản trong 3 từ « Bánh mì », « Hòa bình » và « Tự do ». « Bánh mì » là cung cấp bánh mì cho công nhân, cho những người thất nghiệp do khủng hoảng kinh tế và xã hội. « Hòa bình » là bảo vệ hòa bình chống lại chủ nghĩa phát xít trên phạm vi quốc tế, bởi vì thực sự khi đó có những mối đe dọa tương đối nghiêm trọng, ví dụ phát xít Ý đã tiến hành các cuộc can thiệp quân sự ở châu Phi, ở Ethiopia và nhiều nơi khác nữa. Như vậy, thách thức là lấy chủ nghĩa hòa bình chống lại logic chiến tranh, tức là chủ nghĩa phát xít. Xin nhắc lại là vào năm 1936, Pháp tưởng niệm sự kiện Verdun năm 1916, chỉ mới trước đó 20 năm. Đó là những vụ thảm sát và tàn sát trong Chiến tranh Thế giới Thứ nhất. Và thứ ba là tự do : đó là những quyền tự do cơ bản, trước những gì đang xảy ra ở Trung và Đông Âu, không chỉ dưới bàn tay của phát xít, mà còn cả các chế độ độc tài ở những nước này. Tóm lại, những mục tiêu chính của Mặt trận Bình dân là điều hành để phát triển nền Cộng Hòa, không chỉ về các quyền tự do, mà còn hướng đến một nền dân chủ xã hội. RFI : Những cải cách lớn, những biện pháp tiêu biểu của Mặt trận Bình dân khi đó là gì ? Jean Vigreux : Về những cải cách lớn, trước hết cần lưu ý là chúng đã được thực hiện một cách nhanh chóng. Xin nhắc lại Léon Blum được bổ nhiệm làm chủ tịch Hội đồng - mà ngày nay chúng ta gọi là thủ tướng - vào đầu tháng 6/1936, cụ thể là vào ngày 06/06. Và ngay trong đêm 07 sang ngày 08/06/1936, Thỏa  thuận Matignon đã được ký kết. Đây là lần đầu tiên ở Pháp, chính phủ tập hợp không chỉ các bộ trưởng, mà còn cả các đối tác xã hội, cụ thể là nghiệp đoàn CGT - Tổng Liên đoàn những người lao động - Liên đoàn Công nhân được thống nhất trước đó không lâu, và Liên đoàn Sản xuất Pháp, nghiệp đoàn đại diện cho giới chủ. Cùng với các đối tác xã hội, Nhà nước đã đưa ra quyết định để chấm dứt các cuộc đình công lớn, đưa ra những đề xuất quan trọng, làm thay đổi đời sống người dân. Trong số những thành tựu này có kỳ nghỉ phép có lương, giới hạn giờ làm việc (từ 48 giờ/tuần xuống còn 40 giờ/tuần), bầu cử đại diện người lao động - nói cách khác là sự công nhận các công đoàn và các thỏa ước tập thể. Đó là một số dấu ấn nổi bật của Mặt trận Bình dân. Tất nhiên, chúng ta có thể kể thêm những thành tựu khác, như là sự ra đời của các trung tâm văn hóa và thể thao cho tất cả mọi người, góp phần vào sự phát triển rực rỡ của thời kỳ dân chủ hóa văn hóa. Ngoài ra, còn có thể nói tới cộng đồng nông dân với sự ra đời của Cơ quan Liên ngành Quốc gia về Lúa mỳ, nơi bảo đảm thu nhập cho người nông dân. Muộn hơn một chút thì có thể nói tới việc thành lập SNCF (Công ty Đường sắt Quốc gia Pháp) vào năm 1937. Từng ấy thành tựu lớn chỉ trong một thời gian ngắn cho thấy ý chí chính trị mạnh mẽ và những cải cách quan trọng. RFI : Ông là sử gia chuyên nghiên cứu về Mặt trận Bình dân. Theo ông, đâu là yếu tố then chốt cho phép Mặt trận Bình dân nhanh chóng tạo ra các chuyển biến về đời sống xã hội cho người dân Pháp ? Jean Vigreux : Có hai yếu tố tác động ở đây. Đó là sự kết hợp của nhiều sự kiện. Thứ nhất, đó là sự lên nắm quyền của liên minh Mặt trận Bình dân, với sự thay đổi trong cán cân quyền lực. Lần đầu tiên đảng lãnh đạo là đảng Xã Hội, chứ không còn là các phe cấp tiến hoặc đảng trung hữu hay trung tả tùy thời điểm nữa. Như vậy, chúng ta thấy là có một bước ngoặt mạnh mẽ sang cánh tả. Đảng Cộng Sản, cũng ở vị trí rất quan trọng và giành được 72 ghế, chiếm 15% tổng số ghế được bầu. Đây thực sự là một điều mới mẻ và có ý nghĩa. Yếu tố thứ hai là phong trào xã hội. Xin nhắc lại là giữa hai vòng bầu cử, có ngày 01/05. Ngày 01/05 vào thời đó không phải là ngày nghỉ lễ quốc gia như thời nay. Người lao động khi đó phải đình công để có thể đi biểu tình vào ngày 01/05 và công đoàn CGT đã đề xuất biến ngày 01/05 thành ngày huy động lực lượng cho cuộc bầu cử lập pháp, dự kiến ​​diễn ra vào ngày 03/05/1936, chỉ hai ngày sau Ngày Lao Động 01/05. Phong trào xã hội, các cuộc đình công, mong muốn gây dựng sự ủng hộ của quần chúng trong cả nước cho các cuộc bầu cử và Mặt trận Bình dân, cho phong trào quần chúng thông qua các cuộc đình công, đã thực sự góp phần tạo nên thời điểm then chốt cho phép đời sống xã hội biến chuyển nhanh chóng. Nói tóm lại, một mặt đó là ý chí chính trị, là những gì thủ tướng Léon Blum đã thực hiện, với hàng loạt cải cách rất nhanh chóng và tức thời, mặt khác, đó là nhờ phong trào xã hội. RFI : Các giá trị xã hội mà Mặt trận Bình dân đề cao khi đó đến nay có còn được phát huy mạnh mẽ tại Pháp ? Theo ông, di sản bền vững nhất của Mặt trận Bình dân là gì ? Jean Vigreux : Có nhiều cấp độ trong câu hỏi này. Nói về di sản lâu bền nhất, tôi nghĩ rằng ngày nay mọi người trong xã hội Pháp đều đã chấp nhận kỳ nghỉ phép có lương. Chúng ta đã tăng từ 2 tuần nghỉ phép có lương lên thành 3 tuần vào năm 1956, lên tuần thứ tư vào những năm 1960, và sau đó từ những năm 1980-1982, dưới chính phủ của thủ tướng Pierre Mauroy và tổng thống François Mitterrand, thì có thêm tuần thứ năm nghỉ phép có lương. Đó là một thành tựu đã đạt được và để

    10 min
  7. Apr 24

    Pháp : Opéra - nghệ thuật của giới tinh hoa, xa rời giới trẻ ?

    Diễn viên người Mỹ Timothée Chalamet, gần đây đã mở ra một cuộc tranh luận khi cho rằng không ai quan tâm đến Opera hay ballet nữa. Thường bị cáo buộc là một loại hình nghệ thuật xa xỉ, Opéra được coi là chỉ dành cho một nhóm khán giả nhất định và có giá vé cao, phải chăng nghệ thuật cổ điển này, đang ngày càng xa rời thời cuộc, khi trình diễn lại những vỡ kịch từ nhiều thế kỷ trước và thiếu tính đương đại. Hồi cuối tháng Hai vừa qua, Timothée Chalamet, diễn viên người Mỹ - Pháp đã đưa ra phát ngôn “gây tranh cãi” khi quảng bá phim mới Martyr Supreme do anh thủ vai chính, được đề cử giải Oscar, khắc hoạ lại chân dung của một vận động viên bóng bàn. Trong cuộc phỏng vấn với CNN và Variety, tài tử tuyên bố : “Tôi không nghĩ rằng mình có thể làm việc trong các loại hình nghệ thuật cổ điển như Múa ba lê hay Opéra hoặc những ‘thứ’ mà người ta cố gắng duy trì mặc dù không ai quan tâm đến nó nữa… Dĩ nhiễn là với tất cả sự tôn trọng của tôi dành cho những người làm Ba lê và Opéra”. Phát biểu này đã khiến diễn viên 30 tuổi nhận không ít chỉ trích dữ dội. Trên mạng xã hội, nhiều hình ảnh và video chế hài hước được loan truyền, ví dụ như : “Hướng dẫn làm thế nào để lọt mất giải Oscar trong 10 giây”. Timothée Chalamet cũng bị các định chế Opera trên toàn thế giới “đáp trả”. Trên Instagram, Nhà hát Opéra Garnier ở Paris trả lời một cách hài hước, đăng một đoạn trích trong vở “Nixon ở Trung Quốc” đang được trình diễn, cho thấy cảnh các nhân vật xung đột trong một trận bóng bàn, kèm theo phần bình luận : “Thật bất ngờ, ở nhà hát Opéra cũng có bóng bàn đó, Timothée Chalamet”. Nhà hát Opera Metropolitan ở New York cũng đã đáp trả bằng một video, trích dẫn câu nói trong cuộc phỏng vấn, “với tất cả sự tôn trọng dành cho những người làm Ballet và opera,” đồng thời nhấn mạnh các ngành nghề khác nhau trong đoàn. Dòng chú thích kèm theo video tri ân đội ngũ của họ có nội dung: “Đây là dành cho bạn, Timothée Chalamet.” Opéra Vienna thì chọn một cách tiếp cận khác, phỏng vấn trên đường phố, lấy ý kiến của người qua đường về nhạc kịch. Nghệ thuật đắt đỏ Trên thực tế, bình luận của Chalamet đã nêu ra một hiện thực “nhạy cảm”. Opera và Balet khó có thể “rũ bỏ” hình ảnh một loại hình nghệ thuật đắt đỏ, liên tục lặp lại những tác phẩm cũ, và chỉ phục vụ tầng lớp thượng lưu, theo nhận định của đài phát thanh Pháp France Culture. Các tác phẩm nhạc kịch thiếu tính đương đại, và kìm hãm sự phát triển, “sức sống” của opéra, khiến chúng khó tạo nên dấu ấn, thu hút nhiều người như cách mà một bộ phim hay một cuốn tiểu thuyết có thể làm được. Trả lời France Culture, chuyên gia Timothée Picard, giảng viên tại đại học Rennes, khẳng định rằng : Timothée Chalamet đang nói về tương lai của điển ảnh, và cũng đang than thở về việc sụt giảm người xem tại các rạp chiếu phim. Nam tài tử này đã tách biệt điện ảnh, opera và ba lê, trong khi đó là những loại hình nghệ thuật đang gặp phải vấn đề tương tự. Timothée Chalamet có vẻ muốn được thừa nhận bởi những đại diện của văn hóa chủ đạo hơn là đứng về phía những giá trị văn hóa cổ điển hàn lâm hơn. Điều này giải thích những phản ứng của các định chế opera. Diễn viên này vốn được kỳ vọng là cầu nối hòa hợp giữa dòng phim nghệ thuật và phim đại chúng, đã từng được giới hàn lâm lý tưởng hóa, để rồi giờ đây họ cảm thấy bị phản bội. Thế nhưng, đây cũng chính là triệu chứng của một vấn đề thực sự. Trong khoảng hai mươi năm trở lại đây, opera ít được xem là một phần của văn hóa chung hơn so với những năm 1980 và 90. Tuy nhiên, thực tế này có thể được nhìn nhận một cách linh hoạt, vì opera đôi khi xuất hiện ở những nơi không ngờ tới, ví dụ, trong các bộ phim bom tấn. Tôi nghĩ rằng nó thu hút rất nhiều người, nó gợi lên những cảm xúc đặc biệt cho rất nhiều người.” Trong mục ý kiến của tạp chí cánh tả Nouvel Obs, Samuel Sené, nhạc trưởng, đạo diễn sân khấu và nhà sản xuất âm nhạc, nhận định rằng Timothée đã sai khi nói rằng không ai quan tâm đến opéra nữa. Nhưng nếu nhìn vào con số, riêng tại Pháp, các nhà hát đã tiếp đón hơn 800 000 khán giả, tăng 39 % so với 2019. Năm 2023, 93 % các vở nhạc kịch kín chỗ. Thực tế rất rõ ràng: những loại hình nghệ thuật này không hề mai một. Tuy nhiên, ông Samuel cũng thừa nhận rằng “đúng vậy, Timothée, một số loại hình nghệ thuật không có quá nhiều thay đổi”.  Nghệ thuật trong" tủ kính" Theo ông, nếu Opera và Ballet không mở cửa cho giới trẻ, chúng sẽ thực sự trở thành những “bảo tàng sống” xa rời thực tại. Tác giả nhấn mạnh rằng việc tìm kiếm khán giả mới không chỉ là vấn đề doanh thu, mà là vấn đề sống còn về tính chính danh của nghệ thuật. Nghệ thuật cần được “dân chủ hóa” để không còn bị coi là thú vui độc quyền của tầng lớp giàu có hoặc người cao tuổi. Theo vị nhạc trưởng này, phát ngôn của Timothée có thể gây sốc, nhưng lại là một cú hích cần thiết để công chúng và giới nghệ thuật phải nhìn thẳng vào thực trạng đang bị ngó lơ. “Thay đổi chỉ đến từ những người có tư duy đột phá, dám mở cửa thánh đường cho những “kẻ ngoại đạo”, dám báng bổ. “Timothée Chalamet, dù diễn đạt vô cùng vụng về, đã chỉ ra: Tại sao vào năm 2026, chúng ta vẫn tiếp tục dàn dựng thêm một vở 'La Bohème' phục trang cổ điển, thêm một vở 'Hồ thiên nga' với những chiếc váy tutu quen thuộc, mà không hề đặt câu hỏi về tính thời đại của chúng? Tại sao lại là những tác phẩm này, và tại sao lại là ngay lúc này? Và quan trọng hơn cả: Tại sao chúng ta không sáng tạo thêm những tác phẩm mới, những tác phẩm thực sự lên tiếng về những xung đột và thân phận con người trong thời đại chúng ta? Timothée Chalamet đã chạm đúng vào bản chất cốt lõi của vấn đề: Một nghệ thuật sống động không phải là thứ nghệ thuật được bảo tồn trong tủ kính, mà là thứ nghệ thuật luôn được đặt dưới những nghi vấn và dám dấn thân vào những lằn ranh mạo hiểm.”  Phải chăng opera ngày càng xa rời giới trẻ, thế hệ của Timothée Chalamet ? Ông Sylvain Fort, chuyên gia về truyền thông trả lời France Culture, lấy làm tiếc rằng opera không đủ gắn kết với thời cuộc : Mức độ sáng tạo trong Opera rất hạn chế, trong khi đúng ra phải là loại hình nghệ thuật biết nắm bắt hơi thở của thời đại và bối cảnh hiện thời  (...) các mùa Opera được tạo nên từ những tác phẩm kinh điển, những vở opera trữ tình ăn khách. Sau 35 năm đi xem Opera, đôi khi tôi cảm thấy mệt mỏi khi xem đến bản dựng thứ 50 vở "Đám cưới của Figaro"... Đây là những kiệt tác mà tôi luôn ngưỡng mộ và không ngừng khám phá lại, nhưng tôi cũng thấy rõ rằng đến một lúc nào đó, mọi thứ không còn ổn nữa... Thêm vào đó, các vở diễn đương đại được coi là khó cảm thụ, khó tiếp cận, đôi khi hiểu đúng, đôi khi sai, nhưng nó ảnh hưởng đến công chúng." Nỗ lực đổi mới bất thành ? Từ những năm 1980, Pháp đã nỗ lực đổi mới hình ảnh của Opéra. Tổng thống lúc đó, François Mitterand đã khởi xướng một dự án về opera hiện đại và bình dân” mới, xây dựng thêm một địa điểm trình diễn khác, bên cạnh Nhà hát dát vàng Palais Garnier, được coi là biểu tượng của giai cấp tư sản, không chứa được lượng khán giả lớn cũng như không thể trình diễn các tác phẩm hiện đại hoặc thử nghiệm. Nhà hát opera Bastille do đó đã ra đời, được khánh thành để kỷ niệm 200 năm Cách mạng Pháp, vào ngày 14 tháng 7 năm 1989, tại Place de la Bastille. Theo Sylvie Saint-Cyr, chuyên gia về tiếp thị văn hóa và nghệ thuật Biểu diễn, thời điểm đó tại Pháp, sự già hóa của khán giả opera (với độ tuổi trung bình trên 60), đã trở thành một vấn nạn đáng báo động. Vốn là những người mộ điệu và cũng là những khán giả trung thành các tác phẩm kinh điển, tầng lớp khán giả này lại có xu hướng từ chối các cách dàn dựng hiện đại và muốn giữ nguyên những chuẩn mực cũ k

    9 min
  8. Apr 8

    Canh bạc Trí tuệ nhân tạo : Giải pháp cứu hành tinh xanh hay là cỗ máy phát thải ?

    Trong bối cảnh công nghệ Trí tuệ nhân tạo AI ngày càng phát triển, những kỳ vọng đặt ra cho công nghệ này cũng ngày càng lớn, đặc biệt là trong việc ứng phó với biến đổi khí hậu và hiện tượng Trái đất nóng lên, đe dọa sự sinh tồn của quả địa cầu. Tuy nhiên, hiệu quả thực tế của AI lại bị đặt lên bàn cân, vì công nghệ này ngốn một lượng năng lượng khổng lồ để vận hành. Liệu AI là cứu cánh hành tinh xanh hay là quả bom hủy diệt ? Kể từ khi ChatGPT ra đời vào năm 2021, cả thế giới chuyển từ ngỡ ngàng sang thán phục, với khả năng trả lời vạn câu hỏi chỉ trong giây lát nhờ bộ nhớ khổng lồ và khả năng tổng hợp thông tin vượt trội trong mọi lĩnh vực, từ giải toán, cho đến làm thơ, sửa ảnh, lập trình. Cho đến nay, nhiều chatbot có khả năng xử lý khối dữ liệu khổng lồ tương tự như ChatGPT cũng đã ra đời, như Gemini, Claude hay Perplexity,…, chinh phục người dùng khắp nơi trên thế giới. Không chỉ những cá nhân mà ngay cả những doanh nghiệp hoặc chính phủ cũng dần dần áp dụng cách làm việc với Trí tuệ nhân tạo để tăng hiệu suất. Do vậy, Trí tuệ nhân tạo mang lại nhiều hy vọng về khả năng tìm ra những giải pháp ứng phó với các vấn đề nan giải của nhân loại hiện nay, đặc biệt là tình trạng biến đổi khí hậu ngày càng khó lường. Tại Pháp, AI đã được sử dụng để giải quyết một số “thách thức cấp bách”, như quản lý hệ sinh thái và tài nguyên, tối ưu hoá tiêu thụ năng lượng, theo Bộ Chuyển Đổi Sinh Thái. Cơ quan khí tượng Pháo Météo-France sử dụng AI để dự báo thời tiết và mô phỏng khí hậu trong tương lai. Viện thông tin địa lý và lâm nghiệp quốc gia Pháp cũng sử dụng AI để lập bản đồ, nhằm gia tăng khả năng phục hồi đa dạng sinh học. Cỗ máy xanh ? Tại thượng đỉnh Change Now diễn ra trong 3 ngày tại Grand Palais, Paris (30-01/04/2026), hơn 10 000 doanh nghiệp tại Pháp cũng như các chuyên gia từ khắp nơi trên thế giới đã đến giới thiệu những sáng kiến, giải pháp cho một hành tinh xanh. Bà Sonia Gamero, lãnh đạo của Tenaka, giải thích về sáng kiến của công ty :  “Giải pháp của chúng tôi là số hóa việc giám sát đa dạng sinh học biển nhờ cỗ máy này, có khả năng thu thập 6000 bức ảnh mỗi ngày dưới biển. Các bức ảnh sẽ được gửi vào lưu trữ đám mây và được AI phân tích, tự động xác định và định lượng tất cả đa dạng sinh học biển, bao gồm cá, động vật không xương sống, v.v. Dữ liệu sau đó được hiển thị trên bảng điều khiển trên nền tảng trực quan hóa của chúng tôi, có tên là TenacasaGames. Giải pháp này ban đầu được phát triển nhằm mục tiêu đo lường và định lượng những tác động tích cực của các hoạt động phục hồi rạn san hô đối với hệ sinh thái. Từ nền tảng đó, hiện nay chúng tôi đang mở rộng cung ứng giải pháp này cho nhiều lĩnh vực khác, bao gồm các đơn vị quản lý khu bảo tồn biển, công viên hải dương, cũng như các doanh nghiệp có nhu cầu đánh giá tác động môi trường. Mục tiêu cuối cùng là thiết lập một cơ chế bảo tồn đa dạng sinh học hiệu quả và bền vững hơn”. Đọc thêmTrí tuệ Nhân tạo và những rủi ro khó có thể kiểm soát Công ty Latitudo40, đến từ Ý, tự giới thiệu mình là một “nhà tư vấn dữ liệu” thành phố, dùng AI để làm cho các ảnh vệ tinh, vốn có độ phân giải thấp như Sentinel-2, thành ảnh chất lượng cao. Cô Eleonora S., đại diện của công ty, cho biết :  “Chúng tôi cung cấp dịch vụ quan sát và thông tin về Trái đất. Thay vì chỉ cung cấp dữ liệu thô, chúng tôi chuyển hóa chúng thành những thông tin giá trị về môi trường, hỗ trợ quá trình ra quyết định dựa trên dữ liệu thực tế. Các chỉ số này bao gồm nhiệt độ bề mặt đất, chỉ số tiện nghi nhiệt (PET), hệ số phản xạ (albedo) và chỉ số quang điện. Hệ thống của chúng tôi tích hợp nhiều tầng dữ liệu khác nhau, phục vụ thiết thực cho việc quản lý đô thị và đời sống người dân. Điểm cốt lõi trong giải pháp của chúng tôi chính là khai thác tiềm năng của trí tuệ nhân tạo thông qua thuật toán siêu độ phân giải (super-resolution algorithm) do chúng tôi tự phát triển. Cụ thể, chúng tôi tiếp nhận các hình ảnh từ vệ tinh Sentinel-2, sau đó ứng dụng thuật toán để nâng cấp chúng thành những hình ảnh có độ phân giải rất cao như quý vị đang thấy ở đây. Năng lực chuyên môn của chúng tôi tập trung chủ yếu vào việc vận hành các mô hình AI tự phát triển để phân tích và nhận diện hình ảnh vệ tinh.” Nếu như ngày càng có nhiều start-up tận dụng những khả năng của AI để tối ưu hoá những giải pháp đối với khí hậu, thì tác động của công nghệ này đã  được cảnh báo tại hội nghị Change Now : Đằng sau sự tiện lợi đó là một cái giá rất đắt về sinh thái, từ khai thác nguyên liệu, tiêu thụ nước sạch đến gia tăng gánh nặng lên lưới điện và phát thải khí nhà kính. "Mỗi datacenter là một quả bom khí hậu" Việc vận hành các mô hình AI cần đến các trung tâm dữ liệu (datacenter ) khổng lồ, tiêu tốn điện năng cũng như lượng nước lớn để làm mát. Theo báo cáo của Chương trình Môi trường Liên Hiệp Quốc, việc xây dựng cơ sở hạ tầng cho AI đòi hỏi một lượng tài nguyên khổng lồ. Để sản xuất một chiếc máy tính chỉ nặng 2kg, người ta cần tới 800kg nguyên liệu thô. Các chip vi xử lý phục vụ AI chứa nhiều nguyên tố đất hiếm, vốn thường được khai thác qua những quy trình gây hủy hoại môi trường nghiêm trọng. Các trung tâm dữ liệu không chỉ tiêu thụ tài nguyên mà còn thải ra một lượng lớn rác thải điện tử. Những thiết bị hư hỏng hoặc lỗi thời đều chứa các chất độc hại như thủy ngân và chì, gây ô nhiễm môi trường và ảnh hưởng đến sức khỏe con người. Các datacenter cũng cần đến một lượng nước khổng lồ để làm mát linh kiện điện tử khi vận hành. Dự báo cơ sở hạ tầng AI sẽ sớm tiêu thụ lượng nước gấp 6 lần toàn bộ đất nước Đan Mạch. Điều này gây ra mâu thuẫn nghiêm trọng, khi 1/4 dân số thế giới hiện vẫn thiếu nước sạch. Mức độ ngốn điện của AI cũng vượt xa các mô hình tìm kiếm truyền thống. Ví dụ, một lệnh tìm kiếm trên ChatGPT tiêu tốn điện gấp 10 lần so với Google. Tại các nước được coi là trung tâm công nghệ như Ireland, các trung tâm dữ liệu dự kiến sẽ tiêu thụ tới 35% tổng lượng điện năng toàn quốc vào năm 2026. Do phần lớn điện năng vẫn đến từ nhiên liệu hóa thạch, việc vận hành AI đang trực tiếp đẩy nhanh quá trình nóng lên toàn cầu.  Ông Théo Alves da Costa, kỹ sư AI hiện là giám đốc của tổ chức phi chính phủ Data for Good, nhận định "mỗi datacenter là một quả bom khí hậu", và cho rằng cần phải lập ra những giới hạn cho việc sử dụng AI. Ông giải thích: “Cốt lõi của vấn đề nằm ở quy mô và tốc độ xây dựng các trung tâm dữ liệu này. Đã đến lúc chúng ta phải tự hỏi: Chúng ta có bao nhiêu điện năng sẵn có so với các nhu cầu sử dụng khác? Từ đó, phải xác định rõ: mức tối đa chúng ta có thể dành cho AI là bao nhiêu Terawatt giờ, bao nhiêu tấn CO2, và tuyệt đối không được vượt quá con số đó. Hiện nay, chúng ta không có những giới hạn này, vì vậy chúng ta cứ xây dựng ngày càng lớn hơn, và đó chính là bản chất của quả bom khí hậu.” Vị  kỹ sư máy tính này cũng nêu ra một hiệu ứng “dội ngược” – rebound. Mặc dù AI có thể giúp các quy trình trở nên hiệu quả hơn, ví dụ như làm mát trung tâm dữ liệu tốt hơn 40%, nhưng chính hiệu quả này lại khiến người ta sử dụng AI nhiều hơn. Kết quả là tổng lượng phát thải cuối cùng vẫn tăng lên thay vì giảm đi. Hoặc các giải pháp AI có thể giúp tiết kiệm năng lượng ở một khâu, nhưng lại khiến tổng lượng tiêu thụ tăng lên ở khâu khác. Ông nói thêm : “Tôi từng phát triển giải pháp lắp đặt camera trong rừng để giám sát cháy rừng. Đó là các cảm biến nhỏ với camera, tiêu thụ ít năng lượng và kết nối trực tiếp với nhân viên cứu hỏa. Nghe qua thì có vẻ là một giải pháp tuyệt vời. Nhưng khi triển khai, chúng tôi nhận ra rằng: phải bảo trì camera, phải đào tạo nhân v

    9 min

About

Những vấn đề xã hội Việt Nam và trên thế giới qua lăng kính RFI

More From RFI Tiếng Việt

You Might Also Like