Triết học và Tư duy phản biện

Đạt Vũ

Rèn luyện tư duy Phản biện thông qua các câu hỏi, vấn đề triết học kinh điển

  1. JAN 31

    Bài 33: Giả khoa học và Dở khoa học

    Bài trước, ta đã tìm hiểu một cách tổng quát về phương pháp của khoa học. Nhưng có những thứ nhìn thì giống khoa học, nhưng lại không tuân theo một quy trình của khoa học theo cách mà giúp ta tự tin hơn trong những phát biểu tri thức. Những thứ này được gọi là giả khoa học (pseudoscience). Ví dụ về giả khoa học có thể kể đến danh sách dài như: vi lượng đồng căn, chiêm tinh học, phân tích chữ viết tay, cảm xạ nước, nghiên cứu hộp sọ… Giả khoa học thường có 3 đặc tính có thể phân biệt được sau đây: Dựa trên những bằng chứng từ kinh nghiệm cá nhân hơn là dựa trên những bằng chứng có thể tái phát triển.Thiếu những bộ khung giải thích (học thuyết)Không thể kiểm sai được Ngoài ra, có thể kể thêm đến các đặc tính như: chỉ ủng hộ một quan điểm đặc thù nào đó, không sẵn sàng để làm thí nghiệm kiểm thử, sử dụng những từ ngữ cực kì mơ hồ khiến ta khó chỉ ra đâu là các yếu tố nhân quả (ví dụ  ‘năng lượng âm’ hay ‘ý thức lượng tử’), không sẵn sàng thảo luận với cộng đồng khoa học rộng lớn hơn. Một cách tổng quát hơn, khoa học khác với giả khoa học ở chỗ khoa học có sự phát triển hoặc giúp các lĩnh vực khác phát triển. Ví dụ, những kiến thức khoa học về cấu trúc nguyên tử đã giúp tạo ra nhiều loại vật liệu mới. Vi lượng đồng căn, chiêm tinh học hay nhiều kiến thức giả khoa học khác không cho thấy sự tiến triển nào kể từ khi nó ra đời. Sự phát triển của chúng là một đường kẻ ngang. Vẫn có rất nhiều người tin vào các kiến thức giả khoa học, điều đó chứng tỏ giả khoa học có hợp lý (rational). Tuy nhiên, sự hợp lý đó không phải kiểu hợp lý mà chúng ta được học trong khóa học này – đó là sử dụng các lập luận diễn dịch và quy nạp. Giả khoa học vẫn hợp lý theo cách riêng của nó, và đó là thứ tuyệt vời để khuấy động tính tò mò của chúng ta. Bạn có thể tưởng tượng được điều gì xảy ra nếu người ta làm khoa học bằng mọi cách, bất chấp các rào cản về đạo đức. Mời các bạn theo dõi video sau: Mời các bạn đọc bài viết đầy đủ tại đây

    5 min
  2. JAN 31

    Bài 32: Phương pháp của khoa học và phép kiểm sai

    Phương pháp của khoa học Trong phần 4 của khóa học, chúng ta đã thấy được những lợi ích của việc cùng nhau xác minh các tri thức. Tổng kết lại, ta đã nói về: việc cải thiện độ chính xác khi khái quát hóa, khả năng phát hiện lỗi, tính tái sử dụng và độ tin cậy, bộ khung giải thích và thiên kiến nhận thức. Trong mỗi các trường hợp này, ta thấy rằng việc hợp tác có thể giúp mỗi người tự tin hơn về những gì mình biết. Mặc dù ta không thể giải quyết được triệt để vấn đề được đặt ra bởi chủ nghĩa hoài nghi hay biết chắc 100%, nhưng ít nhất chúng ta cũng cải thiện được điều gì đó trong lý luận của mình. Chúng ta đã phát triển được nhiều cách thức để hệ thống hóa khía cạnh xã hội của việc xác minh tri thức. Một trong số những cách phổ biến nhất, và có lẽ là thành công nhất đó là khoa học. Những phương pháp của khoa học đã phát triển để giúp đối phó với những vấn đề mà mỗi cá nhân không thể tự giải quyết được, và chúng tối ưu nhiều cách trong đó chúng ta có thể cùng nhau tạo ra và xác minh tri thức. Cải thiện việc khái quát hóa. Các nhà khoa học là những người được đào tạo kĩ lưỡng trong việc quan sát, đo đạc và ghi chép. Họ thực hiện điều này bằng những cách thức chuyên biệt cao, như chú trọng vào giá trị định lượng giúp việc phát hiện ra các xu hướng và đưa ra các phát biểu dựa trên khái quát hóa quy nạp trở nên thuyết phục hơn. Phát hiện lỗi. Các nhà khoa học giao tiếp thông qua việc lập luận. Họ đưa ra các tiền đề hay kết luận bằng cách sử dụng các bằng chứng của chính họ hoặc của người khác. Các bài báo khoa học thường báo cáo những gì được phát hiện, được phát hiện ra sao, và có thể tiếp tục suy ra các kết luận gì từ những phát hiện này. Những bài báo này được nhận xét chéo giữa các nhà khoa học với nhau để đảm bảo những lập luận được đưa ra là những lập luận hợp lý. Thông thường, các nhà khoa học làm việc này trước khi mỗi bài báo khoa học được xuất bản. Tái phát triển và độ tin cậy. Một trong những đặc điểm cốt lõi của khoa học là những phát hiện khoa học mới đều được đăng tải công khai trên các tập san khoa học. Điều này cho phép các nhà khoa học khác có thể xác minh bất kì một phát biểu nào. Nó cũng cho phép họ kiểm tra các phương pháp đã được sử dụng có sản sinh ra các bằng chứng đáng tin cậy hay không. Trong khi đó, các bằng chứng xuất phát từ những kinh nghiệm cá nhân ở những môi trường không kiểm soát được – thường không được chấp nhận là bằng chứng vì chúng không thể tái phát triển được. Bộ khung giả thích. Khoa học nổi tiếng trong việc đưa ra các bộ khung giải thích quan hệ nhân quả. Những bộ khung này được gọi là các học thuyết, và là mô hình của vũ trụ, hay các phần của nó, thứ mà cố gắng giải thích tại sao một hệ quả / hiện tượng cụ thể lại xảy ra. Chúng cũng giúp các nhà khoa học đưa ra các dự đoán dựa trên các học thuyết của họ, tức là chúng có thể được điều chỉnh để phù hợp với những bằng chứng mới. Thiên kiến nhận thức Thiên kiến (thành kiến) nhận thức là những thiên kiến mà mỗi cá nhân mắc phải trong tư duy. Chúng không dễ dàng xuất hiện trong cả một nhóm người – mặc dù mỗi cá nhân trong một nhóm thì rất dễ mắc phải chúng. Khi các nhà khoa học đánh giá những công trình nghiên cứu của người khác, họ phải rất cẩn thận để tránh những thiên kiến này (mặc dù không phải lúc nào họ cũng thành công). Khoa học là một ví dụ về cách tiếp cận có thệ thống trong việc cải thiện tư duy phản biện. Nó có nghĩa là giúp nhau cùng tạo ra và xác minh tri thức. Nhưng điều đó không có nghĩa là khoa học luôn luôn đúng. Trong lịch sử, khoa học đã không ít lần đưa ra những  phát biểu sai nhưng lại được chấp nhận rộng rãi. Nhưng việc tìm hiểu thế giới cho đến nay vẫn là công lao của các nhà khoa học. Nó không phải là một hệ thống hoàn hảo, nhưng nó có một tiến trình thực hiện cụ thể – đây cũng chính là điều phân biệt nó với thứ được gọi là giả khoa học. Mời các bạn đọc bài viết đầy đủ tại đây

    6 min
  3. JAN 31

    Bài 31: Thiên kiến nhận thức và ngụy biện logic

    Chúng ta vẫn thường có nhiều hoài nghi về các phát biểu tri thức. Và đó là khi chúng ta giả định rằng bộ não của chúng ta hoạt động bình thường. Nhưng trên thực tế, chúng ta hay mắc phải những lỗi mang tính hệ thống trong tư duy. Những lỗi này rất khó để nhận ra chứ chưa nói đến việc sửa chữa chúng. Những lỗi như thế này được gọi là thiên kiến nhận thức (coginitive bias). Chúng có thể kiến chúng ta đưa ra những kết luận quá sớm hoặc sai lầm. Một trong các thiên kiến chúng ta hay gặp nhất là thiên kiến xác nhận (confirmation bias). Đó là khi chúng ta chỉ để tâm đến những thông tin khớp với hoặc ủng hộ những niềm tin sẵn có của ta mà xem nhẹ hoặc phớt lờ đi những thông tin không khớp / mâu thuẫn với những niềm tin này. Ví dụ, tôi tin rằng là các học sinh lớp X lười học. Vì vậy, tôi thường chú ý hơn đến các trường hợp học sinh không làm bài tập hay mải nói chuyện riêng trong giờ học mà ngó lơ, không thật sự chú ý đến những học sinh tập trung và chăm chỉ làm bài tập. Đây là lĩnh vực kiến thức rất thú vị, bạn nên tìm đọc 2 cuốn sách là Tư duy nhanh và chậm và Phi lí trí để hiểu sâu hơn. Ngụy biện logic Ngụy biện là các lỗi mắc phải khi lý luận (ví dụ ngụy biện thành phần và tổng thể), trái ngược với việc măc lỗi liên quan đến bản chất thực tế của sự vật hiện tượng (factual mistakes). Nếu trong một căn phòng thực tế có 21 người nhưng tôi chỉ đếm thấy có 20 người thì đó là tôi mắc lỗi factual mistakes. Nếu gió làm đổ lọ hoa đang đặt trên bàn đúng lúc con mèo vừa nhảy lên nhưng tôi lại đổ lỗi cho con mèo vì làm vỡ lọ hoa (với lập luận rằng lọ hoa đổ ngay sau khi con mèo nhảy lên) thì tôi đang mắc một lỗi ngụy biện (fallacy). Mời các bạn đọc bài viết đầy đủ tại đây

    4 min
  4. JAN 31

    Bài 30: Tuân thủ quy tắc

    Khi tư duy hay lý luận về điều gì đó, chúng ta sử dụng các khái niệm. Chúng ta gọi con dao là con dao và cái bút là cái bút, và cố gắng không nhầm lẫn giữa 2 khái niệm này. Nếu ta gọi con dao là cái bút hay ngược lại, chúng ta đã mắc lỗi và nên sẵn sàng sửa chữa. Khi áp dụng những khái niệm và các thuật ngữ của một loại ngôn ngữ tự nhiên, dường như chúng ta đang tuân theo những quy tắc nhất định. Những quy tắc đó thuộc kiểu quy tắc cấu thành hay không cấu thành? Và như thế nào là tuân thủ một quy tắc mới được? Những quy tắc chi phối việc sử dụng các khái niệm hoặc các thuật ngữ ngôn ngữ học có liên quan tới một thứ gọi là ngữ nghĩa (meaning). Nếu biết quy tắc tôi đang tuân thủ khi gọi thứ gì đó là con dao, tôi có thể được cho là hiểu từ “con dao” nghĩa là gì. Khi đã biết nghĩa của một thuật ngữ, tôi có thể phân biệt thứ này với thứ khác. Nếu tôi biết nghĩa tương ứng của hai từ “con dao” và “cái bút”, tôi biết những điều kiện gì phải được đáp ứng để một thứ được gọi là con dao và những điều kiện gì phải được đáp ứng để một thứ được gọi là cái bút và đâu là sự khác biệt quan trọng giữa hai tập hợp điều kiện này. Nếu biết hai thuật ngữ đồng nghĩa với nhau như “mướp đắng” và “khổ qua”, tôi biết những điều kiện để áp dụng những thuật ngữ này là hoàn toàn giống nhau. Nếu những điều kiện để áp dụng một trong hai khái niệm hay thuật ngữ này không được đáp ứng, thì khái niệm hay thuật ngữ còn lại cũng không nên được áp dụng. Làm như vậy sẽ mắc lỗi hoặc đó là một cách sử dụng từ theo nghĩa bóng. Chưa cần quan tâm đến nghĩa bóng của một từ là gì, như thế nào là thuân thủ một quy tắc chi phối nghĩa đen của một khái niệm hay thuật ngữ trong một loại ngôn ngữ tự nhiên? Đa phần các triết gia và nhà ngôn ngữ học cho rằng các quy tắc chi phối việc áp dụng các khái niệm thuộc loại quy tắc cấu thành. Tức là, chính vì quy tắc “con dao nghĩa là con dao” mà từ “con dao” chỉ được áp dụng cho tất cả những vật thể là thuộc loại dao và gọi một cái bút là con dao sẽ được tính là một lỗi. (Chúng ta đang giả định một ngữ cảnh mà người nói nghĩa đen chứ không phải nghĩa bóng). Đây không thể là quy tắc không cấu thành bởi vì không có vật thể nào có thể được gọi là con dao trước khi có sự xuất hiện của quy tắc con dao. Ngoài sự tồn tại của quy tắc, điều gì quyết định chính âm thanh cũng là một phần của một ngôn ngữ. Điều gì đảm bảo việc tôi thốt ra 2 tiếng “con dao” là có nghĩa mà không phải là một âm thanh bình thường phát ra từ cơ thể như tiếng hắt xì hơi hay tiếng thở dài? Có một vấn đề gọi là loạn ngôn. Nếu hai tiếng “con dao” được thốt ra nhằm ám chỉ một loạt các vật thể như cái bút, bàn chải, cây gậy, cái xẻng, túi xách hay thậm chí là cả ồ hố của bạn – thì chúng ta sẽ không cách nào biết được đâu là trường hợp sử dụng đúng từ “con dao”, đâu là sai. Nếu chúng ta chỉ nhìn vào tất cả những thứ có thể khiến bạn thốt ra tiếng “con dao”, thì nghĩa của thuật ngữ này sẽ bị loạn trên diện rộng. Nó sẽ có nghĩa là ‘cái bút, bàn chải, cây gậy, cái xẻng, ồ hố hay bất kì thứ gì khác, nếu như các điều kiện đủ đặc thù khiến bạn sử dụng từ ‘con dao’. Nếu tôi không thể chỉ ra sự khác nhau giữa một con dao và một cái bút, thì khi tôi mắc lỗi khi gọi một con dao là cái bút, đó không phải vì bất kì thứ gì mang tính nội bộ (internal) đối với tôi hay cách dùng thuật ngữ “con dao” của tôi. Ngay cả khi tôi chưa một lần trong đời thất bại trong việc phân biệt một cái bút với con dao hay con dao với ồ hố của bạn, thì đó vẫn không phải lỗi của tôi. Đặc tính quan trọng của một quy tắc đó là nó áp dụng cho bất kì một số lượng vô hạn các trường hợp – do đó, ‘con dao’ chỉ tất cả các con dao ở mọi thể loại, bao gồm cả những con dao chưa tồn tại hoặc đã tồn tại và không bao giờ tồn tại – nhưng chúng ta sống có hạn nên chỉ có thể sử dụng từ ‘con dao’ trong hữu hạn các trường hợp mà thôi. Do đó, nếu ta sống lâu hơn, ta luôn luôn có thể tìm ra một cách sử dụng phù hợp của từ “con dao” đối với các vật thể như cái bút, hay cây gậy … thay vì một từ chỉ có một nghĩa. Link tại đây

    6 min
  5. JAN 31

    Bài 29: Reasoning vs Logic

    Khi tư duy về quy tắc (rules), các triết gia phân biệt giữa quy tắc cấu thành (constitutive rules) và quy tắc không cấu thành (non-constitutive rules) hay quy định (regulative rules). Quy tắc cấu thành là những quy tắc quyết định sự tồn tại của bản thân một loại hình hoạt động nhất định nào đó. Nếu không có quy tắc chơi cờ vua, thì bộ môn cờ vua không tồn tại. Một người có thể di chuyển một vật thể nào đó giống như một chiếc đầu ngựa qua những ô vuông đen trắng nhưng đó không phải là một nước đi trong môn cờ vua nếu như không có quy tắc cờ vua. Quy tắc không cấu thành thì ngược lại, điều chỉnh những hoạt động đã tồn tại từ trước. Ví dụ điển hình là các quy tắc xã giao như: chào hỏi nhau thế nào, xếp hàng ra sao, ăn uống trên bàn ăn thế nào cho lịch sự. Những hoạt động như chào hỏi, xếp hàng và ăn uống vẫn có thể tồn tại nếu không có quy tắc điều chỉnh. Thế còn quy tắc của việc tư duy tốt thuộc loại nào, cấu thành hay không cấu thành? Một số triết gia cho rằng câu trả lời là quy tắc cấu thành. Họ giải thích rằng, để được coi là có lý trí / biết suy nghĩ hợp lý (rational), một người phải biết tuân thủ những quy tắc hợp lệ của việc suy luận như modus ponens – A và [nếu A thì B], thì B – và modus tollens – không phải B và [nếu A, thì B], thì không phải A… Nếu ai đó không tuân theo những quy tắc như thế này, thì hoặc là người đó không chơi trò chơi lý trí (game of rationality), hoặc là cố gắng chơi nhưng lại thất bại trong việc tuân thủ quy tắc. Nhưng việc tuân thủ các quy tắc suy luận có đủ để quyết định rằng ai đó có đi một nước đi hợp lệ trong trò chơi lý trí hay không? Hãy theo dõi cuộc trò chuyện sau đây giữa Tý và Tèo. Tý đưa ra lập luận như sau đối với Tèo: [A] Hai cạnh của hình tam giác này cùng bằng với đoạn thẳng EF[B] Những thứ gì cùng bằng với một thứ trung gian khác thì bằng nhau.[Z] Hai cạnh của hình tam giác này bằng nhau. Dường như rất rõ ràng [Z] được suy ra khi có [A] và [B] nhưng Tèo từ chối chấp nhận lập luận này và nói chẳng có chỗ nào chỉ ra rằng [Z] phải được suy ra từ [A] và [B]. Rất khó chịu với sự ngang bướng của Tèo, Tý liền thêm vào tiền đề [C]: [C] – Nếu [A] và [B] đúng, thì [Z] phải đúng Nhưng lại một lần nữa, Tèo từ chối chấp nhận [Z] và lập luận rằng chẳng có nơi nào bảo rằng phải suy ra [Z] từ [A], [B] và [C]. Chưa nản lòng, Tý tiếp tục đưa thêm lập luận [D]: [D] –  Nếu [A], [B] và [C] đúng thì [Z] phải đúng Nhưng có thể đoán trước, Tèo lại không hài lòng và yêu cầu một tiền đề nữa để chỉ rõ rằng [Z] được rút ra từ [A], [B], [C] và [D]. Và câu chuyện cứ thế tiếp tục. Bạn có thể thấy rằng câu chuyện này sẽ kéo dài vô tận và Tý không thể nào làm hài lòng được Tèo. Tình huống trên nhằm chỉ cho chúng ta thấy quy tắc của suy luận không phải là thứ gì đó giống như câu điều kiện (mệnh đề C, D trong tình huống trên). Quay lại với sự phân biệt giữa phát biểu mệnh lệnh và phát biểu thuần mô tả ở bài 28, câu điều kiện là một phát biểu thuần mô tả để phản ánh sự thật về sự phụ thuộc của [Z] vào [A] và [B]. Vì mang tính thuần mô tả, nên câu điều kiện không cho chúng ta biết được điều chúng ta phải làm, trong khi đó, quy tắc lập luận diễn dịch dường như chỉ cho chúng ta phải suy ra [Z] từ cơ sở [A] và [B]. Nó mang tính mệnh lệnh. Nó cho ta biết phải hành động như thế nào, đó là rút ra kết luận [Z] bởi vì mệnh đề phủ định của [B] (not B) không thể đúng nếu như [A] đúng. Đến đó là đủ để biện minh cho suy luận của chúng ta và dừng sự hồi quy lại. Chúng ta có thể nghĩ được rất nhiều câu điều kiện như [C] và [D] nữa trong tình huống nêu trên, nhưng những phát biểu thuần mô tả thế này không cần thiết để biện minh cho sự suy luận của chúng ta. Mời các bạn đọc bài viết đầy đủ tại đây

    6 min
  6. JAN 31

    Bài 28: Bộ khung giải thích

    Con người là những sinh vật có khả năng kể chuyện một cách tài ba. Chúng ta có thể dùng mọi cách để liên kết các thông tin mình có được để hiểu hơn về thế giới xung quanh ta, cả thế giới tự nhiên lẫn thế giới nhân văn. Dưới đây là một ví dụ. Hãy nhìn vào những nhóm từ này: Dòng sông – Con thuyền – Cô gáiCây bút – Mặt bànĐiện thoại – Bao thuốc lá – Người đàn ôngChậu nước – Con vịt – Đứa trẻ – Tiếng trống Thật khó để không liên kết nghĩa của các từ này này lại với nhau. Bộ óc của chúng ta ngay lập tức tìm ra cách để sâu chuỗi các từ này lại để tạo thành một câu chuyện, hay ý nghĩa nào đó phù hợp với những kinh nghiệm/tri thức của ta về thế giới. Bất kể bạn làm gì khi nhìn thấy những nhóm từ này, bạn sẽ gần như không thể chỉ nhìn chúng như những từ ngữ đơn lẻ. (Chẳng hạn, bạn có thể liên kết các nhóm từ trên hành các hình ảnh như: một cô gái trèo thuyền trên dòng sông, một cây bút đặt trên mặt bàn, người đàn ông vừa hút thuốc vừa sử dụng điện thoại, một đứa trẻ đang chơi đùa trong châu nước cùng với một con vịt đồ chơi có thể phát ra tiếng kêu như tiếng trống). Điều này cũng đúng khi chúng ta nhìn nhận các vật thể và sự kiện. Và điều này càng thú vị khi chúng ta bàn về các mối quan hệ nhân quả. Quan sát ảnh bên dưới, rất dễ giả định rằng những chữ sau đây được viết bởi ai đó sử dụng chiếc bút ở bên cạnh. Chúng ta không thể chắc chắn, nhưng đó là một giả định hợp lý. Tương tự nếu chúng ta nhìn vào 2 vật thể này. Rất dễ giả định rằng, tờ giấy bị cắt bởi chiếc kéo ngay bên cạnh. Nhưng sẽ thế nào nếu như ta biết thêm được một số vật thể ở xung quanh? Một trong những thành kiến của chúng ta là nghĩ rằng tất cả những gì tồn tại chỉ có bấy nhiêu đó như ta nhìn thấy, vì thế chúng ta dựng lên câu chuyện của mình chỉ dựa trên thông tin đầy thiếu sót đó. Khi có thêm càng nhiều dữ liệu, ta có thể đưa ra càng nhiều những lời giải thích tốt hơn. Sau đó, ta có thể cùng nhau tạo ra và kiểm định những bộ khung giải thích (explanatory framework) này, gọi chúng là các học thuyết (theories). Học thuyết nào mà cách giải thích của nó càng tương thích với những gì chúng ta đã biết từ trước về thế giới thì học thuyết đó càng có ích. Nếu như độ tương thích của hai học thuyết là như nhau, thông thường, các nhà khoa học sẽ chọn cái nào có cách giải thích đơn giản hơn. Việc loại bỏ bớt những sự phức tạp không cần thiết còn được biết đến với tên gọi Nguyên lý dao cạo Ockham. Mời các bạn xem những hình minh họa dưới đây để hiểu hơn về quá trình hình thành, kiểm định, chọn lọc và sử dụng các học thuyết khoa học: Mời các bạn đọc bài viết đầy đủ tại đây

    5 min
  7. JAN 31

    Bài 27: ‘Oughts’ and ‘Is’-es

    Ở bài 25, ta đã nhắc đến việc suy nghĩ hợp lý cần ít nhất là tuân theo những tiêu chuẩn hay quy tắc của việc tư duy tốt, và một người phải chịu trách nhiệm khi suy nghĩ hay hành động của họ không đi theo những tiêu chuẩn hay quy tắc (norms or rules) này. Nhưng như thế nào là một quy tắc và như thế nào là tuân thủ (hoặc cố gắng tuân thủ) một quy tắc? Câu hỏi này khó mà trả lời đầy đủ nhưng ít nhất ta có thể chỉ ra những khó khăn mà các triết gia gặp phải khi đề cập đến chúng. Những phát biểu về quy tắc cần mang tính mệnh lệnh (prescriptive): chúng chỉ ra chúng ta nên làm gì hoặc không nên làm gì (ought to do something or ought not to do something). Ví dụ: chúng ta không nên vượt đèn đỏ (we ought not to across against the red light), chúng ta nên tránh mắc lỗi ngụy biện bù nhìn rơm khi lý luận, chúng ta không nên gọi con chó là con mèo (hay ít nhất, đừng kì vọng nó sẽ là một con mèo), chúng ta nên công nhận kết quả là 6 nếu như lấy 2 nhân với 3, chúng ta nên sẵn sàng sửa đổi và giúp ai đó sửa lỗi. Những phát biểu này khác với những phát biểu thuần mô tả (descriptive). Ví dụ: ánh đèn màu đỏ (the light is red), con lừa là một loài động vật, 2 là một con số, người phụ nữ ở phòng kế bên bị khuyết tật. Nhưng chính xác là điều gì giúp ta phân biệt giữa các phát biểu mệnh lệnh và các phát biểu thuần mô tả? Những phát biểu mệnh lệnh bắt nguồn từ đâu? David Hume cho rằng những phát biểu mệnh lệnh như thế này không thể xuất phát từ những phát biểu thuần mô tả vì những phát biểu mệnh lệnh cho thấy những mối liên hệ mới không hề hiện hữu trong bất kì các tiền đề mô tả được nắm bắt nào. Hãy tưởng tượng lại tình huống trong bài 26, lúc bạn đang dừng đèn đỏ ở ngã tư. Có rất nhiều thứ mang tính thuần mô tả như: đèn giao thông phát sáng màu đỏ, ánh sáng này truyền trong không khí rồi tác động lên võng mạc, nhãn cầu, các dây thần kinh cảm quang dưới mắt của bạn. Tuy nhiên, không có bất kì điều gì trong số này kéo theo kết luận rằng chúng ta không nên vượt đèn đỏ, ngay cả khi bạn nghĩ thầm trong đầu rằng “Mình không nên vượt đèn đỏ”. Điều gì tạo nên tính mệnh lệnh (oughtiness) trong những phát biểu mệnh lệnh kia? Điều Hume muốn nhắc chúng ta rằng những phát biểu mệnh lệnh không thể được suy ra từ những phát biểu thuần mô tả. Đây là một chủ đề được bàn cãi gay gắt cả trong giới học giả của Hume và trong những cuộc tranh luận về bản chất tự nhiên của các giá trị pháp lý và đạo đức. Thực sự, những tiêu chuẩn và giá trị đạo đức có những nền tảng tự nhiên nào hay không vẫn là một câu hỏi mở. Có rất nhiều cách hiểu quan điểm ‘no-ought-from-an-is’ của Hume nhưng chúng ta sẽ không đi sâu trong bài viết này và cũng không kì vọng sẽ tìm ra câu trả lời rõ ràng cho một câu hỏi phức tạp như bản chất của các giá trị đạo đức. Nhưng nếu như Hume đúng, việc tuân thủ một quy tắc phụ thuộc vào việc chúng ta cảm thấy hoặc suy nghĩ thế nào, thì điều gì sẽ xảy ra đối với những quy tắc của việc tư duy tốt? Chúng cũng có cơ sở là cảm giác hoặc tình cảm (sentiment)? Nếu tôi không cảm thấy giống như bạn, thì có nghĩa lý gì khi kết luận ai đó lý luận tốt hơn những người khác, hay không ai trong chúng ta đúng? Có tồn tại một tập hợp lý lẽ (space of reasons) nào đúng cho tất cả? Bản thân Hume nghĩ rằng ông ta có thể giải quyết được vấn đề này. Ông phân biệt giữa đam mê (passions), thứ có xu hướng nảy sinh từ kinh nghiệm mà liên quan trực tiếp tới những niềm vui hạn hẹp và cụ thể, với cảm giác đạo đức (moral sentiments), thứ nảy sinh từ năng lực cảm thông tự nhiên của chúng ta. Bởi vì một thái độ cảm thông (sympathetic response) liên quan đến việc nhìn nhận một tình huống từ quan điểm của người khác và trải nghiệm một trạng thái cảm xúc tương tự đối với người đó, nó khiến chúng ta có được một cái nhìn phổ quát. Nó khiến chúng ta xem xét các sự việc theo một cách khách quan từ nhiều quan điểm khác nhau. Và độ thông cảm này càng giảm đi khi khoảng cách giữa 2 người càng lớn. Mời các bạn đọc bài viết đầy đủ tại đây

    6 min
  8. JAN 31

    Bài 26: Intersubjectivity, đoàn kết là sức mạnh!

    Ở những bài học trước, chúng ta đã nhận thấy tri thức có nhiều vấn đề hơn chúng ta thường nghĩ. Không những khó để cắt nghĩa tri thức là gì, mà còn rất nhiều lý do để nghi ngờ những gì mà chúng ta nghĩ rằng mình biết về thế giới xung quanh. Chúng ta đã cố tìm những nền tảng cho tri thức của chúng ta bằng cách hướng về kinh nghiệm và cả những suy nghĩ nội tâm, nhưng vẫn có nhiều thứ phải hoài nghi. Bên cạnh đó, như chúng ta đã học, việc sử dụng lý luận quy nạp cũng không thể bảo đảm những gì chúng ta biết về thế giới khách quan là hoàn toàn chắc chắn. Trong những bài tiếp theo đây, chúng ta sẽ khám phá cách tri thức có thể được xác minh (verified) bởi cộng đồng như thế nào. Đó là việc có nhiều người cùng nhau làm việc thay vì từng cá nhân để giúp các phát biểu tri thức chắc chắn hơn. Việc cùng nhau xác minh ở đây không phải là xác minh những phát biểu mang tính chủ quan như “Món ăn ưa thích của chúng ta là kem” mà là những phát biểu ít tính chủ quan hơn, ví dụ: triều đại nhà Nguyễn có trước triều đại nhà Lê, hoặc chu kì giao động của con lắc phụ thuộc vào độ dài của nó. Dưới đây là một ví dụ đơn giản: Hãy nhìn bức ảnh trên. Nếu như tôi nói với bạn rằng, tôi cảm thấy những đường kẻ ngang trong bức hình trên không song song với nhau, thì không có gì phải bàn cãi vì đó là cảm giác chủ quan của tôi. Nhưng nếu tôi muốn khẳng định một cách phổ quát: những đường kẻ ngang (trong bức hình này) không song song với nhau, thì tôi có thể hỏi cảm nhận của những người khác. Nếu như có ai đó có cảm nhận giống tôi, tôi có thể tự tin hơn về phát biểu của mình. Nói một cách tổng quát, nếu ai đó có một trải nghiệm tương tự như những gì tôi đã trải nghiệm thì rất có thể đó chính là thực tại đang ẩn dấu bên trong. Việc xây dựng sự hiểu biết dựa trên những kinh nghiệm chủ quan tương tự nhau được gọi là INTERSUBJECTIVITY. Đây không phải là điều mới mẻ gì. Trong suốt lịch sử phát triển, loài người đã liên tục cách thức này để phát triển. Những người đi sau sử dụng những kiến thức đã được xác nhận (confirmed) bởi những người đi trước, rồi lại tiếp tục phát triển, cải tiến nó. Quy trình cứ thế lặp lại. Ví dụ, nếu ai đó phát hiện ra một loai thứ ăn nào đó có độc, hoặc một loại gỗ tốt để đóng bàn ghế thì điều này có thể được xác nhận bởi những người khác rồi sau đó mọi người có thể tham khảo sử dụng thông tin này. Một ví dụ nữa là cách sản xuất kim loai (luyện kim). Cách thức thực hiện được chia sẻ từ người nọ sang người kia, người sau xác minh, kiểm tra sai sót, rồi cải tiến quy trình và tiếp tục đến người tiếp theo. Bạn có thể áp dụng điều này để cải thiện khả năng tư duy phản biện của mình như thế nào? Dưới đây là những gợi ý dành cho bạn: Thử xem lập luận mình đưa ra có thuyết phục được người khác hay không. Nếu lập luận của bạn liên tục thất bại trong chuyện này, bạn nên xem lại lập luận của mình và không nên hành động dựa trên kết luận rút ra từ đó. Đồng thời, bạn cũng có thể nhờ người đó chỉ ra lỗi sai trong lập luận của mình.Nên tham khảo ý kiến của những chuyên gia. Chuyên gia là những người am hiểu kiến thức về một lĩnh vực nhất định nào đó. Nếu như có điều gì đó bạn không chắc chắn, sẽ rất đáng tin cậy nếu như bạn tham khảo ý kiến tư vấn của chuyên gia trong lĩnh vực đó. Bạn cũng có thể hỏi người chuyên gia đó xem họ thường tra cứu thông tin ở đâu để mình làm theo. Ngược lại, nếu như một cá nhân hay tổ chức nào đó liên tục đưa ra những thông tin, khẳng định sai lệch thì bạn không nên dựa vào những thông tin mà họ đưa ra nữa mà hãy tự tìm thông tin và rút ra kết luận cho riêng mình.Mời các bạn đọc bài viết đầy đủ tại đây

    6 min

About

Rèn luyện tư duy Phản biện thông qua các câu hỏi, vấn đề triết học kinh điển

You Might Also Like