Tạp chí âm nhạc

Góc vườn âm nhạc của RFI

  1. 2d ago

    Nhạc ngoại lời Việt : Graciela Susana, Vĩnh biệt tình ta

    Được mệnh danh là Cánh chim họa mi của Nam Mỹ, Graciela Susana là một trong nghệ sĩ nước ngoài hiếm hoi thành công tại Nhật Bản. Nhờ những bản phóng tác sang tiếng Nhật, cô đã giúp phổ biến thể điệu tango và các khúc nhạc dân gian tai xứ Phù Tang. Trong số những giai điệu của cô từng được đặt thêm lời Việt, nổi tiếng nhất vẫn là hai nhạc phẩm "Đi trong mùa thu" và "Vĩnh biệt tình ta". Sinh trưởng tại Buenos Aires trong một gia đình nhạc sĩ, Graciela Susana Ambrosio (1953-2024) từ thời còn nhỏ đã thừa hưởng năng khiếu nghệ thuật của thân phụ (Ricardo Ambrosio), nguyên là ca sĩ và nghệ sĩ dương cầm trong dàn nhạc của Tito Cosentino, nổi tiếng ở thủ đô Argentina. Thời niên thiếu, Graciela thường đi biểu diễn cùng với chị ruột (Cristina Ambrosio) trong ban song ca Las Hermanitas Ambrosio. Ban đầu hát dân ca Nam Mỹ, Graciela sau đó chuyển sang dòng nhạc tango, khi khởi nghiệp solo. Nhờ được đào tạo bài bản với các bậc thầy tango (Ángel Kelo Palacios, Roberto Lara và Alba Vellón), Graciela đoạt giải Tài năng mới nhân kỳ Liên hoan âm nhạc Tango La Falda năm 1970. Vào năm 18 tuổi, Graciela Susana thực hiện bước đột phá ngoạn mục khi lọt vào mắt của nam danh ca người Nhật Yōichi Sugawara. Ông xiêu lòng trước màn trình diễn của Graciela tại một quán nhạc tango (El Viejo Almacén) nổi tiếng ở Buenos Aires. Ông Yōichi sau đó đã mời Graciela đến Tokyo, giúp cô chinh phuc thị trường Nhật Bản, đánh dấu bước khởi đầu cho một sự nghiệp quốc tế, kéo dài trong nhiều thập niên liền. Đặt chân lên xứ hoa anh đào, Graciela ký hợp đồng ghi âm với công ty Toshiba-EMI, thành công ngay từ những album phòng thu tiếng Nhật đầu tiên, trong đó có tập nhạc "Adoro, La Reine de Saba" phát hành vào năm 1973. Kết hợp tango, dân ca và nhạc folk, abum ăn khách này trụ vững trên bảng xếp hạng Oricon của Nhật Bản trong vòng hơn 3 năm, lập kỷ lục số bán với hơn một triệu bản. Nhạc phẩm chủ đề "Adoro" từng được tác giả Phạm Duy chuyển lời thành giai điệu "Vĩnh biệt tình ta".  Sau một thời gian lập nghiệp tại Tokyo, Graciela Susana tập trung vào việc học thêm tiếng Nhật. Vào năm 1982, cô nhận giải thưởng của đài truyền hình NHK dành cho nghệ sĩ nước ngoài xuất sắc nhất nhờ màn trình diễn "Hitori/goto". Đầu thập niên 1990, nhờ nói thông thạo tiếng Nhật, Graciela Susana đã dẫn chương trình phát thanh trên đài NHK trong vòng 3 năm liền, quảng bá tango và dòng nhạc La Tinh thông qua các cuộc phỏng vấn các nghệ sĩ trứ danh Nam Mỹ như Quilapayún hay Paco de Lucía. Nhờ thu hút đông đảo người hâm mộ trung thành, Graciela Susana thường đi biểu diễn thường xuyên tại nhiều liên hoan khắp Nhật Bản. Cũng từ đó, Graciela chuyên phóng tác các điệu tango kinh điển như "La Cumparsita" hay "Caminito" sang tiếng Nhật. Các album chuyên đề dành cho thị trường Nhật Bản càng củng cố uy tín của Graciela như một nghệ sĩ nước  ngoài hát tiếng Nhật điêu luyện, nhờ vậy mà các album phòng thu của Graciela những năm 1990 đều thành công rực rỡ như Amor (1991), Ai no Uta wo Ima Anata ni (1992), Seijo to Yobarete (1996), hoà quyện phong cách tango, chất trữ tình của dòng nhạc La Tinh với nhạc pop Nhật Bản. Tuy không còn thuần chất tango Argentina, nhưng lối diễn giải này vẫn tràn đầy cảm xúc, giúp các bản tango kinh điển chinh phục được thêm nhiều khán giả châu Á. Sau nhiều năm lập nghiệp ở Nhật Bản, Graciela trở về quê nhà vào năm 2011. Tuy không hẳn giải nghệ, nhưng Graciela dần xa lánh ánh đèn sân khấu vì lý do sức khỏe. Vào cuối năm 2024, nghệ sĩ này đột ngột qua đời do lâm bạo bệnh tại Buenos Aires, ở tuổi 71.  Trong suốt sự nghiệp của mình, Graciela Susana đã thu âm hơn 60 album, nhận được nhiều đĩa vàng cũng như nhiều giải thưởng quan trọng. Chất giọng trầm ấm của Graciela chỉ cần có tiếng đệm của đàn ghi ta, tạo ra được những cảm xúc khó tả, như tiếng hót mượt mà của loài họa mi Argentina.

  2. Sep 12

    Những bản nhạc kinh điển của Céline Dion

    Cuối tuần này, Céline Dion khai mạc chuyến lưu diễn trên sân khấu Plenitude Arena ở  La Défense, vùng ngoại ô Paris, đánh dấu ngày diva nhạc pop người Canada tái ngộ khán giả thủ đô Pháp, sau nhiều năm vắng bóng. Đây là dịp nghe lại trong chương trình Góc vườn âm nhạc RFI những tình khúc gắn liền với tên tuổi của Céline Dion, trong đó có nhiều bài hát từng được đặt thêm lời Việt. Tính tổng cộng, ban tổ chức đã lên lịch 26 buổi biểu diễn tại Paris, 16 buổi vào mùa thu năm 2026, kể từ hôm nay 12/09 cho đến ngày giữa tháng 10. Đợt trình diễn này sau đó tiếp tục vào mùa xuân năm tới với 10 đêm bổ sung từ ngày 08/05 đến ngày 29/05/2027. Có thể nói là giới hâm mộ đã chờ đợi sự kiện này từ khá lâu, cho nên rất nhiều fan từ khắp nơi cùng đổ về Paris nhân dịp này. Céline Dion là một trong ba diva có tầm ảnh hưởng lớn nhất thế giới, cùng với Whitney Houston và Mariah Carey .... tiếp nối con đường của Aretha Franklin và Barbra Streisand  Trong vòng hơn 40 năm sự nghiệp, Céline đã giành được 5 giải Grammy, trong đó có giải dành cho bản Thu âm xuất sắc nhất trong năm (Record of the Year) và Giọng ca nữ nhạc pop xuất sắc nhất (Best Female Pop Vocal) dành cho nhạc phẩm "My heart will go on", ca khúc chủ đề bộ phim Titanic, nhân lễ trao giải Grammy lần thứ 41 vào năm 1999.  Thời kỳ huy hoàng nhất của Céline Dion là vào giữa thập niên 1990, trong giai đoạn này diva nhạc pop liên tục lập kỷ lục số bán với các album tiếng Anh, chinh phục thị trường quốc tế. Trong số các tập nhạc bán chạy nhất của Celine Dion, có 32 triệu bản của album "Falling into You" (1996) phát hành cách đây đúng ba thập niên cũng như 31 triệu bản của "Let's talk about Love" (1997) được bán trên toàn thế giới.   Hầu hết các đĩa đơn trích từ hai album này đều được xem là những bản kiệt tác trong thể loại power ballad. Đằng sau Céline Dion là một nhóm sáng tác hùng hậu, chuyên nghiệp hàng đầu như Diane Warren (Because you loved me) Jim Steinman (It's all coming back to me now" và nhà sản xuất David Foster (All by myself) đưa tên tuổi của Céline lên đỉnh cao danh vọng toàn cầu.  Album "Falling in to you" đã đem về cho Céline 2 giải Grammy solo đầu tiên dành cho Album hay nhất và Album nhạc pop xuất sắc nhất, nhân lễ trao giải Grammy vào năm 1997. Trong số những bài hát làm nên tên tuổi của Céline Dion, trước hết phải kể đến "The Power of Love" (Mãnh lực tình yêu) đánh dấu bước ngoặt lớn đầu tiên với đĩa đơn quán quân bảng xếp hạng Billboard. Giai điệu này mở ra một loạt bản hit đình đám khác như "To love you more, The Reason", "Immortality" hát với nhóm Bee Gees và nhất là "All by myself". Đoạn ngân dài ở phần giữa bài hát này thường khiến người nghe phải rùng mình, nổi da gà. Ngoài chất giọng nữ cao trữ tình đầy kịch tính, Céline còn chuyên luyện giọng để nắm vững kỹ thuật cao về thanh nhạc. Vì vậy, đa số các ca khúc của Céline thường nổi tiếng là khó hát và được xem là "thước đo" trong nhiều cuộc thi hát truyền hình đối với nhiều nghệ sĩ tại Việt Nam cũng như trên toàn thế giới. Mỗi khi cất tiếng hát, chất giọng của Céline thường vang xa, vút bay nhờ nội lực tràn đầy. Nhưng quan trọng hơn nữa là giọng ca này giàu cảm xúc, biết dựa vào lời ca, tận dụng lối hoà âm đa tầng, nét tinh tế trong cấu trúc để tạo điểm nhấn riêng cho từng tiết tấu cũng như khúc thức. Mỗi lần Céline thả hồn vào phiên khúc, người hâm mộ lại chợt nghe tâm hồn xao xuyến rạo rực, âm thanh tiềm tàng mãnh lực, kỷ niệm ngập tràn ký ức.

  3. Aug 29

    Nhạc Pháp lời Việt : Tuyển tập song ca của Hélène Ségara

    "Hélène Ségara & Friends" là tựa đề album phòng thu thứ 11 của ca sĩ người Pháp Hélène Ségara. Tập nhạc này bao gồm 12 bài song ca, ghi âm lại những bài hát ăn khách với dàn nghệ sĩ tên tuổi của Pháp cũng như quốc tế, trong đó có diva người Ý Laura Pausini, ca sĩ người Mỹ Lana Parrilla hay nghệ sĩ Hàn Quốc Sung Si-kyung. Được phát hành vào mùa hè năm 2026, album này được trình làng nhân dịp kỷ niệm 30 năm sự nghiệp ca hát của Hélène Ségara. Ngoài tuyển tập song ca, ca sĩ người Pháp còn chuẩn bị vòng lưu diễn trên các sân khấu lớn, tìm lại người hâm mộ trong không gian âm nhạc ngập tràn hoài niệm. Tên thật là Hélène Rizzo, cô sinh trưởng trong một gia đình người Pháp gốc Ý. Nhờ có năng khiếu âm nhạc, Hélène Ségara bắt đầu đi hát từ năm 15 tuổi trong các quán nhạc địa phương. Vào năm 25 tuổi, cô đến Paris lập nghiệp, ban ngày đi làm kiếm sống, ban đêm đi hát quán bar. Tài nghệ của Hélène lọt vào mắt nhà sản xuất Orlando, em trai của thần tượng quá cố Dalida. Nhờ vào sự dìu dắt của ông, Hélène Ségara thành công với album phòng thu đầu tay vào năm 1996 với tựa đề "Coeur de Verre" (Trái tim thủy tinh), doanh thu đạt mức đĩa bạch kim. Hai người hợp tác với nhau cho đến năm 2013, Hélène sau đó thu âm phiên bản tiếng Pháp của bài hát kinh điển "Chuyện tình yêu" (Histoire d'un amour) phiên bản tiếng Pháp đầu tiên do Dalida ghi âm. Sau bước đầu thành công này, tên tuổi của cô thực sự đạt đỉnh cao nhờ hai sự kiện nổi bật : Hélène được chọn vào vai cô gái du mục Esmeralda xinh đẹp trong vở nhạc kịch Nhà thờ Đức Bà Paris (Notre-Dame de Paris) của hai tác giả Luc Plamondon và Richard Cocciante. Giọng ca của Hélène Ségara còn nổi bật nhờ ghi âm phiên bản phóng tác tiếng Pháp của nhạc phẩm "Vivo Per Lei " (Je vis pour elle) vào năm 1997. Màn song ca xuất sắc cùng giọng ca tenor người Ý Andrea Bocelli là bệ phóng đưa tên tuổi của cô vào quỹ đạo thành công. Khi thực hiện bản phối mới cho tuyển tập song ca 2026, Hélène Ségara đã mời Florent Pagny, người làm nên tên tuổi của nhóm Il Cello, ghi âm lại giai điệu này. Trong tiếng Việt, "Vivo per lei" từng được tác giả Nhật Ngân chuyển thành nhạc phẩm "Tình yêu cho em" qua hai giọng ca Khánh Hà và Bằng Kiều. Thành công của bản song ca mở ra vào những năm 2000 thời kỳ vàng son của Hélène Ségara với nhiều bài hát cực kỳ ăn khách. Ca sĩ người Pháp khẳng định vị thế nghệ sĩ hàng đầu qua nhiều album thành công vang dội. Quan trọng nhất vẫn là tập nhạc "Au nom d'une femme" lập kỷ lục số bán với hơn một triệu bản, tương đương với đĩa kim cương, album này cũng mang lại cho Hélène danh hiệu giọng ca nữ xuất sắc nhất nhân kỳ trao tặng Giải thưởng Âm nhạc Victoires de la Musique của Pháp. Trong giai đoạn này có nhiều bài hát ăn khách như "Il y a trop de gens qui t'aiment", "Elle, tu l'aimes" lời tiếng Việt là "Không còn yêu" qua phần ghi âm của Mỹ Tâm, bài song ca ảo với Joe Dassin "À toi" từng được ca sĩ Duy Quang chuyển thành nhạc phẩm "Này em" và nhất là bản song ca với Laura Pausini "On n'oublie jamais rien", từng được nhạc sĩ Nhật Ngân đặt lời thành nhạc phẩm "Sẽ không bao giờ quên anh". Trong những năm gần đây, Hélène Ségara được mời làm thành viên ban giám khảo chương trình tìm kiếm tài năng mới tại Pháp (La France a un Incroyable talent). Nhờ vậy, cô vẫn giữ liên lạc với giới hâm mộ và thường xuyên tham gia các show ca nhạc truyền hình. Trong ba thập niên sự nghiệp, Hélène Ségara đã thực hiện 11 album phòng thu, bán được hơn 15 triệu đĩa hát. Với chất giọng trong trẻo ngọt ngào, cách nhả chữ trau chuốt, vibrato giàu cảm xúc, Hélène Ségara còn nối bước thế hệ trước là Nana Mouskouri và Danielle Licari trong cách dùng vocalise. Tuyển tập song ca vừa được phát hành đánh dấu một hành trình khá dài từ những quán nhạc phòng trà nho nhỏ tại miền nam nước Pháp, cho đến đỉnh cao danh vọng nhờ sở trường hát tình ca kinh điển, đưa giai điệu vào miền ký ức miên viễn, cho dư âm xao xuyến, đánh cắp bao trái tim, thả hồn trong kỷ niệm.

  4. Aug 1

    Album Wallflower (2015) - Bữa tiệc âm nhạc của Diana Krall

    Wallflower, album phòng thu thứ 12 của Diana Krall, ngôi sao jazz Canada đưa khán giả ngược dòng thời gian dạo chơi với những tác phẩm pop/rock kinh điển. Hợp tác với nhà sản xuất tài ba David Foster, Diana chiêu đãi khán giả bữa tiệc âm nhạc thịnh soạn nhất sự nghiệp. Gương mặt sáng giá jazz Canada Diana Krall bắt đầu sự nghiệp từ năm 1992 với album đầu tay Stepping Out. Cô bứt phá ngoạn mục sau 4 năm nhờ album All for You: A Dedication to the Nat King Cole Trio (1996), cover ca khúc bất hủ của tượng đài jazz Nat King Cole. Album gây tiếng vang lớn, giúp cô nhận đề cử Grammy đầu tiên. Nữ nghệ sỹ jazz sinh năm 1964 nổi tiếng với chất giọng contralto, quãng trầm dầy, ấm áp, có màu sắc riêng biệt. Cô từng đoạt 2 giải Grammy ở hạng mục Album Jazz của năm. Đáng chú ý, trường Đại học Victoria, bang British Columbia trao bằng tiến sỹ Nghệ thuật danh dự cho Diana nhờ đóng góp nghệ thuật của siêu sao nhạc jazz. Cô kết hôn với nhạc sỹ người Anh, Elvis Costello năm 2003 và có hai con trai với Elvis. Album Wallflower sản xuất năm 2015 là dự án nhạc pop đặc biệt của Diana, xa rời sở trường jazz quen thuộc. Nữ nghệ sỹ làm mới những tác phẩm kinh điển nhóm The Eagles, Bob Dylan, Elton John, The Carpenters theo màu sắc ngẫu hứng jazz. Đặc biệt, Diana thể hiện bản ballad đẹp, If I can take home you tonight (Nếu anh đưa em về nhà tối nay) do Sir Paul McCartney sáng tác nhưng chưa bao giờ ghi âm. Bản nhạc chứng minh tài năng phi thường của Paul McCartney chỉ trong vài nốt nhạc mở bài. Ca khúc trở thành món ăn đáng chú ý của album nhờ giai điệu sắc nét, âm hưởng buồn man mác, giọng truyền cảm của nữ ca sỹ. Gu tuyển chọn bài hát tinh tế Với album đậm chất hoài cổ theo tư duy mới mẻ, Diana hợp tác với David Foster, nhà xuất danh tiếng có tư duy thị trường nhạy bén với gia tài thành tích hàng loạt giải Grammy như The BodyGuard (Vệ sỹ, 1992), Unforgettable (1991). Ca khúc mở đầu album là California dreaming (Mơ về California), bản nhạc kinh điển gắn với tên tuổi nhóm nhạc The Mamas and The Papas. Ca khúc được sáng tác năm 1963 khi bộ đôi nhạc sỹ John và Michelle Phillips sống giữa mùa đông New York lạnh giá, nhớ về nắng ấm bang California. Nữ nghệ sỹ giới thiệu món ăn khai vị đẹp mắt, nhẹ nhàng mà giữ nguyên được linh hồn ca khúc. David “đo ni đóng giày” cho Diana hai bản hit của nhóm rock huyền thoại The Eagles, Desperado và I can’t tell you why (Anh không thể giải thích tại sao). Nữ ca sỹ khám phá cách thể hiện mới mẻ, khác với bản gốc thô ráp, đậm chất folk-rock. Diana tạo được dấu ấn cá nhân nhờ biến tấu sang bossa nova, tiết tấu chậm rãi và cảm xúc dồi dào. Thú vị hơn, Diana đã nâng ca khúc Superstar (Siêu sao), của nữ ca sỹ quá cố Carpenters lên một tầm cao mới. Bản cover đẹp và da diết trong phần phối khí bay bổng và tình tứ của David Foster. Giọng hát có chiều sâu của Diana khóa chặt khán giả trong không gian một chuyện tình buồn. Sự dũng cảm có “tính toán” bài bản Bộ đôi David Foster và Diana Krall tính toán hợp lý và dũng cảm khi cover lại nhiều bản hit lừng lẫy của các huyền thoại pop/rock. Ca khúc tựa đề album Wallflower là sáng tác của nhà thơ, nhạc sỹ Bob Dylan, người không xa lạ với phong cách folk rock đường phố. Bản cover của Diana đi theo lối nhẹ nhàng, tao nhã. Giọng hát có vị xông khói và màu sắc đặc trưng, hòa quyện tiếng guitar, miêu tả được sự cô đơn, e ngại, sự hoài mong tại bữa tiệc khiêu vũ. Kiệt tác đi cùng năm tháng, Sorry seems to be hardest word (Xin lỗi là ngôn từ khó khăn nhất) của Sir Elton John, được nữ danh ca chế biến hoàn hảo. Không có giọng hát sắc bén, cường độ mạnh như Elton John, Diana làm mới bằng sự lịch lãm và tiết chế chắc tay. Cô tái hiện được màu trầm buồn và cao độ bi tráng của bản gốc. Vẫn tiếng piano dìu dắt, chất giọng contralto đẩy được cao trào một cách mỹ mãn. Khán giả nhận thấy Diana Krall tôn trọng và nâng niu tác phẩm gốc mặc dù làm mới theo bản năng jazz. Bản cover lại của nhóm 10CC thập niên 70, I’m not in love (Anh không yêu em) được coi là một trong những món ăn tinh túy của album. Tác giả ca khúc không chọn lối mòn để nói Anh yêu em mà hoàn toàn ngược lại. Nữ ca sỹ rất nhập vai trong câu chuyện tình yêu mà ca khúc truyền tải. David Foster phối khí ca khúc theo lối hiện đại thiên hướng acoustic khác với bản gốc. Giọng hát Diana mê hoặc, dạo chơi trong âm thanh piano êm dịu và ca từ thông minh của ca khúc. Những khách mời song ca đặc biệt Album Wallflower được phát hành dưới hai phiên bản. Bản tiêu chuẩn gồm 12 ca khúc, bản đầy đủ có thêm 8 ca khúc. Nhà sản xuất tối đa hóa tính thương mại của album nhờ vào cộng hưởng tệp khán giả nhạc jazz với country, soft pop/rock. Chính vì thế, các khách mời đặc biệt như Michael Buble, Bryan Adams, Sarah McLachlan, Vince Gill giúp cho bữa tiệc âm nhạc của Diana Krall thịnh soạn hơn, nhiều hương vị lạ lẫm. Michael Buble, giúp cho bản ballad song ca Alone Again (Naturally) thập niên 70 trở nên ngọt ngào hơn bản gốc trầm buồn. Màn hát bè và hát đôi ăn ý giữa Diana và Sarah McLachlan trong If you could read my mind (Nếu em đọc được suy nghĩ của anh) tạo dấu ấn khó phai về sự đổ vỡ trong hôn nhân. Ca khúc Everybody’s Taking (nhạc phim Oscar Midnight Cowboy, 1969) là kết hợp duyên dáng giữa ngôi sao nhạc country, Vince Gill cùng với Diana Krall. Album Wallflower là bước đi khôn ngoan của Diana Krall kết hợp với David Foster. Nhà sản xuất đã nâng tầm album giải trí, dễ nghe trở thành khối nam châm khổng lồ : giọng hát truyền cảm Diana, phối khí dàn nhạc dây, dàn khách mời ăn ý. Nam ca sỹ giọng khàn Bryan Adams bổ sung hoàn hảo cho Diana trong bản nhạc tình sâu lắng của Randy Newman, Feels like home (Cảm giác như mái ấm). Nhìn tổng thể, nữ nghệ sỹ piano, jazz Diana Krall đã cách tân những món ăn quen thuộc trở thành ẩm thực cao cấp cả thanh lẫn sắc. (Theo Jazz News, Wikipedia)

  5. Jul 25

    Nhạc ngoại lời Việt : Tomio Umezawa và liên khúc "Một thuở yêu người"

    Nhắc đến giai điệu "Một thuở yêu người", giới yêu nhạc nghĩ tới ngay phiên bản tiếng Hoa rất nổi tiếng của danh ca Hồng Kông Trương Học Hữu, nhưng bản gốc lại là một bài hát tiếng Nhật do Kei Ogura & Koji Kanda đồng sáng tác vào năm 1992. Tại xứ hoa anh đào, giọng ca được cho là có lối diễn đạt sâu sắc nhất chính là ca sĩ kiêm diễn viên Tomio Umezawa. Sinh trưởng tại tỉnh Fukushima, Tomio Umezawa xuất thân từ một gia đình có dòng máu nghệ sĩ, nổi tiếng trong làng giải trí. Bố mẹ ông đều là diễn viên sân khấu (ông Kiyoshi Umezawa và bà Ryuchiyo Takezawa) tạo dấu gạch nối giữa truyền thống kịch nghệ kabuki với các chương trình tạp kỹ. Tomio Umezawa xuất hiện lần đầu tiên trên sân khấu khi ông chưa đầy ba tuổi. Ông thực sự bắt đầu tham gia biểu diễn chuyên nghiệp từ năm 15 tuổi, trong đoàn kịch gia đình, do người anh ruột (Takeo Umezawa) điều hành. Mãi đến sau này, Tomio mới lên thay thế anh trai, trở thành đạo diễn và giám đốc đoàn kịch. Vào năm 20 tuổi, Tomio tham gia các vở múa, trong đó các diễn viên nam thường đóng vai nữ "Onnagata". Tài nghệ của Tomio Umezawa có cơ hội vụt sáng thành ngôi sao nhờ những màn trình diễn được giới phê bình cho là hoàn hảo, nhờ y phục trang điểm và nhất là nhờ vào điệu bộ cử chỉ và tài nghệ múa tư nhiên. Ngoài sân khấu kịch nghệ, ông còn đóng phim  truyền hình và điện ảnh. Nhờ tài ăn nói có duyên, pha trò dí dỏm cho nên ông thường được mời xuất hiện trong nhiều show truyền hình Nhật Bản. So với các nghệ sĩ cùng thế hệ, Tomio Umezawa bước vào nghề ca hát khá muộn, ông thu âm bản nhạc nổi tiếng đầu tay với tựa đề "Yumeshibai" vào năm 1983. Giai điệu này do Kei Ogura sáng tác nhạc và lời. Với hơn nửa triệu bản bán chạy trong vài tháng, nhạc phẩm “Yumeshibai” mở đường cho nhiều bản nhạc ăn khách khác, đánh dấu sự hợp tác dài lâu giữa Tomio Umezawa với tác giả Kei Ogura. Nhạc sĩ này sau đó sáng tác cho Tomio nhạc phẩm "Kokoro yuku made" (Tùy theo ý em). Trái ngược hoàn toàn với sân khấu kịch nghệ, nơi ông Tomio nổi bật nhờ dáng vẻ cuốn hút của những vai nữ, khi chuyển sang ca hát, Tomio Umezawa lại có một chất giọng quyến rũ trầm ấm, mạnh mẽ đầy nam tính. Ca khúc nổi tiếng nhất của Tomio Umezawa "Kokoro yuku made" có nhiều lời Việt khác nhau. Ngoài phiên bản "Một thuở yêu người" của tác giả Khúc Lan, còn có nhạc phẩm "Yêu em ngàn đời (khó quên)" của nhạc sĩ Trịnh Nam Sơn, "Tình và đời" của Jimmii Nguyễn, "Tình xưa không phai" của tác giả Chu Minh Ký (Minh Thuận). Gần đây hơn nữa, có bài "Tình cũ chưa phai" do Đặng Thanh Tuyền sáng tác và trình bày. Các bản ghi âm lời Việt sau này gần với bản tiếng Hoa của Trương Học Hữu với tựa đề "Tình xưa còn vương vấn" hơn là bản gốc tiếng Nhật "Tùy theo ý em". Trong chương trình tuần này, có hai liên khúc "Một thuở yêu người & Dạ khúc nửa vầng trăng" (giọng ca nữ) và "Một thuở yêu người & Tình nhạt phai (giọng ca nam). Cánh chim bay ngược gió Giữa bầu trời âm u Cho ước nguyện mịt mù Tình xưa đừng dang dở Từ hố sâu vực thẳm Lên trời cao lồng lộng Tim chịu đựng vang vọng Bao tiếng sấm âm thầm Mưa gội tình thuần khiết Không dối gian tì vết Dù chết vẫn mãn nguyện Được yêu người trọn kiếp

  6. Jul 18

    Tưởng niệm danh ca Bonnie Tyler : "Trái tim nhật thực"

    Chỉ cần cất lên tiếng hát, dù với giai điệu nào đi chăng nữa, giọng ca của Bonnie Tyler đều được hầu như mọi người nhận ra ngay : một chất giọng khàn đục, gai góc đầy nội lực, trong vibrato co nhiều vết gẫy. Giọng ca độc đáo ấy giờ đây không còn nữa. Bonnie Tyler đã đột ngột qua đời ở tuổi 75 tại Faro, Bồ Đào Nha hôm 08/07/2026 do biến chứng sau ca phẫu thuật đường ruột. Sinh trưởng tại làng Skewen xứ Wales, Bonnie Tyler (tên thật là Gaynor Hopkins 1951-2026) bắt đầu sự nghiệp biểu diễn như một ca sĩ chuyên hát cover trong các phòng trà, hộp đêm ở thành phố Swansea. Tài nghệ của cô lọt vào mắt nhà sản xuất Roger Bell, nhờ vậy Bonnie Tyler ký hợp đồng thu âm đầu tiên với hãng đĩa RCA, năm cô 24 tuổi. Bonnie Tyler thành danh ngay từ album phòng thu đầu tay "The world starts tonight" (Thế giới bắt đầu đêm nay) nhờ vào ca khúc chủ đạo "Lost in France" lọt vào Top Ten đĩa đơn tại vương quốc Anh. Nhạc phẩm kế tiếp "It's a Heartache" phát hành vào cuối năm 1977 giúp Bonnie Tyler chinh phục thị trường quốc tế : hạng nhất tại châu Âu, Uc, Brazil, Canada hay Nam Phi, hang ba trên thị trường Hoa Kỳ. Thời kỳ huy hoàng nhất của Bonnie Tyler là vào những năm 1980, thời cô hợp tác với nhà soạn nhạc Jim Steinman (tác giả này thành công với Meat Loaf và sau đó nữa là Céline Dion). Vào năm 1983, Bonnie Tyler cho ra đời nhạc phẩm "Total eclipse of the Heart", trích từ "Faster than the Speed of Night", album phòng thu thứ 5 của cô. Bản nhạc này lập kỷ lục số bán tại châu Âu, đứng đầu bảng xếp hạng vương quốc Anh cũng như trên thị trường Mỹ trong nhiều tuần liên tục, nhờ vậy, Bonnie Tyler nhận hai đề cử Grammy năm 1984, bao gồm giải Giọng ca nữ xuất sắc nhất. Tác giả người Mỹ Jim Steinman từng nhận xét rằng ông đã viết nhạc phẩm "Total eclipse of the Heart" như một màn trình diễn cân xứng với giọng ca của Bonnie Tyler. Trong tiếng Việt, bài này từng được tác giả Quốc Bảo chuyển thành nhạc phẩm "Trái tim nhật thực", do ca sĩ Hồng Hạnh ghi âm. Thành công này mở đường cho Bonnie Tyler ghi âm nhiều bản nhạc ăn khách, hợp tác với nhiều tác giả nôi tiếng khác như Diane Warren, Albert Hammond, Giorgio Moroder và nhất là Desmond Child (Kiss, Bon Jovi, Michael Bolton .....) cho dù giai đoạn sau khó thê sánh bằng thời kỳ của Jim Steinman với hàng loạt bản nhạc đình đám, thành công vang dội như "Holding out for a Hero", một trong những ca khúc chủ đạo của bộ phim ca nhạc "Footlose". Trong vòng 50 năm sự nghiệp ca hát, Bonnie Tyler đã thực hiện 18 album phòng thu và bán được hơn 50 triệu bản trên toàn thế giới. Những năm cuối đời, Bonnie Tyler vẫn thường xuyên tham gia các show truyền hình và tiếp tục biểu diễn trên sân khấu, gần đây nhất là vào tháng 03/2026 tại Luân Đôn. Ra đi khá sớm, trong lúc còn nhiều dự án dang dở, album phòng thu cuối cùng của Bonnie Tyler mang tựa đề "The best is yet to come" (Những điều tốt đẹp nhất vẫn còn ở phía trước). Có một chi tiết khá thú vị, đáng lưu ý là nhạc phẩm (Simply) "The Best"  mà hầu như mọi người đều biết đến qua giọng ca của Tina Turner, thật ra ban đầu là một bài hát gốc của Bonnie Tyler. Do Mike Chapman và Holly Knight sáng tác, bài hát này được Bonnie Tyler ghi âm lần đầu tiên vào năm 1988 trên album "Notes from America" (Hide your heart). Mãi đến hơn một năm sau, giai điệu này mới được Tina Turner ghi âm lại cho album "Foreign Affair" với phần độc tấu kèn saxo của Edgar Winter. Sau này, Bonnie Tyler thừa nhận trình đô diễn đạt tuyệt vời trong bản ghi âm của Tina Turner. Chi tiết thú vị thứ nhì là chất giọng khàn khàn đặc trưng của Bonnie Tyler ban đầu không phải là tự nhiên mà thật ra xuất phát  từ cuộc phẫu thuật cắt bỏ hạt xơ dây thanh quản vào năm 1977. Mặc dù bác sĩ khuyên cô nên nghỉ ngơi ít nhất trong 6 tuần để phục hồi giọng hát, nhưng do không chịu tiết kiệm lời nói, cho nên thời gian hồi phục lại kéo dài thành 6 tháng và chất giọng của Bonnie Tyler rốt cuộc đã  biến đổi, nhưng ngạc nhiên thay, lại có phần hay hơn trước. Điều mà lẽ ra có nguy cơ làm chệch hướng sự nghiệp lại biến thành một tài sản đặc biệt : khi dây thanh quản bị tổn thương, chưa lành vết, lại trở thành một trong những giọng ca hàng đầu của làng nhạc chuyên nghiệp : một chất giọng độc đáo riêng biệt, một dấu ấn khó bắt chước nhưng lại dễ nhận biết.

  7. Jul 11

    50 năm giai thoại "Anh thì không" và phiên bản mới "Toi Jamais" của Oria

    Nhạc phẩm "Toi Jamais" (Anh thì không) là một giai điệu do nhạc sĩ Michel Mallory sáng tác. Bài này do Sylvie Vartan ghi âm cho album phòng thu thứ 15 của bà mang tựa đề "Qu'est ce qui fait pleurer les blondes" (Điều gì khiến các cô gái tóc vàng phải khóc)  được phát hành vào năm 1976, tức cách đây đúng 50 năm. Giai điệu "Toi Jamais" (Anh thì không) đã cho ra đời khá nhiều bản cover, trong số này có phiên bản của Jean Manson hay của Isabelle Castro. Nổi tiếng nhất là bản phóng tác theo điệu bolero của ngôi sao màn bạc Catherine Deneuve, ghi âm vào năm 2001 cho bộ phim "8 Femmes" (8 người đàn bà) của đạo diễn Pháp François Ozon. Gần đây hơn, có phiên bản phóng tác của ca sĩ trẻ tuổi Oria. Sinh trưởng tại thành phố Nice, miền nam nước Pháp, Oria xuất thân từ một gia đình có hai dòng máu : mẹ là người Tunisia, bố là người đảo Corse. Hiện giờ, cô sinh sống và làm việc tại Cannes. Từ thời thơ ấu, Oria đã có năng khiếu ca hát nhờ được nghe rất nhiều ca khúc tiếng Pháp ở trong nhà, trong số những nghệ sĩ mà bố mẹ cô thường hay nghe có Édith Piaf và Dalida. Vào năm 25 tuổi, Oria thu hút sự chú ý của giới yêu nhạc trên mạng xã hội nhờ bản cover của nhạc phẩm "Toi Jamais" Anh thì không (lời Việt của tác giả Vũ Xuân Hùng). Nhưng theo Oria, lần đầu tiên cô được nghe bài hát này không phải là bản gốc của Sylvie Vartan, mà lại là một bản phóng tác của một nhóm nhạc jazz. Do rất thích giai điệu này, nên Oria mới tìm hiểu thêm về bản nhạc gốc và cũng từ đó, cô bắt đầu ngưỡng mộ Sylvie Vartan, một sự kết nối gần như là tình cờ và có thể nói là ban đầu, chính giai điệu du duơng đã làm cho trái tim của Oria rung động xao xuyến. Kết hợp dòng nhạc Pháp kinh điển với nhiều ảnh hưởng phương Đông, chủ yếu là Liban và Ai Cập, Oria đang được xem là một trong những giọng ca đầy triển vọng của năm 2026. Khi cover lại các nhạc phẩm "Une belle histoire" của Michel Fugain hay  "Mon amie la rose" của Françoise Hardy, Oria đã cho thấy nét tinh tế trong lối diễn đạt nhờ chất giọng giàu cảm xúc, với khá nhiều ảnh hưởng của giọng ca người Ai Cập Natacha Atlas kết hợp với các nhịp điệu tân thời. Hiện giờ, Oria đang chuẩn bị cho album đầu tay của mình qua hai nhạc phẩm mới là "Soirée mondaine" và "Princesse de la Nuit". Hy vọng rằng cô sẽ gặt hái được nhiều thành công trong bước khởi đầu sự nghiệp. Có một điều khá thú vị về nhạc phẩm "Toi Jamais" (Anh thì không). Khi bắt tay thực hiện album phòng thu thứ 15 của Sylvie Vartan, nhạc sĩ Michel Mallory nằm trong nhóm sáng tác thứ nhì tham gia vào dự án này. Nhóm đầu tiên gồm các tác giả Delanoë, Lemesle chuyên phóng tác những bài hát Anh Mỹ ănkhách sang tiếng Pháp, một trào lưu thịnh hành vào những năm 1970 : "Qu'est ce qui fait pleurer les blondes" (Điều gì khiến các cô gái tóc vàng phải khóc) được đặt lời từ bản nhạc gốc (Ride the Lightning) của ca sĩ người Nam Phi John Kongos. Còn nhạc phẩm "La drôle de fin" trong nguyên tác là ca khúc "Last Tango" của ban nhạc Esperanto. Trong nhóm sáng tác thứ nhì chuyên soạn nhạc tiếng Pháp, có Eddy Vartan (anh trai  của Sylvie), Gilles Thibault và Michel Mallory. Cùng với Marc Benoist, Michel Mallory đã sáng tác nhạc phẩm "Toi Jamais" (Anh thì không) dù biết rằng bài hát của họ sẽ không được phát hành trên đĩa đơn và ta có thể thấy điều này trong lối hoà âm, ít trau chuốt hơn so với các nhạc phẩm chủ đạo. Nhưng rốt cuộc với thời gian, giai  điệu thành công nhất trên album phòng thu thứ 15 của Sylvie Vartan chính là nhạc phẩm "Toi Jamais" (Anh thì không). Những bản cover giúp cho bản  nhạc  này trụ vững với năm tháng, chinh phục được thêm nhiều người yêu nhạc, một giai điệu tha thiết lãng mạn không ngại bị quên lãng, năm tháng cuốn trôi, thời gian cuộn xiết làm cho phai tàn.

  8. Jun 27

    Clive Davis : Nhà sản xuất âm nhạc tài ba nhất mọi thời đại

    Đó là danh hiệu mà sinh thời, nữ hoàng nhạc soul Aretha Franklin đã tặng cho ông Clive Davis. Ông trùm của ngành công nghiệp thu âm, từng làm nên tên tuổi của nhiều ngôi sao hàng đầu, ngoài Aretha Franklin, còn có Alicia Keys, Billy Joel, Bruce Springsteen, các nhóm Santana, Chicago hay Westlife và nhất là thần tượng nhạc pop Whitney Houston. Ông Clive Davis vừa qua đời hôm 22/06/2026 tại nhà riêng ở New York, hưởng thọ 94 tuổi. Sinh trưởng tại quận Brooklyn, New York, ông Clive Davis (1932-2026) xuất thân từ một gia đình khiêm tốn, cha ông làm nghề thợ điện, mẹ ông qua đời sớm khi Clive vẫn còn là một thiếu niên. Nhờ tính cần mẫn chăm chỉ, ông nhận được học bổng toàn phần và tốt nghiệp ngành luật đại học Harvard vào năm 1956. Ở tuổi 28, ông bước chân vào ngành công nghiệp thu âm với tư cách là luật sư tại Columbia Records một chi nhánh của hãng đĩa CBS, trước khi chuyển sang ban quản lý và trở thành giám đốc điều hành vào năm 1966. Bị sa thải vào năm 1973, ông quyết định thành lập một công ty thu âm khác là hãng đĩa Arista. Thời gian sau đó, ông tiếp tục làm việc đến những năm cuối đời cho tập đoàn giải trí Sony Music Entertainment. Theo nhận xét của nam danh ca Barry Manilow (thành danh nhờ ký hợp đồng với Arista) : Clive Davis có đầu óc thực dụng của một chuyên viên ngân hàng và đôi tai nhạy bén của một thanh niên mê nhạc, nhờ vậy mà ông nắm bắt rất nhanh những trào lưu có triển vọng trở nên phổ biến, thịnh hành trong dòng văn hóa đại chúng. Ngôi sao đầu tiên do ông Clive Davis phát hiện chính là Janis Joplin, ông ký hợp đồng lăng xê giọng ca này tại Liên hoan âm nhạc Monterey vào mùa hè năm 1967, đánh dấu một cột mốc quan trọng trong phong trào hippie. Ông cũng từng thuyết phục ban song ca Simon và Garfunkel hoàn chỉnh phần thu âm nhạc phẩm "Bridge over troubled water" giúp giai điệu này thành công rực rỡ trên đài phát thanh. Nhờ biết khám phá những tài năng mới, ông góp phân nâng tầm sự nghiệp của nhiều nhạc sĩ lớn trong làng nhạc pop rock cuối thế kỷ XX, đầu thế kỷ XXI. Tuy không phải là nghệ sĩ biểu diễn, nhung Clive Davis lại giành được 4 giải Grammy trong vai trò nhà sản xuất. Năm 2000, ông được tôn vinh tại Đại sảnh Danh vọng Rock and Roll nhờ tầm ảnh hưởng mạnh mẽ và những đóng góp đáng kể cho ngành thu âm. Báo chí công nhận cái biệt tài của ông Clive Davis, nhờ "đôi tai vàng" mà tiên đoán được những ngôi sao tương lai trong làng nhạc chuyên nghiệp, thay đổi diện mạo làng nhạc quốc tế. Cũng từ đó, Clive Davis trở thành một ông trùm đầy uy tín và quyền lực trong ngành công nghiệp giải trí. Trong mắt nhạc sĩ Carlos Santana, ông Clive Davis là một người có tầm nhìn xa, ông có thể cảm nhận được trước rất nhiều điều, mà mãi về sau này, người khác mới có thể nhìn thấy. Carlos Santana biết ơn ông Clive Davis vì ông đã hai lần tạo cơ hội thành công cho nhóm này. Lần đầu tiên là vào những năm 1970, Clive Davis đã ký hợp đồng với ban nhạc Santana trong nỗ lực biến hãng đĩa  Columbia thành một công ty thu âm hùng mạnh. Nhóm Santana đã có một thời kỳ thành công ngoạn mục nhờ vào sự dìu dắt của Clive Davis, đặc biệt với hai album phòng thu đứng đầu bảng xếp hạng là Abraxas và Santana III, các đĩa đơn cực kỳ ăn khách như "Evil Ways, Oye Cómo Va" và nhất là "Black Magic Woman".  Khi ban nhạc Santana tái hợp vào cuối những năm 1990, nhóm này thành công một lần nữa khi ký hợp đồng với hãng đĩa Arista dưới sự điều hành của ông Clive Davis. Album "Supernatural" đánh dấu ngày tái xuất của Santana đã đoạt 9 giải Grammy năm 2000, bao gồm cả giải dành cho album và bài hát hay nhất trong năm, phá luôn kỷ lục do ông hoàng  nhạc  pop Michael Jackson nắm giữ với album "Thriller" vào năm 1983. Ngoài  nhóm Santana, nhiều nghệ sĩ từng hợp tác với ông Clive Davis đã ngõ lời tri ân, tưởng niệm  nhà sản xuất kỳ cựu, kể cả Alicia Keys, Rod Stewart hay Bruce Springsteen. Trong số những nghệ sĩ hàng đầu, người mà ông cảm thấy gắn bó nhất vẫn là diva nhạc pop Whitney Houston, một trong những giọng ca ăn khách nhất mọi thời đại. Sự ra đi quá đột ngột của Whitney Houston vào đầu năm 2012 (dù chi mới 48 tuổi) là một tấn bi kịch đối với nhà sản xuất. Ông từng nói rằng, sự kiện đau buồn này luôn nhắc nhở ông một cách sâu sắc : những người quan trọng nhất trong đời mình có thể biến mất chỉ trong chớp mắt. Ngày Clive Davis vĩnh biệt cõi đời, thế giới của những "big hits" từ nay đã mất một "Big Boss", nhưng nhờ được ông dìu dắt mà nhiều tài năng không sớm bị mai một.

Ratings & Reviews

4.3
out of 5
4 Ratings

About

Góc vườn âm nhạc của RFI

More From RFI Tiếng Việt

You Might Also Like