In ấn, xuất bản và minh họa đã phát triển như thế nào tại Việt Nam trong giai đoạn 1860-1945? Triển lãm tại Thư viện Đại học Ngôn ngữ và Văn minh BULAC Paris (17/08-31/10/2026) giới thiệu gần một thế kỷ chuyển biến, từ in mộc bản truyền thống đến ngành in hiện đại du nhập từ Pháp, sự kết hợp giữa hội họa và xuất bản. Trong quá trình này, in ấn trở thành công cụ quan trọng phố biến Quốc ngữ, gắn liền với sự phát triển của văn học, báo chí, đồ họa, xuất bản Việt Nam. In mộc bản và khởi đầu của in ấn hiện đại tại Việt Nam Triển lãm này tiếp nối triển lãm về chữ Quốc ngữ do BULAC tổ chức năm 2023. Trả lời RFI Tiếng Việt, chị Nguyễn Thị Hải, phụ trách phông tiếng Việt tại BULAC và đồng tổ chức triển lãm, cho rằng để hiểu được những tiến bộ vượt bậc trong ngành in, có lẽ nên bắt đầu từ kỹ thuật in mộc bản, được giới thiệu trong phần đầu triển lãm. “Mộc bản ở Việt Nam đã xuất hiện từ khá sớm. Thời kỳ đầu, hầu như chỉ dùng để xuất bản các văn bản về Phật giáo, sau đó là những văn bản mang tính chất chính thống của triều đình. Nhưng việc xuất bản bằng mộc bản rất đắt đỏ cho nên không thực sự phát triển ở Việt Nam. Phải đến cuối thế kỷ XIX mới thấy các sách xuất bản bằng mộc bản ở Việt Nam xuất hiện nhiều hơn, nhưng chỉ phát triển chủ yếu ở miền Bắc và miền Trung. Ở miền Nam có một cộng đồng người Hoa sinh sống rất là lớn. Để tiếp tục học và phát triển tiếng Trung, họ chủ yếu mua sách từ Trung Quốc và bán cho cộng đồng. BULAC có một bộ sách chứng minh cho quá trình di chuyển các tác phẩm văn học Việt Nam bởi các trí thức miền Nam viết tay và chép lại, sau đó gửi sang in ấn ở Phật Sơn, Quảng Đông, Trung Quốc và sau đó gửi về bán tại Sài Gòn”. Những nhà in đầu tiên ở Việt Nam xuất hiện vào thế kỷ XIX, do các nhà truyền giáo thành lập, chủ yếu để in kinh sách bằng chữ Hán và chữ Nôm. Phần lớn sách Quốc ngữ vẫn phải in ở nước ngoài, như Roma, Ấn Độ, Bangkok và Hồng Kông. Chị Nguyễn Thị Hải cho biết BULAC hiện lưu giữ nhiều ấn phẩm chữ Quốc ngữ được in tại Bangkok giai đoạn 1840-1860, trước khi Pháp thiết lập chế độ thuộc địa. “Khi này chính quyền Nam Kỳ quyết định lập nhà in Imprimerie Nationale, vẫn gọi là Bản in Nhà nước. Lúc đầu họ chủ yếu in bằng tiếng Pháp. Phải đến những năm 1860-1865, chúng ta thấy có một số bản in bằng chữ Quốc ngữ, đặc biệt là những cuốn sách được xuất bản bởi Trương Vĩnh Ký hoặc là Gia Định báo, tờ báo Quốc ngữ đầu tiên của Việt Nam được in tại Sài Gòn. Thời kỳ này, các bản in rất là hạn chế bởi vì chỉ có nhà in của nhà nước. Sau đó dần dần ở Nam Kỳ xuất hiện một số nhà in do người Pháp lập ra. Và thời kỳ này có hai luồng xuất bản. Thứ nhất là sách bằng chữ Quốc ngữ được in ấn, xuất bản bởi nhóm của Trương Vĩnh Ký, Trương Minh Ký, Huỳnh Tịnh Của và các bản tiếng Pháp khác. Cùng thời điểm đó, cộng đồng người Hoa bắt đầu in bằng chữ Quốc ngữ. Nhưng các bản in thời kỳ này chủ yếu là chữ và việc minh họa rất là hạn chế”. Trong thập niên 1920-1930, hoạt động in ấn phát triển mạnh ở miền Nam cùng với sự phát triển của chữ Quốc ngữ. Các nhà in lớn tập trung tại khu vực trung tâm Sài Gòn, các cơ sở nhỏ hoạt động quanh Chợ Lớn, chuyên in các ấn phẩm nhỏ như thơ, văn, tài liệu phổ biến thông tin. Các nhà in còn chủ động quảng bá hoạt động, ví dụ nhà in Joseph Nguyễn Văn Viết thậm chí sáng tác thơ để quảng cáo, cảm ơn độc giả và kêu gọi mua sách. In truyện dài kỳ để phổ biến chữ Quốc ngữ Cuối thế kỷ XIX, miền Bắc Việt Nam vẫn chủ yếu sử dụng kỹ thuật in mộc bản. Đầu thế kỷ XX, in ấn chữ Quốc ngữ bắt đầu phát triển với sự tham gia của Nguyễn Văn Vĩnh. Cùng với Dufour, một người Pháp, ông thành lập nhà in, xuất bản nhiều ấn phẩm nhằm phổ biến chữ Quốc ngữ, tiêu biểu là Tam Quốc chí diễn nghĩa, bản in đầu tiên tại Bắc Kỳ, theo giải thích của chị Nguyễn Thị Hải : “Điều rất hay, đó là Nguyễn Văn Vĩnh quyết định dịch từng phần và xuất mỗi tuần một ấn bản nhỏ bằng chữ Quốc ngữ và sau đó gửi bán rộng rãi ở khắp nơi, không chỉ ở Hà Nội mà còn ở Trung Kỳ, Nam Kỳ. Điều này cho thấy hoạt động buôn bán, phát hành sách đã mở rộng vào đầu thế kỷ XX. Bộ Tam Quốc chí diễn nghĩa được xuất bản vào năm 1909-1910, gồm gần 100 ấn bản, mỗi tuần ra một số. Điều đặc biệt là để phát triển chữ Quốc ngữ, ngoài việc xuất bản bằng chữ Quốc ngữ, ông còn tổ chức biểu diễn kịch Tam Quốc chí diễn nghĩa bằng tiếng Việt, tương ứng với nội dung ông dịch”. Nguyễn Văn Vĩnh tiếp tục phổ biến chữ Quốc ngữ thông qua các tạp chí và hoạt động xuất bản. Trong Notre Revue (Tạp chí Ta, khi chưa được phép xuất bản báo chí bằng chữ Quốc ngữ), ông “in lén” bản dịch Ba chàng ngự lâm pháo thủ trong 12 số báo năm 1910, sau này được nhà xuất bản Trung Bắc Tân Văn của ông phát hành thành 20 tập sách nhỏ năm 1927. Ông tiếp tục thúc đẩy chữ Quốc ngữ và phổ biến giáo dục thông qua Đông Dương tạp chí và Học báo. Theo chị Nguyễn Thị Hải, Trung Bắc Tân Văn góp phần phát triển xuất bản ở miền Bắc nhưng đến những năm 1920, sách báo vẫn sử dụng song song chữ Hán và chữ Quốc ngữ. Đến thập niên 1930, các nhà xuất bản Tân Dân, Hàn Thuyên, Mai Lĩnh, nhóm Tự Lực Văn Đoàn cùng nhà xuất bản Đời Nay và các báo Phong hóa, Ngày nay đã góp phần làm thay đổi diện mạo in ấn, xuất bản và minh họa. Đặc biệt, các ấn phẩm được đầu tư công phu về hình thức, nhất là phần bìa và minh họa. Những thay đổi đầu tiên trong tư duy xuất bản Ngoài những tiến bộ kỹ thuật, sự thay đổi trong ý thức của nghề in và xuất bản được minh họa rất rõ trong những tấm pano tại triển lãm. Trước tiên là về tên tác giả và bản quyền, theo chị Nguyễn Thị Hải : “Ngày xưa, văn học của Việt Nam chủ yếu là văn học khuyết danh, tức là tên tác giả không được coi trọng. Nhưng bắt đầu từ những năm 1920, quy định của chính quyền Đông Dương xác định trên bìa sách phải có đầy đủ thông tin. Điều này cũng làm thay đổi tư duy của những người in ấn và xuất bản, đó là tư duy về bản quyền. Có thể thấy một số bìa sách, họ không chỉ viết khẳng định bản quyền bằng tiếng Pháp “Tous droits reservés”, mà còn giải thích bằng chữ Quốc ngữ. Vì thời điểm này, người Việt chưa có tư duy về bản quyền, cho nên việc dịch sang tiếng Việt của mỗi một nhà xuất bản là khác nhau. Ví dụ “cấm in bài trong sách nầy”, “cấm in trùng bản này”. Vào thời kỳ này, do ảnh hưởng của tư duy xuất bản ở phương Tây, các nhà xuất bản bắt đầu xuất bản những bản catalogue để quảng cáo sách họ bán”. Để thu hút độc giả hơn, các nhà xuất bản cũng quảng cáo chương trình giảm giá, chân dung những người tham gia xuất bản. Các bản in đặc biệt, sử dụng nhiều loại giấy quý như Hoàng Yến, Phụng Hoàng, giấy nhiễu, lụa hồng xuất hiện tại Bắc Kỳ trong những năm 1940. Một điểm đặc biệt khác là màu sắc in ấn, theo giải thích của chị Nguyễn Thị Hải : “Chúng ta biết là tất cả các bìa tạp chí, bìa sách đều được in màu rất chuyên nghiệp và được đầu tư. Vậy in màu như thế nào để các lớp màu phải khác nhau ? Lấy ví dụ một bìa báo của Phong Hóa và số Tết, trên nghiên cứu cơ sở giấy thì nhận thấy rằng nhà xuất bản Đời Nay đã chọn nền giấy màu cam, sau đó in các lớp màu khác nhau, lớp màu trắng, rồi đến màu cam đỏ, rồi mới đến màu xanh. Dựa trên quy tắc màu trong ngành in, chúng tôi thử tách lớp ra để khách tham quan hiểu rõ hơn về kỹ thuật in màu thời kỳ đó. Nhờ vào Khải, một trong những thành viên ban tổ chức, Khải đã phân tách các lớp màu khác nhau và đưa ra thứ tự in màu. Chúng tôi chưa có nhiều thông tin về cách thức in, tức là các ván in kiểu gì. Có lẽ thời kỳ đó sẽ chủ yếu dùng bản in thiếc là chính để tạo cho màu nó được sinh động hơn, tranh được sinh động hơn”. Minh họa : Tá