Tạp chí văn hóa

Sinh hoạt văn hóa, nghệ thuật, đặc biệt là tại Pháp và Việt Nam

  1. 6d ago

    Nhạc Nhật lời Việt : Masahiko Kondō, khúc ca chiều tà tan vỡ tình ta

    Thập niên 1980 được xem là thời kỳ hoàng kim của các thần tượng nhạc pop Nhật Bản. Trong số này, có ca sĩ kiêm diễn viên, Masahiko Kondō đồng thời ông là một tay đua xe chuyên nghiệp nổi tiếng. Bài hát gắn liền với tên tuổi của ông chính là « Yūyake no Uta » (Khúc ca chiều tà), còn được gọi là « Thiên thiên khuyết ca ». Trong chương trình tuần này, có liên khúc Tịch dương chi ca với nhạc phẩm Hạnh phúc nơi nào. Thập niên 1980 được xem là thời kỳ hoàng kim của các thần tượng nhạc pop Nhật Bản. Trong số này, có ca sĩ kiêm diễn viên, Masahiko Kondō đồng thời ông là một tay đua xe chuyên nghiệp nổi tiếng. Bài hát gắn liền với tên tuổi của ông chính là « Yūyake no Uta » (Khúc ca chiều tà), còn được gọi là « Thiên thiên khuyết ca ». Trong chương trình tuần này, có liên khúc Tịch dương chi ca với nhạc phẩm Hạnh phúc nơi nào. Sinh trưởng (1964) tại Yokohama, tỉnh Kanagawa, Masahiko Kondō khởi đầu sự nghiệp ca hát và diễn xuất vào cuối thập niên 1970, thời ông gia nhập công ty Johnny & Associates, một trong những tập đoàn giải trí quan trọng của Nhật Bản.  Thời niên thiếu, ông là thành viên của bộ ba Tanokin Trio (cùng với hai ngôi sao khác là Toshihiko Tahara và Yoshio Nomura). Nhóm này đã gặt hái được khá nhiều thành công nhờ phim truyền hình và show ca nhạc. Vào năm 17 tuổi, Masahiko Kondō rời khỏi nhóm và chính thức ra mắt đĩa đơn solo đầu tiên (Sneaker Blues). Ca khúc này ngay lập tức đứng đầu bảng xếp hạng Oricon, ông trở thành nghệ sĩ trẻ tuổi nhất giành lấy vị trí quán quân ngay từ khi ra mắt đĩa hát đầu tay. Trong suốt thập niên 1980, Masahiko Kondō  ghi âm hàng loạt bản hit đình đám như « Gingiragin ni Kuchiganai » và « Foolish ». Nhưng khi nhắc đến những giai điệu ăn khách của giọng ca này từng được chuyển sang lời Việt, tác phẩm nổi tiếng và có sức ảnh hưởng sâu rộng nhất chính là ca khúc « Yūyake no Uta » (Khúc ca chiều tà) do Koji Makaino và Akira Otsu sáng tác vào năm 1989. Ngoài xứ hoa anh đào, giai điệu « Yūyake no Uta » còn thành công trên thị trường châu Á nhờ được phóng tác nhiều lần sang tiếng Hoa, lập kỷ lục số bán qua hai phiên bản nhạc pop tiếng Quảng Đông tại Hồng Kông (Cantopop). Đầu tiên là nhạc phẩm « Thiên thiên khuyết ca » của Trần Tuệ Nhàn và kế đến nữa là « Tịch dương chi ca » của Mai Diễm Phương.  Năm 1988, vào lúc Trần Tuệ Nhàn chuẩn bị giã từ làng nhạc, hãngđĩa PolyGram đã cho phát hành một số ca khúc « chia tay » người hâm mộ, trong đó có nhạc phẩm « Thiên thiên khuyết ca » (Muôn ngàn bài hát) do tác giả Lâm Chấn Cường đặt lời tiếng Quảng Đông và hoàn chỉnh vào đầu năm 1989. Cảm xúc trầm lắng u buồn, cùng giai điệu từ biệt vấn vương đã giúp bài hát này thành công nhanh chóng trên thị trường.  Còn trong trường hợp của Mai Diễm Phương, vào thời ấy, cô đang quay tập ba của bộ phim « Bản sắc anh hùng » (A better tomorrow III) và do Mai Diễm Phương lúc bấy giờ có quan hệ tình cảm với nam danh ca Nhật Bản Masahiko Kondō (người ghi âm bản nhạc gốc), cho nên cô mới đề nghị lấy bài hát này làm ca khúc chủ đề cho bộ phim. Tác giả Trần Thiếu Kỳ đã viết lại thành nhạc phẩm « Tịch dương chi ca » (Bài ca hoàng hôn) và chỉnh sửa lời bài hát sao cho phù hợp với cốt truyện.  Dù có cùng một giai điệu gốc và được phát hành hầu như vào cùng một thời điểm, nhưng cả hai bản cover « Thiên thiên khuyết ca » của Trần Tuệ Nhàn (Priscilla Chan) và « Tịch dương chi ca » của Mai Diễm Phương (Anita Mui) đều trở thành những nhạc phẩm kinh điển của dòng nhạc pop tiếng Quảng Đông. Một chi tiết thú vị khác là nam ca sĩ Trương Quốc Vinh (Leslie Cheung) cũng từng hát lại bài này, cho dù anh không xuất hiện trong tập phim thứ 3 của  « Bản sắc anh hùng », bên cạnh Mai Diễm Phương, Châu Nhuận Phát và Lương Gia Huy. Khi du nhập vào Việt Nam vào đầu thập niên 1990, ca khúc đã được đặt thêm nhiều lời Việt khác nhau. Bài đầu tiên có tựa đề « Tan vỡ » là của tác giả Minh Tâm do Cẩm Ly & Tài Linh thể hiện. Lời thứ nhì « Chuyện tình ta tan vỡ » là của tác giả Nhật Ngân. Đây là phiên bản lời Việt quen thuộc nhất với người hâm mộ, từng được nhiều giọng ca nổi tiếng như Mỹ Tâm, Quang Hà, Mai Tiến Dũng và gần đây hơn nữa là Hà Nhi và Quốc Thiên đều có hát lại. Phiên bản thứ ba « Chỉ có em trong tim » là của tác giả Khúc Lan, qua phần trình bày của Ý Nhi và Kenny Thái, dựa theo phiên bản tiếng Anh « There's only you in my heart ». Trong bản gốc, Masahiko Kondō nhìn lại những mối tình sâu đậm đã qua cũng như những thăng trầm trong cuộc đời. Cảnh vật trong ánh tịch dương năm nào vẫn chưa thay đổi, chỉ có tâm hồn khi vắng một người, mới càng cảm thấy đơn côi.  Hoàng hôn vắng, tình đã xa Bốn mùa thu đông xuân hạ Khi xưa mát dịu chiều tà Nay sao rát bỏng làn da Tưởng chừng nắng còn trên má Ngờ đâu ướt đẫm lệ nhòa

  2. Aug 21

    Từ Bangkok đến Paris : Hành trình của trang phục hoàng cung Thái Lan

    Dưới dấu ấn của hoàng hậu Sirikit và sự hợp tác với nhà thiết kế Pháp Pierre Balmain, trang phục Thái Lan được nâng tầm thành thời trang cao cấp và trở thành biểu tượng văn hóa trong các hoạt động ngoại giao quốc tế. Gần 200 bộ trang phục và hiện vật hoàng gia Thái Lan được giới thiệu trong triển lãm “Thời trang hoàng cung” tại Bảo tàng Nghệ Thuật Trang trí Paris từ ngày 13/05 đến 01/11/2026. Phần lớn hiện vật đến từ Bảo tàng Dệt may Hoàng hậu Sirikit (QSMT) tại Bangkok, trong đó có khoảng 100 bộ do Pierre Balmain thiết kế và khoảng 40 bộ từng được hoàng hậu Sirikit sử dụng. Ngoài ra, nhiều hiện vật, bản vẽ, tư liệu lưu trữ từ Nhà Balmain, Lesage và các đối tác cũng góp phần làm nổi bật sự kết hợp giữa nghệ thuật thời trang Pháp, kỹ thuật thủ công tinh xảo và di sản văn hóa hoàng gia Thái Lan. Thời trang hoàng gia Thái Lan đã phát triển như thế nào từ thập niên 1960 ? RFI Tiếng Việt phỏng vấn bà Béatrice Quette, giám tuyển triển lãm, phụ trách bộ sưu tập châu Á và Hồi giáo tại Bảo tàng Nghệ thuật Trang trí (Musée des Arts décoratifs). RFI : Gần 200 trăm bộ trang phục và phụ kiện đặc sắc từ cung đình Thái Lan được trưng bày tại Bảo tàng Nghệ thuật Trang trí trong triển lãm “Thời trang hoàng cung”. Tựa đề giàu ý nghĩa này muốn nhấn mạnh điều gì ? Giữa “thời trang” và “hoàng cung” có mối quan hệ như thế nào ? Béatrice Quette : “Thời trang hoàng cung” là tựa đề chính của triển lãm, những cũng có tựa đề phụ là “Thời trang cao cấp và truyền thống tại hoàng cung Thái Lan” giúp khám phá mối quan hệ giữa thời trang và hoàng gia thông qua vai trò của hoàng hậu Sirikit trong việc khôi phục trang phục truyền thống Thái Lan. Bà muốn xây dựng hình ảnh một hoàng hậu trẻ trung, hiện đại nhưng vẫn mang đậm dấu ấn dân tộc trong chuyến công du cùng quốc vương Rama IX tới 14 quốc gia châu Âu và Hoa Kỳ vào năm 1960. Để đáp ứng yêu cầu vừa phù hợp với nghi thức ngoại giao quốc tế, vừa thể hiện bản sắc Thái Lan, từ những năm 1950, hoàng hậu Sirikit đã bắt đầu nghiên cứu và phục hồi trang phục cung đình truyền thống, vốn bị mai một từ đầu thế kỷ XX. Bà tìm hiểu tư liệu lưu trữ, hình ảnh về các hoàng hậu, công chúa từ cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX, đặc biệt dưới triều vua Rama V (ông nội của vua Rama IX), sau đó kết hợp những yếu tố truyền thống với kỹ thuật may đo hiện đại để tạo ra trang phục mang phong cách vừa thanh lịch, vừa thể hiện rõ bản sắc Thái Lan. Mục tiêu của bà là xây dựng một biểu tượng trang phục quốc gia tương tự như kimono của Nhật Bản hay sari của Ấn Độ. Nội dung triển lãm được xây dựng theo hai hướng chính. Thứ nhất, thời trang được nhìn nhận như một phương tiện ngoại giao văn hóa, hay “quyền lực mềm”, giúp quảng bá hình ảnh và bản sắc Thái Lan. Thứ hai, triển lãm giới thiệu quá trình hình thành tám kiểu trang phục chính thức của hoàng hậu Sirikit, đồng thời làm nổi bật sự kết hợp giữa thời trang cao cấp phương Tây và nghệ thuật truyền thống Thái Lan thông qua mối quan hệ hợp tác lâu dài giữa bà và nhà thiết kế người Pháp Pierre Balmain. RFI : Có thể nhận thấy sự thanh lịch và tinh tế của thời trang Pháp trong các trang phục hoàng gia Thái Lan. Đồng thời, trang phục truyền thống Thái Lan cùng các kỹ thuật dệt và nhuộm thủ công cũng đã vượt ra ngoài biên giới quốc gia, được biết đến trong giới thời trang cao cấp của Pháp. Như bà vừa đề cập một phần, người có vai trò quyết định trong quá trình đó chính là hoàng hậu Sirikit. Bà đã góp phần như thế nào vào sự phát triển và quảng bá thời trang Thái Lan trên trường quốc tế ? Béatrice Quette : Hoàng hậu Sirikit đóng vai trò vô cùng quan trọng. Bà rất yêu thích thời trang, nhưng không đơn thuần chỉ là mặc những trang phục đẹp mà còn xem thời trang là công cụ để giữ gìn văn hóa. Bên cạnh những chuyến công du ngoại giao tới phương Tây, bà thường xuyên đi khắp đất nước để tìm hiểu đời sống của người dân. Qua những chuyến đi này, bà nhận thấy tại nhiều ngôi làng, đôi khi là những vùng nông thôn còn khó khăn, các nghề thủ công như dệt vải, đan lát và nhiều nghề truyền thống khác đã tạo thêm nguồn thu nhập cho người dân, đặc biệt là phụ nữ, bên cạnh công việc nông nghiệp. Ban đầu, hoàng hậu Sirikit đặc biệt quan tâm đến nghề dệt, nhất là kỹ thuật Ikat, hay còn gọi là Mat mii trong tiếng Thái. Bà nhận thấy mỗi vùng của Thái Lan, từ miền Nam, miền Đông đến Đông Bắc, đều có những kỹ thuật dệt đặc trưng với giá trị nghệ thuật và trình độ thủ công cao. Sau đó, bà tiếp tục chú ý đến nghề dệt gấm, loại hình dệt kết hợp các sợi vàng hoặc bạc và chịu ảnh hưởng từ truyền thống dệt của Ấn Độ. Để hỗ trợ các nghệ nhân, ban đầu bà mua các sản phẩm thủ công, sau đó thành lập Quỹ SUPPORT vào năm 1976 nhằm đào tạo, tư vấn và hỗ trợ phát triển nghề truyền thống. Quỹ không chỉ giúp các làng nghề hiện có mà còn khuyến khích những địa phương chưa có truyền thống thủ công phát triển nghề mới để tạo thêm sinh kế và bảo tồn di sản. Theo bà, nếu trang phục cung đình truyền thống biến mất thì các kỹ thuật dệt quý giá cũng sẽ dần mai một. Nhờ những nỗ lực đó, hoàng hậu Sirikit góp phần phục hồi và hiện đại hóa trang phục cung đình, đồng thời tạo sinh kế cho người dân. Bà cũng hỗ trợ nhiều nghề thủ công khác như chế tác kim hoàn, khảm kim loại, nhuộm đen bạc, vẽ quạt và đan lát bằng tre hoặc cỏ Yan Lipao. Đặc biệt, bà kết hợp các kỹ thuật truyền thống này với thiết kế phụ kiện thời trang, qua đó nâng cao giá trị và quảng bá sự tinh xảo của nghề thủ công Thái Lan đến công chúng. RFI : Có thể thấy là truyền thống này vẫn đang được hoàng gia Thái Lan tiếp nối ? Béatrice Quette : Di sản của hoàng hậu Sirikit vẫn được tiếp nối thông qua công chúa Sirivannavari, người tích cực bảo tồn và phát triển thời trang truyền thống Thái Lan. Được đào tạo về thiết kế thời trang tại Anh và Trường Chambre Syndicale ở Paris, công chúa không chỉ thiết kế mà còn trực tiếp làm việc với các nghệ nhân để cải tiến kỹ thuật dệt, điều chỉnh khung cửi, cập nhật màu sắc và mẫu mã, giúp sản phẩm truyền thống đáp ứng nhu cầu hiện đại nhưng vẫn giữ bản sắc văn hóa. Công chúa Sirivannavari cũng tiếp tục quảng bá tám kiểu trang phục truyền thống Thái Lan do hoàng hậu Sirikit khởi xướng, tạo nên hệ thống trang phục phù hợp với nhiều cấp độ nghi lễ, từ những dịp thông thường đến những sự kiện long trọng, mang đậm bản sắc dân tộc. Đồng thời, công chúa là người thúc đẩy hồ sơ đề cử bộ trang phục truyền thống Chud Thai lên UNESCO để được công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại. Hiện hồ sơ vẫn đang chờ UNESCO xem xét. RFI : Giữa thời trang cao cấp Pháp, đặc biệt là giữa nhà tạo mẫu Pierre Balmain, và triều đình Thái Lan có mối liên hệ đặc biệt qua nhiều thập kỷ. Sự hợp tác này đã được giới thiệu như thế nào trong triển lãm ? Béatrice Quette : Hoàng hậu Sirikit giữ vai trò đặc biệt trong lịch sử giao lưu văn hóa giữa Pháp và Thái Lan, dù câu chuyện này chưa được nhiều người biết đến ngoài giới nghiên cứu về hoàng gia Thái Lan và nhà mốt Balmain. Tôi biết được thêm rất nhiều về mối quan hệ này khi làm việc với các đồng nghiệp Thái Lan. Mối quan hệ đặc biệt đó được hình thành từ cuộc gặp đầu tiên giữa bà và nhà thiết kế Pierre Balmain vào năm 1960, khi ông quá cảnh tại Bangkok trên đường từ Úc trở về. Thời điểm đó, hoàng hậu đang tìm kiếm một nhà thiết kế Pháp để chuẩn bị tủ trang phục phục vụ các chuyến công du ngoại giao. Cuộc gặp nhanh chóng mở đầu cho sự hợp tác lâu dài và một tình bạn bền chặt giữa hai người, kéo dài đến khi Pierre Balmain qua đời. Sau đó, Eric Mortensen, trợ lý và người kế nhiệm Balmain, tiếp tục đảm nhận việc thiết kế trang phục cho hoàng hậu, giúp duy trì mối liên kết giữa bà với nhà mốt Balmain. Đây là trường hợp hiếm có trong lịch sử thời trang hoàng gia, bởi vì cho dù nhiều thành viên h

  3. Aug 15

    Nhạc Pháp lời Việt : Lại gần hôn anh, phiên bản tiếng Pháp đầu tiên là của ai ?

    Cùng với "Un canto a Galicia", nhạc phẩm "Abrázame" là giai điệu đã giúp cho nam danh ca Julio Iglesias chinh phục thị trường quốc tế. Được trích từ album phòng thu thứ 9 (El Amor / Tình yêu) phát hành vào năm 1975, bài hát này từng được dịch sang 12 ngôn ngữ khác nhau, kể cả tiếng Anh, Hy Lạp hay tiếng Nhật. Còn trong tiếng Việt, giai điệu này nghe rất quen thuộc với tựa đề "Lại gần hôn anh".  Khi chấp bút đặt ca từ lời Việt lãng man trữ tình, nồng nàn tha thiết, nhạc sĩ Phạm Duy chủ yếu dựa vào phiên bản tiếng Pháp "Viens m'embrasser" do Michel Jourdan sáng tác vào năm 1981. Trong nguyên tác, bài hát tiếng Tây Ban Nha do Rafael Ferro soạn nhạc, Julio viết lời. Thế nhưng, bản phóng tác tiếng Pháp đầu tiên không phải do Julio Iglelias trình bày mà lại do một gương mặt trứ danh khác ghi âm : đó là nam danh ca Richard Anthony.  Sinh trưởng tại Ai Cập trong một gia đình giàu có người gốc Syria, Richard Anthony thành danh vài năm trước thế hệ thần tượng Françoise Hardy, Christophe và Johnny Hallyday. Theo lời kể của Sylvie Vartan, nhạc phẩm Nouvelle Vague (Làn sóng mới) dịch từ ca khúc "Three Cool Cats" của cặp bài trùng Jerry Leiber và Mike Stoller, đã  khởi xướng trào lưu phóng tác các bản nhạc rock và twist ăn khách tiếng Anh, tạo ra phong trào nhạc trẻ tại Pháp đầu thập niên 1960.  Đến những năm 1970, Richard Anthony không còn hát nhạc trẻ mà lại chuyển sang hát nhạc tình. Khi không bận lưu diễn, ông thường về miền nam Tây Ban Nha nghỉ ngơi, nơi gia đình ông có một biệt thự sang trọng tại trạm nghỉ mát Marbella. Cho đến một ngày kia, ông tình cờ được nghe trên đài phát thanh bài hát "Abrazame" của Julio. Do rất thích giai điệu này, cho nên ông mới gọi điện về Paris yêu cầu nhóm tác giả nổi tiếng nhất thời bấy giờ chuyển bài hát của Julio Iglesias sang tiếng Pháp. Người đầu tiên nhận lời chính là Pierre Delanoë, ông từng thành công nhờ viết lời bài hát "La Maritza" (Dòng sông tuổi nhỏ) cho Sylvie Vartan và "Et si tu n'existais pas" (Nếu đời này vắng anh / Một mai không có anh) cho Joe Dassin. Khi chấp bút viết lời tiếng Pháp, Pierre Delanoë chuyển bài "Abrázame" thành nhạc phẩm "Embrasse Moi" (Hãy hôn anh). Cách đặt lời của Pierre Delanoë tôn trọng ngữ pháp của bản nhạc gốc, trong cách dùng thức mệnh lệnh một cách trực tiếp. Richard Anthony thu âm bài này vào năm 1977, tức 4 năm trước phiên bản tiếng Pháp của Julio Iglesias.  Về phần nam danh ca Tây Ban Nha, nhiều năm  sau khi thành công với album phòng thu thứ 9, Julio mới bắt tay thực hiện tuyển tập chọn lọc "Fidèle" (Chung tình) dành cho thị trường Pháp ngữ. Lần này, Julio không dùng bản phóng tác có sẵn của Delanoë mà lại nhờ nhóm sáng tác Claude Lemesle và Michel Jourdan chuyển sang tiếng Pháp các bài hát ăn khách của mình. Album tiếng Pháp của Julio được phát hành vào năm 1981, bao gồm nhiều bản nhạc nổi tiếng như Khúc tình dối gian (Les dérobades) hay Tình yêu còn mãi (Un jour tu ris, un jour tu pleures). Riêng nhạc phẩm "Abrázame" được Michel Jourdan chuyển thành bài hát "Viens m'embrasser", tạo ra một khoảng cách nhất định giữa hai nhân vật chính, nếu muốn hôn nhau thì phải xích lại gần bên người tình. Có thể nói, phiên bản phóng tác tiếng Pháp đầu tiên là của Pierre  Delanoë do Richard Anthony trình bày, còn phiên bản thứ nhì là của Michel Jourdan do chính Julio ghi âm. Cả hai bài hát đều vô cùng trữ tình ướt át, nhưng bản ghi âm tiếng Pháp của Julio Iglesias vẫn quen thuộc hơn với giới yêu nhạc. Trong cả hai phiên bản tiếng Pháp, "Lại gần hôn anh" tựa như lời khẩn cầu tha thiết của một người tình khi phải đối mặt với cảnh chia ly, chỉ mong được ôm trong vòng tay như thuở ban đầu, một cách để tự dối mình khi mai này đành phải mất nhau, nhưng miễn sao làm vơi nhẹ nỗi đau, cho hồn quên nhức nhối, cho tim bớt nghẹn ngào.

  4. Aug 14

    Sherlock Holmes, thám tử đầu tiên được đưa vào tủ sách Pháp La Pléiade

    Gần 150 năm sau khi ra đời dưới ngòi bút của nhà văn Arthur Conan Doyle, thám tử Sherlock Holmes vẫn giữ nguyên sức cuốn hút mạnh mẽ. Ngoài là nguồn cảm hứng bất tận cho điện ảnh và truyền hình, nhân vật này còn trở thành một huyền thoại văn học. Tại Pháp, chỉ có các tác phẩm quan trọng hàng đầu mới được đưa vào bộ sưu tập La Bibliothèque de la Pléiade. Gần đây, nhà xuất bản Gallimard đã cho xuất bản trong tủ sách có uy tín của mình bộ toàn tập Sherlock Holmes. Tính tổng cộng là 2.500 trang chia thành 2 tập sách dày, bao gồm bốn cuốn tiểu thuyết và 60 truyện ngắn. Bộ toàn tập này được phát hành kèm với một quyển tiểu sử minh họa dày hơn 250 trang. Đây là lần đầu tiên, tủ sách La Pléiade của nhà xuất bản Gallimard dành một quyển « tiểu sử » đặc biệt, kể lại nguồn gốc của một nhân vật hư cấu cũng như những câu chuyện bên lề và tầm ảnh hưởng của Sherlock Holmes trong dòng văn hóa đại chúng. Điều mà Hercule Poirot và Miss Marple của nữ hoàn tiểu thuyết trinh thám Agatha Christie vẫn chưa thực hiện được. Tác giả quyển tiểu sử "Sherlock Holmes" là ông Baudouin Millet, giảng viên chuyên khoa Văn học Anh và Dịch thuật tại Đại học Lumière Lyon II. Trả lời phỏng vấn RFI ban tiếng Pháp, ông Baudouin Millet phác họa vài nét chính của thám tử Sherlock Holmes. Sherlock Holmes là một thiên tài có khả năng giải quyết các vấn đề trong vụ án một cách dễ dàng đến mức khó tin, thậm chí ông còn hay nói đùa, có thể làm bẽ mặt những viên thanh tra của Scotland Yard bằng những câu nói như : "Chuyện đơn giản thôi!" hoặc "Anh chẳng hiểu gì cả'', ''Bộ não của anh sao mà nhỏ bé thế''. Có người cho là Sherlock Holmes có một bộ óc xuất chúng, có tài suy luận mạch lạc sắc bén, dựa trên nền tảng logic chặt chẻ, chứ không phỏng đoán mơ hồ. Nhờ vậy, ông giải quyết được các manh mối phức tạp, phá án nhanh để tìm ra thủ phạm. Nhưng theo tôi, Sherlock Holmes có một tư tưởng cởi mở phóng khoáng thiên về nghệ thuật hơn là khoa học. Để phá án, nhân vật này không ngại phá vỡ một số quy tắc, thoát ra ngoài lối suy nghĩ cứng nhắc. Ngoài ra, lối tiếp cận của ông thường được so sánh với một nhà khoa học pháp y, vì những phương pháp giám định của ông đã báo trước các kỹ thuật hiện đại của giới cảnh sát điều tra sau này. Ngay tại căn nhà của ông ở số 221B phố Baker Street, Sherlock Holmes thường hay tiến hành thử nghiệm dùng phương pháp hóa học để đi tìm vết tích bằng chứng, nhưng đồng thời ông cũng phải biết suy luận chặt chẽ để vạch trần tâm lý kẻ phạm tội. Một thiên tài xuất chúng chưa chắc gì đã dễ sống chung. Ngay từ lần xuất hiện đầu tiên vào năm 1887 trong truyện "A Study in Scarlet" cho đến những chuyến phiêu lưu cuối cùng được xuất bản năm 1927, trong đó có vụ án nổi tiếng nhất của ông là "The Hound of the Baskervilles" (1902), có thể nói Sherlock Holmes không phải là một người dễ mến với bà chủ nhà (Mrs Hudson) cũng như với người bạn và cộng sự của mình là bác sĩ John Watson. Trong truyện, Sherlock Holmes có tánh tình thay đổi khác thường. Theo tác giả Baudouin Millet, trong mắt của giới chuyên khoa tâm thần học thời nay, nhân vật tiểu thuyết này có triệu chứng của một người bị rối loạn lưỡng cực : Vâng, thuật ngữ rối loạn lưỡng cực chỉ mới được công nhận gần đây. Trước đó, giới bác sĩ từng nhắc đến chứng bệnh ''hưng trầm cảm'' cho đến những năm 1990. Dựa theo cách phân loại mới về các chứng bệnh tâm thần, các chuyên gia nói về triệu chứng rối loạn lưỡng cực khi những giai đoạn cực kỳ hưng phấn đột nhiên biến thành những khoảnh khắc vô cùng trầm cảm. Những đột biến nội tâm này thường không có dấu hiệu báo trước. Trong truyện Sherlock Holmes, câu chuyện được kể theo góc nhìn của bác sĩ Watson và dĩ nhiên ông Watson không dùng chữ rối loạn lưỡng cực vì thuật ngữ này chưa ra đời. Nhưng bác sĩ Watson lại mô tả một cách rõ ràng các triệu chứng hưng cảm rồi trầm cảm của Sherlock Holmes, đặc biệt là trong quyển sách ''The Sign of Four'' (1890). Cũng cần nói rõ, sinh thời nhà văn người Anh Arthur Conan Doyle ngoài đời là một bác sĩ và nhân vật Watson có nhiều nét giống tác giả. Không phải ngẫu nhiên mọi câu chuyện về Sherlock Holmes là do bác sĩ John Watson kể lại, nhân vậy này biết rõ các vấn đề y học. Xuyên qua các quyển tiểu thuyết, độc giả có thể thấy vị thám tử tài ba luôn phải tìm cách xoa dịu những mối dằn vặt trong nội tâm, kể cả dùng rượu mạnh hay ma túy, bất kể bác sĩ Watson có đồng ý hay không. Trong quyển tiểu sử minh họa do Gallimard xuất bản, độc giả vẫn có thể khám phá nhiều chi tiết mới trong cuộc đời của Sherlock Holmes. Nhân vật này sau mỗi lần phá án thường thốt lên câu nói : ''Elementary, my dear Watson" có nghĩa là ''Đơn giản thôi, anh bạn Watson ơi''. Nhưng theo ông Baudouin Millet, câu nói này không phải là của nhà văn Arthur Conan Doyle. Chuyên gia dịch thuật văn học Anh giải thích : Sự thật là trong các tác phẩm của Arthur Conan Doyle, thám tử Sherlock Holmes chưa từng nói câu "Elementary, my dear Watson" (Đơn giản thôi, anh bạn Watson ơi). Trong truyện, ông dùng nhiều lần chữ "elementary" (chuyện đơn giản thôi) để chọc tức viên thanh tra Lestrade của Scotland Yard. Đoạn đối thoại gần giống nhất nằm trong truyện ngắn "The Adventure of the Crooked Man" (1893). Sau khi kết thúc điều tra, bác sĩ Watson thốt lên một câu ngắn gọn  "Excellent!" (Tuyệt vời!), Sherlock Holmes liền đáp lại: "Elementary" (Đơn giản thôi). Vậy thì câu nói kinh điển ''Elementary, my dear Watson) từ đâu mà có ? Thực ra, câu thoại này xuất phát từ các bản phóng tác, chuyển thể tiểu thuyết gốc thành kịch hay phim. Vào năm 1915, nhà văn hài kịch người Anh P.G. Wodehouse lần đầu tiên viết chính xác câu nói này trong một quyển tiểu thuyết hài hước châm biếm (mang tựa đề Psmith, Journalist). Bộ phim có tiếng nói "The Return of Sherlock Holmes" (1929), do Clive Brook vào vai thám tử tài ba là tác phẩm đầu tiên chính thức cho thấy Sherlock Holmes dùng câu nói này trên màn ảnh lớn. Cũng nhờ vào sự thành công vượt bực của các tác phẩm điện ảnh vào những năm 1930–1940 sau đó (do Basil Rathbone đóng vai chính), câu nói này đã được gắn liền với nhân vật Sherlock Holmes cho đến tận bây giờ. Ngày nay, trong nhiều bản phóng tác truyền hình hay điện ảnh, khán giả luôn chờ đợi Sherlock Holmes thốt lên câu nói "Elementary, my dear Watson". Trong mắt công chúng, nó đã trở thành một biểu tượng chính thức cho dù tác giả Arthur Conan Doyle chưa bao giờ viết ra. Về đời sống cá nhân và quan hệ tình cảm, quyển tiểu sử cho biết tác giả Arthur Conan Doyle không tiết lộ gì nhiều về gia cảnh của Sherlock Holmes. Những chi tiết đời tư của vị thám tử, chủ yếu là do suy diễn hay bịa đặt thêm qua phim ảnh. Về mặt tình cảm, quyển tiểu sử có nhắc đến mối tình ngắn ngủi giữa Sherlock Holmes với một người phụ nữ Mỹ tên là Irene Adler, nhân vật này xuất hiện trong truyện ngắn "A Scandal in Bohemia" và từng được Sherlock yêu mến, quý trọng. Sherlock Holmes chỉ gặp Irene Adler một lần duy nhất, nhưng nhân vật này đã thay đổi cuộc đời của ông, hay ít ra cô ấy dã thay đổi quan niệm của Sherlock Holmess về phụ nữ nói chung. Trong một thời gian dài, Sherlock được mô tả như một người đàn ông ''ghét phụ nữ'' do ông sinh trưởng trong một xã hội trọng nam khinh nữ. Bác sĩ Watson không dùng từ ''ghét phụ nữ'', mà chủ yếu nói rằng Sherlock Holmes thường hay chế giễu người phụ nữ kém thông minh. Chỉ sau khi Sherlock gặp Irene Adler, ông mới bắt đầu coi trọng phụ nữ, xem họ có tài năng ngang hàng với mình, hoặc ít ra trong mắt ông, Irene Adler là một ''kỳ phùng địch thủ'' biết đi những nước cờ cao, biết dùng những chiêu bí hiểm. Tuy không công khai thừa nhận, nhưng Sherlock thầm yêu cô Irene và ông cảm thấy ghen tị với tình nhân cũ của cô là hoàng tử Bohemia. Có một điều thú vị, là nhân vật này tuy chỉ xuất hiện một lần trong truyện ngắn, nhưng sau đó lại đóng một vai trò quan trọng hơn rất nhiều, thông qua các bản phóng tác điện ảnh hay truyền hình. Thám tử Sherlock Holmes đã đem lại cho nhà văn Arthur Conan Doyle t

  5. Aug 8

    Nhạc Nhật lời Việt : Marcia và nhạc phẩm  "Khi thành phố vắng anh"

    Đất nước Brazil là nơi có đông đảo người Nhật định cư. Xuất thân từ cộng đồng hải ngoại, nhiều nghệ sĩ gốc Nhật đã thành danh nhờ tài nghệ sáng tác hay biểu diễn trên sân khấu. Đó là trường hợp của tay đàn ghi ta Mateus Asato, nhạc trưởng Naomi Munakata, tác giả Lisa Ono, ca sĩ Carlos Toshiki thành viên sáng lập nhóm Omega Tribe và nhất là Marcia, một trong những ngôi sao nhạc trẻ những năm 1990. Sinh trưởng tại thành phố São Paolo, Marcia xuất thân từ một gia đình người Nhật định cư tại Brazil từ nhiều đời qua. Vào năm 16 tuổi, cô bắt đầu sự nghiệp trong làng giải trí sau khi về hạng nhì nhân một cuộc thi tuyển lựa tài năng mới năm 1985 (Kayou Senshuken) với sự tài trợ của đài truyền hình TBS, thuộc tập đoàn truyền thông Tokyo Broadcasting System ở vùng Kantō.  Do chưa đến tuổi trưởng thành, nên Marcia được ông nội đưa từ Brazil sang Nhật Bản học tập.Thời gian đầu, cô học hát dưới sự hướng dẫn của nhà soạn nhạc kỳ cựu Kosho Inomata và học lớp diễn xuất với thầy Sakamoto Fuyumi.  Đầu năm 1989, Marcia vừa tròn 20  tuổi cho ra mắt đĩa hát đầu tay với tựa đề "Furimukeba Yokohama" (Nhìn lại Yokohama). Do hai tác giả đồng sáng tác : Kosho Inomata (nhạc) Eiji Takino (lời), đĩa đơn này đã mang về cho Marcia nhiều giải thưởng quan trọng, trong đó có giải dành cho Nghệ sĩ mới xuất sắc nhất trong năm (Nihon Record Taishou). Trong tiếng Việt, giai điệu này từng được tác giả Khúc Lan đặt lời thành nhạc phẩm "Mộng sầu cô đơn". Từ những năm 1990 trở đi, Marcia ngày càng trở nên nổi tiếng. Tên tuổi của cô được biết đến rộng rãi không những qua đĩa hát mà còn qua phim ảnh, show truyền hình, chương trình tạp kỹ hay các vở nhạc kịch. Còn trên phương diện âm nhạc, Marcia thành công với khá nhiều bài hát trích từ 12 album phòng thu thực hiện trong vòng hai thập niên liền (1989-2009). Trong số những bài hát ăn khách nhất của Marcia, ngoài nhạc phẩm "Mộng sầu cô đơn", còn có "My love goodbye" (Tạm biệt người tình) và nhất là "Dakishimete" (trong tiếng Nhật có nghĩa là Hãy ôm em). Bài này từng được chuyển sang tiếng Việt thành nhạc phẩm "Khi thành phố vắng anh". Một số nhà phê bình cho rằng lối thể hiện của Marcia mang nhiều ảnh hưởng của diva Đài Loan Đặng Lệ Quân, trong  cách nhả chữ thanh thoát nhẹ nhàng, tao nhã tơ vương. Nhưng thật ra, Marcia lại chịu ảnh hưởng của thế hệ trước đó nữa, qua giọng ca thần tượng Hibari Misora, người mà Đặng Lệ Quân thường hay nghe thời niên thiếu.  Một chi tiết thú vị là tên thật của danh ca Hibari Misora là Kazue Kato. Gia đình Marcia rất hâm mộ giọng ca này cho nên đã chọn tên thật của thần tượng để đặt cho cô con gái. Tên gọi đầy đủ của Marcia chính là Marcia Kazue Nishiie. Chi tiết thú vị thứ nhì là Marcia đã ra đời vào ngày 14 tháng Hai năm 1969. Do sinh nhật của cô trùng với ngày Lễ Tình nhân, cho nên Marcia thường hay nói đùa rằng không hiểu vì sao từ khi còn nhỏ, cô chỉ thích nghe và thích hát nhạc tình :  Ngước mắt nhìn hoàng hôn  Mà nghe tim chợt buồn  Tình chẳng còn ham muốn  Cho hồn càng buồn hơn    Nhìn những hạt mưa tuôn  Trên khung cửa mù sương Tương lai nhoà vết xoá  Mờ chân trời yêu thương   Nhịp mưa khúc nhạc buồn  Điệu bossa phiền muộn  Hãy cho nhau lần cuối Đắm đuối ngàn nụ hôn

  6. Aug 7

    Pháp: Những giai thoại thú vị của Guillaume Gomez, đầu bếp Điện Elysée

    Hiếm có đầu bếp Pháp nào lại có nhiều chuyện thú vị để kể như ông Guillaume Gomez. Vào năm 25 tuổi, ông trở thành gương mặt trẻ nhất được trao tặng danh hiệu « Nghệ nhân xuất sắc nhất nước Pháp » (Meilleur Ouvrier de France). Vài năm sau khi được chính thức tuyển dụng vào Điện Élysée ( phủ tổng thống Pháp ), ông trở thành bếp trưởng, phục vụ bốn đời tổng thống Pháp Chirac, Sarkozy, Hollande và Macron. Do làm việc 24 năm liên tục, từ năm 1997 đến năm 2021, trong nhà bếp Điện Élysée, ông Guillaume Gomez biết rõ hậu trường cũng như cách vận hành của phủ tổng thống. Tuy đã từng phục vụ một số nhân vật nổi tiếng hàng đầu thế giới, trong đó có nữ hoàng Anh Elizabeth Đệ Nhị và tổng thống Mỹ Donald Trump, nhưng vẫn luôn giữ thái độ kín đáo, khiêm nhường. Sau khi rời Phủ tổng thống vào năm 2021, ông tiếp tục « nhiệm vụ » truyền đạt kiến thức cho các thế hệ sau. Hiện giờ, ông tiếp tục bảo trợ các trường dạy nghề ẩm thực tại Madagascar, Cameroun hay Đảo Mauritius, nhằm tạo cơ hội cho giới trẻ khởi nghiệp hoặc tìm việc làm. Nhân dịp ra mắt quyển sách « À la table du destin, du rêve d'enfant au Palais de l'Élysée » (Tại bàn ăn định mệnh : Từ giấc mơ thời thơ ấu đến Điện Élysée) nhà xuất bản Hors Cadre, Guillaume Gomez đã nhận trả lời phỏng vấn ban Pháp ngữ RFI. Ông cho biết lần đầu tiên ông gia nhập đội ngũ đầu bếp tại Điện Élysée là vào năm 19 tuổi (1997), dưới thời tổng thống Chirac. Thế nhưng, theo Guillaume Gomez, đam mê nấu ăn đã có từ lâu : Tôi luôn muốn trở thành đầu bếp, ngay từ khi còn rất nhỏ. Trong gia đình, ông cố tôi là một đầu bếp, từng học nghề và làm việc với bậc thầy Auguste Escoffier. Có lẽ tôi đã thừa hưởng cái khiếu nấu ăn từ phía gia đình bên ngoại. Mẹ tôi vẫn còn giữ một bức ảnh khi tôi còn học lớp mẫu giáo. Nhân một kỳ liên hoan nhà trường, trong khi các bé gái thích hóa trang thành nàng tiên hay công chúa, còn các cậu bé trai cùng lứa tuổi thích trở thành cảnh sát hay cao bồi, thì trong bức ảnh chụp tôi lại hóa trang thành một đầu bếp. Khi lớn lên, tôi bắt đầu sưu tầm các quyển sách dạy nấu ăn. Tôi còn nhớ quyển đầu tiên là quyển sách « La cuisine du Marché » (hiểu theo nghĩa nấu ăn với các món mua ngoài chợ trong ngày) của bậc thầy Paul Bocuse. Cha mẹ tôi kiếm sống nhờ nghề buôn bán đồ cũ. Vào thời ấy, bố mẹ tôi còn nghèo, cho nên dù đam mê nấu ăn nhưng chưa bao giờ tôi được đi ăn nhà hàng. Biết rằng tôi bắt đầu sưu tầm sách dạy nấu ăn, mẹ tôi thường để dành cho tôi một số cuốn sách mà bà tìm thấy. Một số quyển sách cũ đến nổi cho dù muốn bán thì cũng chẳng có ai mua. Sinh trưởng tại vùng ngoại ô nghèo của Paris (Seine Saint - Denis), ông bắt đầu học nghề nấu ăn từ năm 14 tuổi. Trong những bước đầu « tầm sư học đạo », Guillaume Gomez cho biết ông đã gặp được nhiều người tốt. Những vị ân nhân ấy đã tạo cơ hội cho ông gõ đúng cửa, tìm đúng việc hợp với sở thích của mình. Đầu bếp người Pháp nhận xét : Vâng, tôi rất may mắn vì nhiều lý do. Đầu tiên hết là từ khi còn nhỏ tôi đã biết mình muốn làm gì khi trưởng thành, cho nên đỡ phải mất thời gian để định hướng nghề nghiệp. Hơn nữa, tôi luôn được bố mẹ ủng hộ, bất chấp sự bất đồng của thầy cô trong trường, cho rằng cho tôi đi học nghề chẳng khác gì lãng phí khả năng học chữ của tôi. Cuối cùng, khi mới vào đời, tôi đã may mắn gặp thầy tôi là ông Johnny Benaria, mà tôi xem như một người cha thứ nhì. Chính ông Benaria cùng với Jacques Le Divellec đã giới thiệu tôi với đầu bếp Joël Normand, nhờ vậy tôi mới chính thức được tuyển vào làm việc cho Điện Élysée vào năm 1997, ngay sau khi tôi thi hành nghĩa vụ quân sự. Trong thời gian thử việc, bếp trưởng Joël Normand đã chỉ dẫn tôi một cách tận tình, quả thật là tôi rất may mắn khi gặp được những người thầy tốt đến như vậy. Học thầy không tầy học bạn. Trong mắt đầu bếp người Pháp, khoảng thời gian làm việc trong nhà bếp của Điện Élysée đã đem lại cho ông nhiều kinh nghiệm hữu ích, có giá trị tương đương với thời gian học tập tại 10 trường dạy nấu ăn. Ông Guillaume Gomez giải thích : Đúng vậy, bởi vì trong êkíp của chúng tôi, có rất nhiều đầu bếp trẻ tuổi từng thực tập hay làm việc cho các nhà hàng ba sao nổi tiếng nhất của Pháp. Qua công việc thường ngày, chúng tôi trao đổi kỹ thuật chế biến, bí quyết tay nghề cũng như các công thức nấu ăn. Có thể nói là nhà bếp của Điện Élysée giống như một lớp đào tạo tập hợp về cùng một chỗ những thực tập sinh đến từ nhiều trường phái khác nhau như Bocuse, Ducasse hoặc Robuchon. Thú vị hơn nữa là chúng tôi có thói quen khuyến khích nhau để cùng học hỏi tiến tới, chứ không phải học tập để lấy bằng điểm. Làm thế nào để nấu một bữa tiệc thịnh soạn để chiêu đãi thượng khách, nhưng đồng thời tránh làm phật lòng một nguyên thủ quốc gia như trường hợp của tổng thống Mỹ Donald Trump, nổi tiếng là thích ăn burger và pizza. Việc tiếp đón tổng thống Hoa Kỳ (với tất cả những ràng buộc vê mặt nghi thức lễ tân) đã để lại cho đầu bếp người Pháp nhiều giai thoại thú vị. Ông Quillaume Gomez cho biết thêm về khái niệm « ngoại giao bàn ăn ». Nhân chuyến công du nước Pháp đầu tiên của tổng thống Trump, chúng tôi được giao nhiệm vụ nấu một bữa ăn trưa cho hai nguyên thủ quốc gia Mỹ và Pháp. Thế nhưng, việc đưa vào thực đơn Điện Élysée các món ăn như burger hay pizza là điều không thể tưởng tượng nổi. Cũng may là chúng tôi có sự giúp đỡ của Câu lạc bộ các bếp trưởng hàng đầu (gọi tắt là Câu lạc bộ 3C). Do đầu bếp Pháp Gilles Bragard thành lập vào năm 1977, câu lạc bộ này gồm nhiều thành viên chuyên làm việc tại Phủ tổng thống hay Phủ thủ tướng. Nhờ câu lạc bộ 3C, tôi mới có dịp liên lạc trực tiếp với bà bếp trưởng tại Nhà Trắng, chính bà đã gợi ý cho tôi làm món sườn heo nướng xốt barbecue. Gợi hứng từ công thức này, tôi nấu món thịt thăn lợn với một chút xương. Đây là giống lợn đen nuôi ở vùng Bigorre, thịt mềm mà vẫn không nhiều mở, tẩm gia vị thơm ngon, dùng kèm với khoai tây thái thật mỏng thành nhiều que thon chiên giòn, nên được gọi là khoai tây « rơm », tiếng Pháp gọi là pomme paille. Rốt cuộc, tổng thống Trump rất hài lòng về bữa ăn này, mà chúng tôi cũng tuân thủ đươc nghi thức lễ tân. Có thể nói, ẩm thực cũng như nghệ thuật bàn ăn là phản ánh hình ảnh và uy tín của nước Pháp. Đó là một phần quan trọng trong văn hóa Pháp, nhưng đồng thời mang tính ngoại giao, bởi vì thông qua bàn ăn, chúng ta tạo được hình ảnh đẹp, thu hút sự chú ý cũng như chinh phục cảm tình của người nước ngoài. Tôi đã từng phục vụ bốn đời tổng thống, mỗi vị nguyên thủ có một phong cách riêng, nhưng nhìn chung họ ý thức về tầm quan trọng của nghệ thuật ẩm thực, do vậy họ đều muốn đề cao các đặc sản của Pháp thông qua các bữa ăn thường ngày, cũng như qua các buổi lễ tân tại Điện Élysée. Đầu bếp Guillaume Gomez gặp Emmanuel Macron lần đầu tiên khi ông ấy mới 35 tuổi, chưa được bầu làm tổng thống. Nhiều năm sau khi đắc cử, tổng thống Macron mới bổ nhiệm đầu bếp Guillaume Gomez làm đại sứ nhằm quảng bá ẩm thực Pháp ở nước ngoài. Lý do gì khiến ông Gomez rời bỏ chức vụ bếp trưởng Điện Élysée cho dù về mặt sự nghiệp, ông đã thành công trong gần 25 năm qua? Tôi không phải là một công chức và hành trình của tôi tại Phủ tổng thống (Điện Élysée) đã đến hồi kết. Phải chăng tôi đã ngủ quên trên một chiếc "ghế ngồi" quá thoải mái, hay là tôi tò mò muốn xem chương sách tiếp theo là gì ? Việc tôi rời một chức vụ không có nghĩa là tôi từ bỏ nhiệm vụ. Khi được bổ nhiệm làm đại sứ ẩm thực, nhiệm vụ của tôi không chỉ là quảng bá ẩm thực Pháp ở nước ngoài mà còn là cải thiện dinh dưỡng, khuyến khích giới trẻ ở Pháp ăn uống lành mạnh. Một chế độ ăn uống kém, gồm nhiều thức ăn nhanh, cũng như dùng quá nhiều thực phẩm chế biến thường dẫn tới các chứng bệnh béo ph

  7. Jul 31

    200 năm ngày khai sinh bảng chữ nổi của Louis Braille

    Cách đây 200 năm, một thiếu niên người Pháp bị mù do tai nạn, đã phát minh một bảng chữ nổi, giúp hàng triệu người khiếm thị trên khắp thế giới có thể đọc chữ bằng đầu ngón tay. Gợi hứng từ cách « viết chữ trong bóng tối » (code Barbier) để sĩ quan Pháp đọc mật mã tin nhắn vào ban đêm, Louis Braille, lúc bấy giờ mới 16 tuổi, đã hoàn chỉnh bộ chữ cái La tinh viết bằng các dấu chấm nổi. Cũng từ năm 1825 trở đi, bảng chữ nổi còn được gọi là chữ Braille. Hai thế kỷ sau ngày ra đời, bảng chữ Braille được phổ biến tại 140 quốc gia trên thế giới, do có thể ứng dụng cho bất kỳ ngôn ngữ nào có dùng ký tự La tinh. Nhưng trước khi học cách dùng chữ Braille, người khiếm thị phải biết đọc và biết viết tiếng mẹ đẻ của mình, rồi sau đó mới học chữ Braille. Cũng như người thường đọc chữ bằng mắt, người khiếm thị đọc chữ bằng đầu ngón tay, nhưng nếu không luyện tập trong một thời gian dài, người khiếm thị có thể quên cách đoc bảng chữ Braille. Trong xã hội công nghệ thời đại, có rất nhiều ứng dụng dùng âm thanh để hỗ trợ người khiếm thị. Có lẽ cũng vì thế, nạn mù chữ Braille ngày càng gia tăng, do giới trẻ thời nay ít còn quan tâm đến việc học chữ nổi. Tại Pháp, trong số các tổ chức trợ giúp người khiếm thị, có Trung tâm Phiên âm và Xuất bản chữ Braille (gọi tắt là CTEB) ở Toulouse. Mục tiêu của hiệp hội này là tạo điều kiện cho người khiếm thị tiếp cận dễ dàng hơn sách giáo khoa hay sách đọc in bằng chữ nổi. Trả lời phỏng vấn RFI ban tiếng Pháp, ông Denis Guérin, trưởng ban điều hành trung tâm CTEB, cho biết vì sao việc duy trì sách in chữ Braille là điều cần thiết : « Chúng ta nên hiểu rằng, sách chữ nổi nói riêng và sách dành cho người khuyết tật nói chung ít khi nào được chính phủ tài trợ. Sách chữ nổi không dành cho số đông, ấn bản thường bị giới hạn, cho nên giá sách chữ nổi thường rất là cao, khoảng 700 euro một bộ. Vì vậy, có hai trở ngại lớn : Nhiều gia đình không đủ khả năng để mua những cuốn sách đắt tiền như vậy và hơn nữa, dù có muốn đọc sách, người khiếm thị cũng không có nhiều sự lựa chọn. Bởi vì trên thế giới hiện giờ, chỉ có 4% sách in được biên soạn lại bằng chữ nổi dành cho người khiếm thị. Mỗi năm, hiệp hội chúng tôi xuất bản 200 đầu sách mới, được biên soạn cho người hoàn toàn khiếm thị hoặc có thị lực kém. Nhưng nhìn chung, độc giả khiếm thị vẫn không có nhiều sách để đọc. Chẳng hạn như trong loạt truyện Harry Potter mỗi cuốn sách bỏ túi dày khoảng 400 trang, được bán với giá 10 euro. Để biên soạn lại theo chữ nổi Braille đọc bằng đầu ngón tay, quyển sách 400 trang này sẽ có đến 18 tập khổ A4, mỗi tập tương đương với một chương sách thường. Từ giá 10 euro ban đầu của một quyển sách thường, giá thành của một bộ sách chữ Braille 18 tập là khoảng 700 euro, chủ yếu vì khâu biên soạn đòi hỏi nhiều thời gian và công sức. Mỗi đầu sách mới bằng chữ nổi, chỉ được in thành vài phiên bản mà thôi ». Tuy phát hành mỗi năm 200 đầu sách mới, ban điều hành ngành xuất bản chữ nổi còn nhận thấy rằng trong thời gian gần đây, lại xuất hiện thêm một vấn đề khác. Đó là số người biết đọc chữ Braille ngày càng ít đi. Ông Denis Guérin, thuộc Trung tâm Xuất bản chữ Braille (CTEB), cho biết vì sao : « Vâng, chúng tôi không có số liệu thống kê chính thức, nhưng theo các chuyên gia, số người biết đọc chữ nổi tại Pháp là khoảng từ 15% đến 20% trong cộng đồng người khiếm thị, tức là cứ trên 5 người khiếm thị, chỉ có một người biết đọc chữ nổi. Sở dĩ có tình trạng này là vì chúng ta thiếu giáo viên, thiếu trường chuyên biệt, thiếu tài liệu giảng dạy hay sách đọc để giải trí. Đó là lý do vì sao chúng ta nên duy trì việc xuất bản sách, không chỉ  tiểu thuyết văn học, mà nhiều sách giáo khoa cũng cần được chuyển thể sang chữ Braille. Hiện giờ, hệ thống chữ nổi đã xuất hiện tại nhiều nơi công cộng, trong bảo tàng thư viện, trong thang máy dẫn đến bến tàu sân ga, có thể nói là hệ thống chỉ dẫn người mù ngày càng được phổ biến ở Pháp, nhưng ngược lại, vẫn thiếu nguồn lực dành cho văn hóa và giáo dục : vẫn chưa có nhiều đầu tư vào việc đào tạo giáo viên hay tài trợ sách giáo khoa để tạo cơ hội cho người khiếm thị có thêm sách để học, có thêm truyện để đọc ». Thời đại công nghệ số phải chăng tạo thêm nhiều khó khăn khác cho người khiếm thị. Hệ thống chữ Braille có thật sự khó học hơn so với các ngoại ngữ thông dụng, Ông Denis Guérin cho biết : « Nếu không có đủ trường học để dạy cách đọc chữ nổi, dĩ nhiên chúng ta có thể thay thế bằng công nghệ âm thanh cùng với điện thoại thông minh. Có thể nói, chúng ta chọn một con đường dễ dàng hơn. Nhưng cũng nên nhắc nhở tầm quan trọng của chữ nổi đối với người khiếm thị, kể cả những người kém thị lực và những người hoàn toàn bị mù. Người có thị lực kém, nhưng vẫn còn một chút khả năng nhìn, vẫn có thể đọc sách bằng cách phóng đại, điều chỉnh cỡ chữ lớn hơn. Còn những người mù thì lại cần viết và đọc hệ thống chữ nổi. Chẳng hạn như một thanh niên trẻ tuổi, tuy có thị lực bình thường, nhưng lại không thích đọc sách, chỉ thích xem phim (hình ảnh) và nghe nhạc (âm thanh) thì với thời gian, bạn trẻ này sẽ mất dần kỹ năng đánh vần, nhận diện mặt chữ và dễ viết sai chính tả. Do vậy, bất kể bạn đọc bằng mắt hay đọc bằng đầu ngón tay, thì lợi ích của việc đọc vẫn là nắm vững nội dung qua hệ thống chữ viết hay chữ nổi. Việc đọc khác với nghe nhìn, mặc dù những ứng dụng âm thanh đã giúp đỡ rất nhiều các cộng đồng người khiếm thị trên khắp thế giới trong 20 năm qua. Về chuyện học chữ nổi, tôi không nghĩ là chữ Braille khó học so với các ngoại ngữ như tiếng Đức chẳng hạn. Theo kinh nghiệm của tôi, khi bạn tập đọc, tập viết từ khi còn nhỏ, đâu đó bạn đã rèn luyện cho bộ não của mình làm quen với một hệ thống mới. Rồi sau đó, thầy cô ở trường, phương pháp giảng dạy và sách vở giáo khoa giúp cho bạn xây dựng năng lực học tập. Theo tôi, chữ Braille không khó hơn bất kỳ ngôn ngữ nào khác. Và quá trình thức học tập lúc nào cũng đòi hỏi thời gian ». Học chữ Braille khó hay dễ? Trả lời câu hỏi này, Michelle, một phụ nữ cao tuổi, cho biết bà đã quyết định học chữ Braille ở tuổi 69, sau khi bị mất thị lực do một chứng bệnh về mắt : « Tôi đã học chữ Braille ban đầu là vì nhu cầu trong đời sống thường nhật. Nếu mù chữ nổi, tôi không thể nào nhận ra những hộp thuốc mà tôi cần dùng hàng ngày. Sau đó, tôi học chữ nổi là vì sở thích, bởi vì thông qua chữ Braille, tôi đã khám phá lại rất nhiều điều : Đầu tiên là niềm vui đọc sách, thả trí tưởng tượng qua câu chữ ngôn từ, kế đến nữa là tôi luyện trí nhớ, nhất là trong tiếng Pháp bạn hơi phân vân về mặt chính tả, khi bạn ngừng đọc sách. Bạn không thật sự ý thức được điều đó, chừng nào bạn chưa đánh mất nó. Khi bắt đầu học chữ Braille, tôi đã học bảng chữ cái khá nhanh. Xúc giác ở đây rất quan trọng và tôi dùng ngón trỏ để thực hiện mọi thao tác. Công việc đọc sách đến sau khi học thuộc lòng bảng chữ cái. Tôi thấy việc học chữ Braille chẳng khác gì học một ngoại ngữ. Khác biệt duy nhất là chữ Braille đồng nghĩa với khiếm thị, trong khi ngôn ngữ nước ngoài không có liên quan gì tới khuyết tật ». Thế giới đã bước vào thời kỳ của trí tuệ nhân tạo, của các ứng dụng trên điện thoại thông minh cũng như máy móc có thể được điều khiển bằng giọng nói. Thế nhưng, các công cụ hiện đại này có giúp phát triển chữ Braille, hay ngược lại tạo thêm trở ngại cho việc học chữ nổi? Về điểm này, các chuyên gia trong ngành cho rằng những công cụ này bổ sung cho nhau: « Vào thời công nghệ số, cho dù đang học cách sử dụng các công cụ hiện đại, người khiếm thị có nhiều lúc vẫn cần đến chữ nổi Braille. Theo các chuyên gia, nhiều người mắc sai lầm khi cho rằn

  8. Jul 24

    Sức quyến rũ của Liên hoan Avignon Off vừa tròn 60 tuổi

    Dưới ánh mặt trời chói chang miền nam nước Pháp, đang diễn ra liên hoan nghệ thuật biểu diễn quốc tế Avignon ( 04-25/07/2026 ). Bên cạnh chương trình Festival In, với khoảng 50 vở diễn, là Festival Off, với hơn 1.700 buổi diễn năm nay. Vẻ đẹp và sự phong phú của tại Festival Off Avignon quả là một thách thức lớn với giới truyền thông. Điều gì đã làm nên sức quyến rũ đặc biệt của Liên hoan Avignon Off, vừa tròn 60 tuổi, thường được coi là một trong những Festival sân khấu độc lập lớn nhất thế giới ? *** Julie : Khi Avignon làm thay đổi một cuộc đời Chúng tôi may mắn được làm quen với Julie, người đã 7, 8 năm liên tục có mặt tại Liên hoan Avignon. Những năm đầu tiên, Julie đến Avignon với tư cách là khán giả và hoàn toàn chỉ đến để coi các vở diễn của Festival Off. Avignon đã quyến rũ cô đến nỗi mà cách nay hai năm Julie quyết định từ bỏ một công việc lương cao để dấn thân vì nghệ thuật. Cô tâm sự : « Với tư cách là một khán giả, tôi đã xem rất nhiều vở kịch trong đời và thấy thật tuyệt vời khi chứng kiến sự đa dạng, tài năng và các sáng tạo được trình diễn dồn dập trong một tháng tại Liên hoan Avignon. Tôi muốn tham gia vào sự sôi động này, hợp tác với các nghệ sĩ, quảng bá tác phẩm của họ. Vì trước đây tôi từng là kỹ sư kinh doanh (ingénieur d'affaires), tôi thấy rằng khả năng tốt nhất của mình là giao tiếp và đàm phán. Vì vậy, với sở trường của mình, tôi quyết định chuyển hướng để hỗ trợ các đoàn kịch. » ACME Production, nơi Julie làm việc, là công ty chuyên hỗ trợ phát triển và quảng bá các sáng tác sân khấu, được sáng lập bởi diễn viên, tác giả, đạo diễn kịch tài ba Alexis Michalik, một người trưởng thành từ chính Liên hoan Off Avignon. Alexis Michalik – nhiều lần đoạt giải Molière - nổi tiếng với vở Edmond, thu hút hơn một triệu khán giả với khoảng 2.000 lượt trình diễn. Năm nay, công ty ACME Production hỗ trợ quảng bá 9 tác phẩm sân khấu tại Liên hoan Off Avignon, trong đó có vở Où vont les larmes quand elles sèchent ? (tạm dịch là Nước mắt ở đâu khi người ta không thể khóc ?), chuyển thể từ cuốn tiểu thuyết best-seller cùng tên của nhà văn Pháp Baptiste Beaulieu, cũng là một bác sĩ, nơi trang viết và cuộc đời đập cùng một nhịp. Olympe: Nhà nữ quyền tiên phong và thời kỳ đen tối trong Cách mạng Où vont les larmes quand elles sèchent ? của nhà văn - bác sĩ Baptiste Beaulieu gây nhiều xúc động với Julie, nhưng tác phẩm gây chấn động mạnh nhất với cô tại Festival năm nay có lẽ là vở Olympe : « Tôi đã xem một vở kịch tên là Olympe, kể về Olympe de Gouges, một phụ nữ tuyệt vời trong thời kỳ Cách mạng Pháp. Bà đã đấu tranh khi bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền chỉ đề cập đến nam giới, loại bỏ quyền của phụ nữ. Đó là thời kỳ mà Quốc Hội cấm phụ nữ tụ tập, tham gia các cuộc họp chính trị. Thật vô cùng phi lý khi bà không bao giờ được nhắc đến trong sách giáo khoa (*). Tôi rất xúc động khi khám phá nhân vật này qua tác phẩm của Raphaël Arditti, vở diễn kết hợp rất sáng tạo giữa kịch bản và âm nhạc. Tác phẩm gây xúc động rất mạnh vì đó cũng là một con người có thực ». (*) Cho đến cách nay hơn mười năm, « Các sách giáo khoa đề cập đến vấn đề quyền bầu cử của phụ nữ thường chỉ dành một phần phụ lục để trình bày tiểu sử của Jeanne Deroin hoặc Olympe de Gouges (...). Điều này góp phần đẩy họ ra bên lề. » (Bài về Vị trí của phụ nữ trong sách giáo khoa, theo Đài Quan sát về tình trạng bất bình đẳng – Observatoire des inégalités - 2013). Cơ hội lớn được trao đổi, được lắng nghe Được trao đổi dễ dàng các cảm nhận về tác phẩm sân khấu với khán giả, với diễn viên, đạo diễn, là điều « đọng lại sâu đậm nhất » với Julie trong những dịp Liên hoan Off:   « Có thể tôi cực kỳ yêu thích một tác phẩm nào đó trong khi người khác lại có cảm nhận trái chiều, hoặc chưa thực sự được thuyết phục. Ngược lại, có những tác phẩm tuy không khiến tôi xúc động nhiều, nhưng lại lay động sâu sắc tâm hồn người khác. Nhưng thực sự là, chính những trao đổi ấy - sự gặp gỡ được tạo ra từ đó, về những điểm khác biệt hay về những gì đồng cảm - mới là điều đọng lại sâu đậm nhất trong tôi, bởi suy cho cùng, liên hoan là sự kết hợp đa dạng của vô vàn sáng tạo và tác phẩm khác nhau, từ những tác phẩm mang tính chính trị, hài hước, đến những vở nhạc kịch. (…) Sau buổi diễn, bạn có thể đợi để trò chuyện với đạo diễn hoặc diễn viên. Nghệ sĩ giải thích quan điểm của mình, thể hiện điều họ muốn, trao đổi về quá trình sáng tạo, động lực của họ và cách họ thực hiện tác phẩm. Tôi rất thích điều này ở Festival Off.  »   Tang tóc, sự trào lộng và những dòng thư gởi người thân đã khuất Festival Avignon không chỉ là một cơ hội lớn cho những trao đổi với khán giả, với giới nghệ sĩ, mà còn là nơi thể nghiệm những hình thức sáng tạo mới khi đời thường, đời thực ùa vào sân khấu. Tại quảng trường Saint Didier, trước cửa quán cà phê xưa nhất thành phố Le Grand Cafe Baretta, dưới bóng cây Judée rợp mát trong ngày hè oi ả, chúng tôi may mắn gặp được Nathalie Lovighi, diễn viên trong « Meurt de Rire » (Cười đến chết), vở diễn có một vai duy nhất. « Meurt de Rire » là câu chuyện về Francine, một người phụ nữ bình thường có tấm lòng nhân hậu. Francine nhận được cuộc gọi từ Catherine, người bạn vừa mất cha. Từng trải qua mất mát, Francine đến với Catherine, cùng bạn vượt qua nỗi đau. Câu chuyện xoay quanh chủ đề cái chết, nhưng đan xen là những nụ cười tinh tế. Trong vở kịch có những khoảnh khắc lắng đọng, khi khán giả được mời suy ngẫm về những người đã khuất khi đọc những lá thư của khách qua đường gởi người thân qua đời. Nữ diễn viên Nathalie Lovighi kể : « Có một khoảnh khắc tôi hỏi khán giả : ‘‘Vậy, bạn nhận được lá thư nào?’’, vì trên những chiếc ghế (trong rạp hát) có đặt sẵn các lá thư. ‘‘Ồ, một lá thư gửi mẹ’’. ‘‘Bạn có thể đọc giúp tôi được không?’’.  Thế là họ đọc những lá thư ấy — ‘‘Thư gửi Jeannot’’, ‘‘Thư gửi bà Lulu’’…. Thực ra, đây là những lá thư do những người qua đường ngẫu nhiên viết cho một người thân đã khuất, và để lại chỗ tôi. Đó là những lá thư có thật. Khoảnh khắc đó luôn rất xúc động, vì nó khiến mọi người suy ngẫm về cái chết và về những người không còn ở bên ta nữa. Tôi hỏi họ: ‘‘Tại sao chúng ta cứ phải đợi đến khi người thân ta qua đời mới nói lời yêu thương?’’, ai cũng gật gù: ‘‘Đúng vậy, quả đúng là như thế’’. Việc này thật hay, nó khơi gợi suy nghĩ. Đó là một khoảnh khắc tinh tế trong chương trình. Phần này rất ngắn thôi, chỉ kéo dài vài phút. Sau đó, chúng tôi trở lại ngay với câu chuyện của Francine và cô bạn Catherine, và tiếng cười lại rộn rã cho đến tận phút cuối ». Vở « Meurt de Rire » đến với Avignon, của đôi bạn Myriam Donasis và Nathalie Lovighi, được tòa thị chính thành phố cảng Le Havre, miền tây bắc nước Pháp, hỗ trợ. « Nos Assemblées » : Bánh pizza và trải nghiệm xây dựng dân chủ Tại Festival Off Avignon, không gì ngăn cách nghệ thuật và đời thường. Vở « Nos Assemblées » (Các Hội đồng của chúng ta), do Élise Chatauret đạo diễn, là một trong những tác phẩm nối kết mật thiết nghệ thuật với cuộc sống. Nos Assemblées là một trong 6 vở diễn, trong số hơn 200 vở dự thi, được vùng Ile-de-France tuyển chọn để đại diện cho vùng tham gia Liên hoan Avignon. Trả lời nhà báo Muriel Maalouf, chuyên về mảng văn hóa của đài RFI, đạo diễn vở Nos Assemblées chia sẻ : « Mọi chuyện bắt đầu từ lời mời của Nhà hát Théâtre de la Poudrerie ở Sevran, đề nghị chúng tôi dàn dựng một vở có thể trình diễn ngay tại nhà của người dân — đặc biệt là dành cho những khán giả hiếm khi đến nhà hát. Xuất phát từ ý tưởng đó, chúng tôi nhận ra rằng chủ đề mình mong muốn mang đến với mọi người — nhất là những ai không xem kịch hay không lui tới các thiết chế văn hóa — chính là chính trị. Cụ

About

Sinh hoạt văn hóa, nghệ thuật, đặc biệt là tại Pháp và Việt Nam

More From RFI Tiếng Việt

You Might Also Like