Tạp chí kinh tế

Hồ sơ kinh tế nổi bật, kinh nghiệm hoạt động của giới doanh nhân

  1. 4d ago

    Kinh tế - An ninh : Châu Âu trước thách thức Mỹ giảm quân số

    Hoa Kỳ đã thông báo kế hoạch giảm quân số tại châu Âu, nơi mà từ sau Thế Chiến Thứ Hai, Washington đã thiết lập các căn cứ thường trực trải dài từ Groenland xuống đến tận Địa Trung Hải. Gần 40 % lính Mỹ đồn trú ở hải ngoại tập trung tại châu Âu,  nhất là tại Đức, Ý và Tây Ban Nha. Sau Chiến tranh Lạnh, Mỹ đã thiết lập các căn cứ quân sự tại nhiều nước đông Âu như Rumani, Ba Lan, Bulgari và cũng đã mở rộng địa bàn tại vùng Baltic. Những kế hoạch thu hẹp sự hiện diện quân sự của Mỹ tại châu Âu là một thách thức lớn đối với các đối tác của Hoa Kỳ tại châu lục này cả về kinh tế lẫn an ninh. Từ đầu tháng 5/2026 bộ trưởng Quốc Phòng Mỹ, rồi tổng thống Hoa Kỳ liên tiếp thông báo kế hoạch « cắt giảm quân số tại châu Âu ». Hôm 18/06/2026 Lầu Năm Góc cho biết đang « xét lại » việc triển khai lực lượng tại các nước châu Âu thành viên NATO (Liên Minh Bắc Đại Tây Dương). Từ Anh Quốc đến Thổ Nhĩ Kỳ, từ Iceland đến Rumani, nơi Hoa Kỳ đã đặt những cơ sở quân sự, nước nào cũng lo ngại. Đứng đầu trong số này là Đức, nơi có hơn 30 cơ sở quân sự của Mỹ đã hoạt động từ 70-80 năm nay và khoảng 50.000 lính Mỹ đang đồn trú đã thực sự trở thành một yếu tố trong đời sống xã hội và kinh tế của nền kinh tế số một châu Âu này. Đức và lo ngại mất một phần trong số 50.000 quân nhân Mỹ Ramstein, miền tây nam nước Đức, là căn cứ không quân lớn nhất của Hoa Kỳ ở hải ngoại. Căn cứ này là cả « một thành phố trong một thành phố » với trường học, bệnh viện ... dành riêng cho các quân nhân Mỹ và gia đình. Rất nhiều đường phố ở Ramstein mang tên các vị tổng thống Mỹ. Tại các cửa hàng, người ta cũng có thể thanh toán bằng đô la bên cạnh đồng euro. Phóng sự trên đài phát thanh Pháp France Inter của thông tín viên Sébastien Baer từ căn cứ quân sự Mỹ tại thị trấn Vilseck cho thấy quyết định của Washington cắt giảm 5.000 lính Mỹ tại Đức là một tai họa:  « Một góc nhỏ của nước Mỹ, thị trấn Vilseck của vùng Bayern, đông nam nước Đức từ hơn 80 năm nay gắn bó với sự hiện diện của quân đội Hoa Kỳ. Với khoảng 6.500 dân cư, Vilseck là nơi mà một lữ đoàn của Mỹ đóng quân, thế nhưng sự hiện diện này có thể sẽ chấm dứt, do Donald Trump thông báo sẽ rút 5.000 lính Mỹ trong thời gian tới. Nào là nước ngọt Coca-Cola, nào là bia Mỹ và sốt BBQ chồng chất ngay lối vào một siêu thị. Travis, một quân nhân Mỹ 27 tuổi từ bang Texas đến, đang chất hàng vào xe, anh nói : ‘Tôi được điều đến đây đã 9 tháng. Tối rất thích nơi này. Phong cảnh ở đây rất đẹp. Tôi thích các món ăn bản địa như xúc -xích, thịt thăn chiên bột. Người dân ở đây thì thân thiện, đi lại cũng dễ dàng. Ở Texas phải lái xe hàng giờ để đi từ nơi này đến nơi khác. Tại đây chỉ chỉ cần 5 phút là tôi đến được một công viên xinh đẹp. Tôi đang học tiếng Đức với ứng dụng Duolingo’. Travis tìm được một ngôi nhà trên sườn đồi của thành phố, nhà có vườn. Mười ba ngàn quân nhân Mỹ đóng quân ở khu vực này. Từ sau Đệ Nhị Thế Chiến, kinh tế địa phương phụ thuộc vào sự hiện diện của quân đội Mỹ. Là chủ một tiệm tạp hóa nhỏ của gia đình đã hoạt động từ những năm 1950, Katrin Kredle kể lại : ‘Một trong những người lính Mỹ đầu tiên đến mua hàng của bà ngoại tôi là danh ca Elvis Presley. Khi đang nhập ngũ, anh đến đây mua chuối. Bà tôi rất tự hào được phục vụ một khách hàng như anh. (…) Những người Mỹ đã hoàn toàn hòa nhập vào cuộc sống ở đây. Trẻ nhỏ đi học ở trường hay được gửi trong các nhà trẻ, chúng tham gia các câu lạc bóng đá, các hội đoàn hóa trang trong mùa lễ Carnaval… Rất nhiều người lấy vợ Đức, họ sống ở đây. Thậm chí ở lại hẳn một khi xuất ngũ ». Do vậy đối với cả thành phố này, thông báo Mỹ rút 5.000 quân khỏi nước Đức là một bất ngờ. Chỉ riêng căn cứ quân sự tại Vilseck mỗi năm đem về 700 triệu euro doanh thu cho chính quyền quyền đia phương. Valantis, 32 tuổi, vừa từ Anh Quốc đến đây mở một hiệu ăn, chủ yếu để phục vụ các thực khách Mỹ. Nhà hàng của ảnh chỉ cách căn cứ Rose Barracks vài trăm mét. Anh nói : ‘Chúng tôi đã thu xếp tất cả để phục vụ các quân nhân Mỹ, chiều theo khẩu vị của họ. Chúng tôi có món bánh mì kẹp thịt ba chỉ, sốt BBQ và thịt heo xé phay … Nếu người Mỹ bỏ đi thi mọi chuyện sẽ kết thúc. Nhà hàng phải đóng cửa. Tháng trước họ ra nước ngoài một tháng để tập luyện, lượng khách của chúng tôi lập tức giảm đi 70 %’ ».   Nói cách khác, chỉ cần Mỹ rút bớt quân khỏi Đức thì sẽ ảnh hưởng đến rất nhiều lĩnh vực kinh tế của người dân địa phương, không chỉ có doanh thu của giới tiểu thương, mà còn đến cả thị trường địa ốc của những thành phố như Stuttgart, hay Kaiserslautern …. cũng bị tác động lây. Việc làm của hàng ngàn, thậm chí hàng chục ngàn người tại những địa phương có căn cứ của Mỹ đều sẽ bị ảnh hưởng.  Một kế hoạch được báo trước  Thực ra từ cuối 2025 Nhà Trắng đã báo trước « rà soát lại toàn bộ và sẽ bố trí lại » sự hiện diện quân sự của Mỹ tại Châu Âu cũng như trên toàn thế giới. Cũng cuối năm ngoái Washington nêu lên khả năng giảm 1.000 quân đang đồn trú tại Rumani. Ngoài thông báo rút 5.000 lính Mỹ tại các căn cứ quân sự ở Đức, giữa tháng 5/2026, Lầu Năm Góc vào giờ chót đã hoãn lại chương trình triển khai 4.000 quân sáng Ba Lan. Theo giới quan sát được báo Le Monde trích dẫn, cho dù những thông báo từ phía chính quyền Trump gây hoang mang cho các đối tác châu Âu nhưng cho đến hiện tại Lầu Năm Góc vẫn duy trì khoảng 80.000 binh sĩ trên Lục Địa Già. ngay cả trong trường hợp giảm quân số, chỉ để thu hẹp hiện diện quân sự của Mỹ đang từ 80.000 xuống còn 76.000 lính thì « chính quyền Trump cần có sự chấp thuận của Quốc Hội ». Trên đài truyền hình Arte của Pháp và Đức, chuyên gia quân sự giảng dạy tại đại học Sorbonne Guillaume Lasconjarias nhắc lại, trước Donald Trump, tổng thống Barack Obama từ 2014 đã chủ trương giảm sự hiện diện quân sự của Mỹ tại châu Âu. Riêng trong giai đoạn 2022-2023, khi Nga đưa quân xâm chiếm Ukraina, nhất thời dưới chính quyền Biden, quân số Mỹ tại châu Âu được tăng lên tới 100.000. Tác động về an ninh Nghịch lý ở đây là vào lúc căng thẳng về địa chính trị tại nhiều nơi trên thế giới không ngừng gia tăng, không chỉ vì chiến tranh Iran và xung đột Ukraina, thì Hoa Kỳ lại thông báo các kế hoạch thu hẹp sự hiện diện quân sự. Về câu hỏi Mỹ giảm quân tại châu Âu sẽ dẫn tới những hệ quả nào về an ninh đối với lục địa này, chuyên gia về quân sự Jean- Baptiste Noé chủ nhiệm tạp chí chuyên đề Conflits lưu ý, ở châu Âu, Hoa Kỳ hiện có hơn 20 căn cứ quân sự thường trực, phần lớn tại các nước Tây Âu như Ý, Đức, Tây Ban Nha hay Anh Quốc … Bên cạnh đó, lính Mỹ được triển khai tại các căn cứ của các nước châu Âu mà chủ yếu là ở các quốc gia từng thuộc Liên Xô cũ. Trên đài truyền hình Arte nhà nghiên cứu Aurélien Duchêne thuộc cơ quan tư vấn Eurocréative, đặc trách các khu vực Trung và Đông Âu, giải thích vì sao Hoa Kỳ là quốc gia đã thiết lập một mạng lưới các căn cứ ở hải ngoại « dày đặc » tại châu Âu: « Các căn cứ quân sự của Mỹ ở hải ngoại đóng một vai trò kép : sự hiện diện của lĩnh Mỹ tại một quốc gia như Estonia không làm Matxcơva thay đổi chiến lược nếu Nga muốn xâm chiếm quốc gia vùng Baltic này, thế nhưng Điện Kremlin cũng phải cân nhắc rất kỹ khi biết rằng can thiệp vào Estonia nơi có các đơn vị của Mỹ đồn trú tức là sẽ đụng độ trực tiếp với Hoa Kỳ. Nói cách khác, các căn cứ của Mỹ trong trường hợp này là một công cụ răn đe. Bên cạnh đó các căn cứ quân sự của Hoa Kỳ tại châu Âu còn đóng vai trò hậu cần, là các trạm tiếp liệu … cho các chiến dịch ở ngoài lãnh thổ Mỹ, như trong trường hợp xung đột tại Trung Đông hiện nay (…) Căn cứ Ramstein tại Đức có thể ví như một ‘hàng không mẫu hạm’khổng lồ : đây là nơi có hai sân bay quân sự v

  2. Jul 28

    Các hãng xe hơi Trung Quốc ồ ạt chiếm lĩnh thị trường Anh

    Thị trường xe hơi và nay là xe điện (electric car-EV) của Anh có truyền thống bị quốc tế hóa từ lâu, với các tập đoàn Nhật, Hàn, Pháp, Đức và Trung Quốc. Nhưng gần đây, sự xuất hiện của xe Trung Quốc và xe nhãn hiệu châu Âu nhưng do công ty Trung Quốc đầu tư sản xuất trở thành hiện tượng nổi bật. Các dòng xe Trung Quốc vào Anh tăng nhanh tới mức nào và tại sao người Anh ưa chuộng xe Trung Quốc? Theo các tạp chí chuyên ngành, từ năm 2024 đến hết 2025, xe hơi mới do Trung Quốc sản xuất đăng ký sử dụng ở Anh đã tăng gần gấp đôi, từ 100 nghìn xe lên gần 200 nghìn, chiếm khoảng 10% xe hơi đăng ký mới ở Anh (2 triệu xe). Điều đáng nói là số bán rất ngoạn mục thể hiện ba điều đặc biệt. Một là các nhãn hiệu xe Trung Quốc từ chỗ mấy năm trước không ai biết đến mà nay đã rất phổ biến. Các tạp chí xe, chương trình TV, mạng xã hội đều tham gia quảng cáo xe Trung Quốc rất mạnh. Thứ hai là xe Trung Quốc rất đa dạng về chủng loại, về nhãn hiệu chứ không phải chỉ có vài loại từ một nước. Ví dụ như Pháp thường bán sang Anh xe Peugeot, Renault, Nhật thì có Nissan, Toyota, Mazda...Xe Trung Quốc ngay lập tức có ít nhất hơn 10 loại, từ các tập đoàn khác nhau. Thứ ba là Trung Quốc dẫn đầu về số xe điện EV đăng ký ở Anh. Nếu tính xe Trung Quốc và cả các dòng xe châu Âu nhưng thực tế là sản xuất, lắp ráp, đặt pin ở Trung Quốc, thì tới 27,9% xe EV bán ở Anh là đến từ Trung Quốc. Cụ thể hơn, các dòng xe Trung Quốc đang ồ ạ vào Anh là gì? Sức cạnh tranh là nhờ rẻ hơn xe các nước khác, hay có gì nổi trội nữa? Tạp chí xe Motorpoint nêu ra 26 nhãn hiệu xe Trung Quốc hàng đầu đã và sắp vào Anh (26 Chinese car brands coming for the UK market), trong đó có tới 18 nhãn hiệu đã được bán ở Anh. Nổi bật nhất là 4 loại xe: ·       Chery Tiggo 8: Được trang Carwow ở Anh bình chọn là Xe của Năm. Chiếc SUV gia đình hybrid cắm sạc (PHEV) này gây ấn tượng với khoang cabin cảm giác cao cấp, tính thực dụng và mức giá cạnh tranh. ·       MG4 EV: Được trang What Car? khen là xe điện nhỏ tốt nhất. Các chuyên gia đánh giá là lái ổn, giá rẻ và phạm vi dùng pin khá rộng. ·       BYD Dolphin Surf: Được Auto Express nhấn mạnh là một trong những xe điện đô thị hàng đầu, có cabin rộng rãi, trang thiết bị phong phú và giá khởi điểm chưa tới 19 nghìn bảng Anh. ·       Jaecoo 7: Từng bị phê phán trên các tạp chí xe hơi Anh, chiếc SUV gia đình dẻo dai này đã trở thành cơn sốt doanh số lớn ở Vương quốc Anh nhờ kiểu dáng sắc nét và khoang cabin công nghệ cao.. Ngoài ra còn Xpeng 6, Changan, SkyWell là các nhãn mác khác đang dần vào Anh... Xe TQ cạnh tranh tốt nhờ giá thấp, từ 3-5 nghìn bảng mỗi chiếc xe mới cùng hạng. Xin so sánh một chút: Những ai sử dụng một số đồ điện như nồi cơm điện của Xiaomi và đồng hồ điện tử của hãng này nên biết là Xiaomi cũng làm xe hơi động cơ điện và xe này sẽ tới Anh nay mai. Hàng điện tử, từ loa đài, điện thoại thông minh, đồ gia dụng Trung Quốc bán ở Anh đều rẻ hơn 10-15%, đôi khi 20% so với hàng châu Âu. Xe hơi và xe điện cũng vậy. Ví dụ, MG HS của TQ cạnh tranh đồng hạng với Kia Sportage, nhưng bán với giá rẻ hơn, từ 6 đến 8 nghìn bảng. Người Anh nay đã biết nền tảng cơ khí và công nghiệp Trung Quốc quá mạnh, nên một công ty làm điện thoại, đồng hồ cũng có thể chuyển sang làm ô-tô chỉ trong một vài năm. Người ta nói ở Trung Quốc sản xuất xe hơi nay như làm bánh mì vậy. Tại sao ngành ô-tô Trung Quốc chọn Anh? Lý do đầu tiên là thương chiến Mỹ-Trung và Liên Hiệp Châu Âu (EU)-Trung Quốc. Anh là nước duy nhất không áp thuế cao lên xe EV của Trung Quốc nên khi bán vào Anh, các hãng Trung Quốc có biên độ lợi nhuận khác hẳn với việc bán vào Hoa Kỳ và EU. Ví dụ, xe điện Trung Quốc bán vào EU chịu thuế nhập khẩu từ 7,8% tới 35,3% tùy phần trăm vật liệu và công nghệ, còn ở Anh thuế chỉ có 10%. Lý do thứ nhì là thị trường xe hơi Anh trên thực tế đã lọt vào tay các tập đoàn nước ngoài sau đợt tự do hóa từ mấy chục năm trước. Ở Anh, ngành xe hơi hiện có trị giá thị trường 100 tỷ bảng, tuyển dụng hơn 700 nghìn người, nên là một mũi nhọn của nền kinh tế, nhưng từ lâu nay đều là do các tập đoàn nước ngoài của Nhật, Đức và các nước khác đầu tư và sản xuất. Sự có mặt của các công ty Trung Quốc là chuyện bình thường. Chỉ có điều là họ vào quá nhanh và bán quá tốt. Lý do thứ ba,  các công ty Trung Quốc lâu nay đã mua lại các dòng xe châu Âu, như MG, Lotus của Anh hay Volvo của Thụy Điển. Tôi đi xe Volvo nên biết rằng Geely từ Chiết Giang  làm chủ hãng này, xe sản xuất ở Bỉ, lắp vô-lăng tay lái nghịch theo hệ của Anh để bán sang Anh. Chi tiết đó cho thấy tiền đầu tư của Trung Quốc đã có ở châu Âu, gồm Anh, nhiều năm rồi. Tới đây, Geely sẽ bán sang Anh các dòng xe Geely, Zeekr, Farizon, bên cạnh Polestar, Lotus, Smart, Volvo, LEVC đã có mặt. Ví dụ nữa, MG là tập đoàn truyền thống của Anh được công ty SAIC của Trung Quốc sở hữu và triển khai khá nhiều nhãn hiệu xe ở Anh. Điều đáng nói là một số tạp chí xe của Anh không coi MG là ‘xe Trung Quốc’ nữa mà xếp vào mục xe Made in the UK – Sản xuất tại Vương quốc Anh. Chiến lược tới đây của các tập đoàn xe Trung Quốc với nước Anh ? Thị trường Anh được cho là ‘phòng thí nghiệm’ cho công ty xe hơi và xe điện Trung Quốc. Ngoài lý do thuế quan thấp, các công ty xe hơi Trung Quốc có hai chiến lược thâm nhập thị trường Anh. Một là các nhà chế tạo xe ở Trung Quốc đã làm chủ các thương hiệu mạnh thì họ sẽ nhấn mạnh vào tính truyền thống, như thể họ đã làm một phần của văn hóa xe hơi ở Anh và châu Âu. Ví dụ MG bán xe theo phong cách Anh. Leapmotor, công ty khác của Trung Quốc, thì hợp tác với Stellantis và trình bày hình ảnh họ thuộc đại gia đình xe châu Âu gồm Vauxhall (ở Đức là Opel), Peugeot, Citroën, Fiat… để bán xe ‘quen thuộc’ với người Anh. Từ đó, họ sẽ bán xe sang các nước nói tiếng Anh, dựa vào dòng thông tin tiếng Anh toàn cầu. Đó là một phần của chiến lược marketing và giành thị phần toàn cầu mà Anh Quốc là mắt xích quan trọng. Hai là chiến lược của các dòng xe rất mới, tên khá lạ, từ Omoda tới BYD, Changan, Xiaomi, Chery, Skywell, GWM (Great Wall Motor-xe Trường Thành)...thì chọn hẳn tương lai của ngành xe điện, trình bày sản phẩm thuộc thế hệ mới, xe EV, plug-in hybrids, bán pin có thời gian chạy được lâu. Hiện nay, xe điện mới chiếm chưa tới 50% xe hơi mới bán ra ở Anh, nên tiềm năng của thị trường Anh còn rất lớn, nhờ chính sách thúc đẩy chuyển đổi năng lượng xanh của chính phủ. Các công ty TQ đang chờ sẵn. Có những ý kiến trái chiều nào về xe Trung Quốc ở Anh ? Có những bài bình luận nói một số loại xe EV của Trung Quốc khi trời lạnh, pin bị hao nhanh hơn mức được quảng cáo. Có loại xe bị chê là vỏ quá mỏng, sơn chưa đạt nên chóng hoen rỉ. Còn theo nhà báo Stuart Masson viết trên trang The Car Expert, nhiều xe mới của Trung Quốc bị chê là có quá nhiều màn hình (screen-heavy), màu sắc nhấp nháy, và thiếu ‘cảm giác châu Âu’ (European feel) khi lái. Vô-lăng xe có khi như là bộ phận đồ chơi điện tử. Xe Trung Quốc cũng nổi tiếng với nhiều tính năng giải trí bên trong, có các app, phần mềm và màn hình nhiều hơn so với xe châu Âu. Nhưng kiểu thiết kế đầy ắp các chức năng điện tử thế chưa chắc đã được người châu Âu thích. Vì thế, Trung Quốc sẽ thử bán ở Anh, thu thập ý kiến khách hàng để cải thiện sản phẩm. Chúng ta biết dân châu Âu đã có cả trăm năm chơi xe hơi nên cách lái, cách ứng xử trong xe là cả một bề dày văn hóa. Đó là thứ người Trung Quốc chưa làm được. Nhưng Masson viết, sau khi ông đi thăm các nhà máy xe ở Trung Quốc về, phía Trung Quốc hiểu điều này và học rất nhanh cách khắc phục những lỗi sản xuất. Với họ, việc đem vào Anh nhiều loại xe khác nhau, đáp ứng các nhu cầu khác nhau của người dân trong cuộc sống là cách ‘thí nghiệm’ để sau đó cải tiến và bán sang các nước nói tiếng Anh trên toàn cầu.

  3. Jul 21

    Anh Quốc gia nhập trở lại Liên Âu: Tiền đề, áp lực và viễn cảnh xa vời

    Tháng 5/2025, một số nhân vật trong Đảng Lao động cầm quyền ở Anh công khai thách thức thủ tướng Kier Starmer. Ra tranh chức lãnh đạo đảng, cả cựu Bộ trưởng Y tế Wes Streeting và thị trưởng Manchester Andy Burnham đều công khai ủng hộ xu thế quay lại Liên Âu (EU). Mười năm sau Brexit, một xu thế mới đang trỗi dậy trong xã hội Anh, đó là tìm cách quay trở lại mái nhà chung châu Âu, hoặc ít nhất là xích lại gần thị trường Liên Âu để giảm bớt thiệt hại kinh tế. Nhưng điều này khả thi tới đâu và Anh Quốc đang đối mặt với thực tế như thế nào để tái thiết quan hệ với EU? Từ Luân Đôn, thông tín viên Nguyễn Giang giải đáp một số câu hỏi. RFI : Câu hỏi đầu tiên, Nguyễn Giang có thể cho biết vì sao chủ đề 'quay trở lại Liên Hiệp Châu Âu' lại nổi lên ngay lúc này trong nội bộ Đảng Lao động Anh? Nguyễn Giang : "Vâng, đúng ra thì câu chuyện này không xuất hiện đột ngột. Nó tích tụ dần từ áp lực kinh tế nhiều năm qua. Kể từ sau khi hiệp định Brexit có hiệu lực năm 2020, tăng trưởng GDP của Anh tụt hẳn và dai dẳng ở mức thấp. GDP của Anh chỉ tăng 1,1% năm 2024 và 1,3% năm 2025, thấp hơn mức dự báo chính thức là 1,5%. Trong khi đó, các ngành xuất khẩu, nông nghiệp, dược phẩm và công nghệ đều cảm nhận rõ sức nặng của rào cản thương mại mới với châu Âu, khối kinh tế lớn hàng đầu thế giới ngay bên cạnh Anh. Đây chính là mảnh đất màu mỡ cho luận điểm "Brexit là sai lầm" bắt rễ trở lại. Khi ông Kier Starmer bị mất uy tín vì vụ Peter Mandelson, các nhân vật muốn thay ông trong đảng Lao động đều đã nêu ra khẩu hiệu quay lại EU, vì họ đánh vào tâm lý cử tri thấy Brexit gây hại cho kinh tế nhiều. Họ đề xuất một “liệu pháp” là quay lại, hoặc kết nối lại với EU được chừng nào hay chừng đó". RFI: Như vậy, có phải chỉ có các nhân vật quan trọng trong Đảng Lao động tranh cãi nhau về Brexit và muốn đảo ngược vụ ly hôn với Liên Hiệp Châu Âu vì lý do kinh tế? Nguyễn Giang : "Thực ra không hẳn. Nếu xét riêng tỷ lệ ủng hộ gia nhập lại EU một cách toàn diện, cử tri của đảng Dân chủ Tự do (Lib Dem) và đảng Xanh còn có con số cao hơn so với cử tri Lao Động. Điều này phản ánh một thực tế phức tạp hơn: liên minh cử tri của Lao Động vừa gồm những người trẻ thành thị ủng hộ châu Âu, vừa gồm những cử tri ở khu vực có tên là 'Bức Tường Đỏ’ (Red Wall), tức là các địa hạt nghèo, đa số thiên tả trong cộng đồng đông người Anh bản địa (da trắng), ở phía Tây Bắc xứ Anh, từng bỏ phiếu Brexit vì thất vọng về kinh tế. Gần đây chính họ lại quay lại ủng hộ xu thế đảo ngược Brexit.  Các hạn chế đi lại, cấm định cư ở châu Âu cũng khiến hàng triệu người dân Anh thấy khổ sở. Bản thân chúng tôi mỗi khi lái xe sang Pháp là phải chờ kiểm tra giấy tờ lâu hơn. Đi nghỉ hè đôi khi trở nên cực nhọc. Đây là những điều khi Anh còn ở trong EU là chuyện không phải nghĩ tới. Nhưng điều đáng chú ý là trong nội bộ đảng cầm quyền ở Anh hiện nay— tức những người thực sự nắm thẻ đảng — sự ủng hộ gia nhập lại EU lại rất mạnh. Một cuộc thăm dò do Survation thực hiện cho trang LabourList tiết lộ rằng tới 65% đảng viên Lao Động muốn đảng này nêu ra cam kết gia nhập lại EU trong cuộc bầu cử tiếp theo, trong khi chỉ 24% phản đối". RFI: Xin anh nhắc lại một chút về quan điểm các chính trị gia hàng đầu trong đảng Lao động, gồm cả các ứng viên hàng đầu muốn thay thế thủ tướng Starmer về Brexit và Liên Âu. Nguyễn Giang : "Đây là điểm nóng nhất của cuộc tranh luận hiện tại. Ba gương mặt nổi bật nhất đang có ba lập trường khác nhau tuy cùng hướng về Liên Âu. Ông Sadiq Khan, thị trưởng Luân Đôn, là người lên tiếng sớm và thẳng thắn nhất. Ông kêu gọi Anh tái gia nhập cả Liên minh thuế quan lẫn Thị trường chung trước cuộc bầu cử 2029, và sau đó đưa cam kết gia nhập lại EU đầy đủ vào cương lĩnh tranh cử. Ông Khan tuyên bố việc gia nhập lại là "không thể tránh khỏi" và cho rằng Luân Đôn đã chịu thiệt hại "về kinh tế, xã hội và văn hoá" vì Brexit. Xin nhắc ông Khan không ra tranh chức thủ tướng Anh mà chỉ muốn tái tranh cử chức đô trưởng Luân Đôn, một vị trí đầy quyền lực. Ông Wes Streeting, cựu bộ trưởng Y tế, tuyên bố rằng "rời EU là một sai lầm thảm khốc" khiến nước Anh "giảm sự giàu có hơn trước, kém ảnh hưởng hơn và kém tự chủ hơn so với bất kỳ thời điểm nào trước Cách mạng Công nghiệp." Ông khẳng định Anh "không thể tiếp tục im lặng" và cần "một mối quan hệ đặc biệt mới với EU, vì tương lai của Anh gắn liền với châu Âu và một ngày nào đó sẽ quay trở lại EU." Xin  nhắc là Streeting chỉ mới 43 tuổi, nên có vẻ như quan điểm của ông phản ánh suy nghĩ của thế hệ chính trị gia trẻ, sẽ quyết định tương lai Anh Quốc.  Còn ông Andy Burnham, thị trưởng Manchester và ứng viên được kỳ vọng nhiều để lên làm thủ tướng Anh thay ông Keir Starmer, thì có lập trường thận trọng hơn. Dù ông thừa nhận Brexit "đã gây thiệt hại", nhưng ông tôn trọng quyết định "đã được đưa ra trong cuộc trưng cầu dân ý Brexit năm 2016" RFI: Trong tình hình này, chính phủ của thủ tướng Keir Starmer hiện đang theo đuổi đường lối gì thưa anh? Nguyễn Giang : "Chính phủ của ông Starmer một mặt thừa nhận “sự tổn hại cho kinh tế Anh do Brexit gây ra”, mặt khác vẫn giữ một ranh giới cứng. Tức là Anh sẽ không gia nhập lại Thị trường chung, không vào Liên minh thuế quan EU, không khôi phục tự do đi lại. Thay vào đó, họ theo đuổi chiến lược "reset" (tái thiết lập quan hệ), tức là đàm phán từng thoả thuận theo từng lĩnh vực cụ thể, đủ gần để xóa bớt rào cản thương mại, nhưng không đủ xa để bị quy là "tái Brexit." Tại hội nghị thượng đỉnh Anh–EU tháng 5/2025, hai bên đã ký kết một Hiệp ước An ninh và Quốc phòng, đồng thời mở đàm phán về 5 lĩnh vực. Tài liệu của Nghị viện Anh tháng 5 cho biết cụ thể đây là các mảng hai bên đã và đang đàm phán: Nông nghiệp và thực phẩm: Thoả thuận SPS, thống nhất tiêu chuẩn kiểm dịch động thực vật để nông sản và thực phẩm xuất khẩu sang EU, sẽ làm giảm đáng kể chi phí kiểm tra biên giới. Hàng EU nhập vào Anh cũng có thể rẻ đi cho người tiêu dùng. Năng lượng: Liên kết thị trường điện năng EU–Anh có thể giúp ổn định giá điện và tăng hiệu quả giao dịch năng lượng xuyên biên giới, một lợi ích thiết thực cho cả doanh nghiệp lẫn người tiêu dùng. Quốc phòng: Thoả thuận về quỹ SAFE của EU mở cơ hội cho doanh nghiệp quốc phòng Anh tham gia các dự án mua sắm chung của châu Âu, qua đó tăng năng lực sản xuất và lấp đầy khoảng trống năng lực quân sự. Khoa học và giáo dục: Việc tái gia nhập Erasmus+ và duy trì tham gia chương trình nghiên cứu Horizon củng cố vị thế của Anh trong hệ sinh thái nghiên cứu châu Âu. Công nghệ và đổi mới: Năm 2026, Anh và EU đã bắt đầu đàm phán về khả năng Anh tham gia Quỹ Hội đồng Đổi mới Sáng tạo châu Âu — bao gồm cả Quỹ Scale-up Europe — hướng tới hỗ trợ các doanh nghiệp công nghệ tăng trưởng nhanh." RFI: Các thỏa thuận từng lĩnh vực này đem lại lợi ích kinh tế cụ thể gì cho Anh? Nguyễn Giang : "Các ước tính khả quan nhất cho rằng chương trình tương thích các lĩnh vực kinh tế Anh với EU đến năm 2030, nếu làm tốt, có thể đem lại cho kinh tế Anh mỗi năm thêm 26 tỷ tới 50 tỷ bảng, tương đương 1,7% đến 2,2% tăng trưởng GDP. Nếu được như thế thì cũng rất tốt vì kinh tế Anh nay chỉ tăng trưởng ở mức trên dưới 1%. Cộng vào thêm 2% nữa thì ta có một bức tranh kinh tế không hề tệ cho Anh quốc". RFI: Nhưng vì sao hai bên không thể đẩy nhanh hơn đàm phán để Anh đạt tiến triển nhanh chóng trong quan hệ kinh tế kiểu mới với Liên Âu? Nguyễn Giang : "Người Anh đã hiểu là Liên minh châu Âu trước hết là một khối thương mại lớn, có sức mạnh vì tầm vóc thị trường của họ, nên họ chơi cứng với Anh và chơi rất thực dụng. Mỗi mỗi bước xích lại thị trường EU bằng một chính sách “tương thích” đều kèm theo một hoá đơn tiền tỷ mà Anh  phải trả. Nói ngắn gọi thì Anh ph

  4. Jul 14

    Anh Quốc và chiến lược lấy trí tuệ nhân tạo làm bàn đạp tăng trưởng

    Một năm trước, trong diễn văn khai mạc Tuần lễ Công nghệ Luân Đôn (London Tech Week 09-13/06/2025), thủ tướng Anh Keir Starmer đã nêu ra chiến lược lấy việc phát triển trí tuệ nhân tạo AI làm bàn đạp thúc đẩy tăng trưởng kinh tế giai đoạn 2025-2030. Sau một năm lên kế hoạch, với khoản đầu tư gần 100 tỷ bảng vào các trung tâm dữ liệu, vào y tế và giáo dục, ngành AI của Anh đã đạt được tiến bộ gì và giúp cho tăng trưởng kinh tế tới đâu? Thông tín viên Nguyễn Giang từ Luân Đôn giải thích: Anh Quốc đánh cược vào AI RFI : Đầu tiên, xin Nguyễn Giang nói về việc triển khai chiến lược AI của Vương quốc Anh?   Nguyễn Giang : Quan sát những gì Anh quốc đã và đang làm hơn một năm qua, tôi thấy họ đặt trọng tâm của kế hoạch phát triển AI vào các Khu vực Tăng trưởng Ai, tức AI Growth Zones, gọi tắt là AHGZ, với ba mục tiêu: hỗ trợ tăng trưởng kinh tế, tạo đột phá công nghệ và cân bằng, kết nối các vùng miền của Vương quốc Anh. Mô hình AI Growth Zones (Khu vực Tăng trưởng AI) tạo ra các cụm siêu trung tâm dữ liệu (hyperscale data centres) và điện toán hiệu năng cao. Chính phủ Anh đã phê duyệt hàng loạt khu vực trọng điểm ở hạt Oxfordshire (Culham - trung tâm đầu tiên), Đông Bắc Anh (Blyth & North Tyneside), xứ Wales (Wylfa) và gần đây nhất là Scotland (khu vực Lanarkshire - tháng 1/2026). Họ chia ra để mọi khu vực địa lý chính của Vương quốc Anh đều có cơ hội tiếp cận AI.  Khu quan trọng nhất là hành lang công nghệ Oxford-Cambridge (thực tế là cùng Luân Đôn lập ra một Tam giác High-Tech). Xin nhắc là từ Luân Đôn tới Cambridge và Oxford khoảng cách chỉ chừng hơn 100 km. Các đại học lớn, kể cả phòng thí nghiệm nguyên tử quan trọng nhất của Anh (Arbington), cũng nằm trong tam giác này. Điều này giảm được chi phí giao thông, hút được nguồn nhân lực chất lượng cao và tạo điều kiện cho việc kết nối băng thông cho hệ thống điện toán. Nhưng Anh cũng lập các vùng AI Growth Zone ở cả Wales, miền bắc Anh và Scotland là có ý duy trì nhiều động cơ kinh tế cho các vùng đất kia. RFI: Cho tới nay thì các khoản đầu tư được khu vực tư nhân đăng ký vào các khu vực tăng trưởng AI này là bao nhiêu? Nguyễn Giang : Mục tiêu chung là phải đạt tới 100 tỷ bảng Anh đầu tư từ khối tư nhân vào hạ tầng AI thông qua cơ chế này. Ở vùng Đông Bắc (North East AIGZ), quỹ đầu tư Blackstone đã cam kết bỏ ra10 tỷ bảng Anh để xây dựng trung tâm dữ liệu tại Blyth, đồng thời mở đường cho 20 tỷ bảng bổ sung từ các đối tác khác. Chính phủ Anh cũng trực tiếp chi ngân sách tài trợ ban đầu hơn 2,5 tỷ bảng để kích hoạt hệ thống điện toán quốc gia. Điều đáng chú ý là phần cam kết từ cả hai phía. Về phía mình, chính phủ Anh cam kết giá điện đặc biệt cho data centre tại các vùng có thặng dư năng lượng (ví dụ: giảm từ 14 đến 24 bảng/MWh tùy khu vực, tiết kiệm tới 80 triệu bảng/năm cho một trung tâm 500MW). Để đẩy nhanh tiến độ thiết kế các trung tâm dữ liệu, họ ưu tiên đưa chúng vào danh mục Hạ tầng Quốc gia Trọng yếu (Critical National Infrastructure - CNI), cho phép rút ngắn thời gian chờ đấu nối vào lưới điện quốc gia lên đến 5 năm và cắt giảm quy trình phê duyệt quy hoạch từ 18 tháng xuống còn 12 tháng. Còn về phía các nhà đầu tư cùng đối tác ở địa phương thì họ tìm cách bố trí quỹ đất tối thiểu 100 mẫu Anh (acres) đã được dọn sẵn hoặc đủ tiêu chuẩn sẵn sàng xây dựng trước 2028, cam kết tạo ra hàng nghìn việc làm chất lượng cao (như vùng North East cam kết tạo 5.000 việc làm), và phối hợp với các đại học địa phương (Newcastle, Durham...) xây dựng chương trình đào tạo nhân lực AI. Họ cam kết sẽ kết nối với các đại học địa phương. Hiện đang làm nghiên cứu trong một đại học ở Luân Đôn và đã dự nhiều khóa học, hội thảo, tôi thấy một xu hướng rõ rệt: các đại học Anh đang xóa bỏ, thậm chí đóng nhiều khoa ở các trường khắp cả nước trong các bộ môn khoa học xã hội, nghệ thuật, ngôn ngữ, nhưng lại đang mở rất nhiều khóa, ngành liên quan đến trí tuệ nhân tạo, từ mảng nghiên cứu, phát triển công nghệ tới ứng dụng Ai trong đủ mọi lĩnh vực. Xem ra đây là tương lai mới cho giáo dục đại học. RFI: Một câu chuyện nhiều nước nói tới là các trung tâm dữ liệu tiêu thụ điện năng rất lớn. Vậy ở Anh, nguồn năng lượng điện đến từ đâu? Có nằm cạnh nhà máy điện hạt nhân? Nguyễn Giang : Đúng thế, năng lượng là "nút thắt" lớn nhất của hạ tầng AI, và chiến lược của Anh là áp sát nguồn phát năng lượng sạch quy mô lớn, nhưng không chỉ giới hạn ở điện hạt nhân. Điện nguyên tử không phải tất cả, nhưng đây là một trục xương sống cho AI. Ví dụ điển hình nhất là North Wales AI Growth Zone, nơi được thiết kế cặp đôi chiến lược (strategically paired) nằm ngay cạnh dự án Lò phản ứng mô-đun nhỏ (SMR) đầu tiên của Anh tại Wylfa. Sự kết hợp này nhằm cung cấp nguồn điện tải nền (baseload) cực kỳ ổn định và khổng lồ cho các cụm chip AI mà không làm quá tải lưới điện dân dụng. Ngoài ra thì tại vùng North East (Blyth), các trung tâm dữ liệu dùng nguồn điện đến từ các trạm tiếp bờ của điện gió ngoài khơi lớn nhất thế giới ở Biển Bắc (North Sea) và mua cả năng lượng qua cáp ngầm kết nối thủy điện từ Na Uy. Tại Scotland, họ tận dụng nguồn năng lượng tái tạo thặng dư (gió và thủy điện) vốn thường bị nghẽn, không thể truyền tải về miền Nam. Các báo Anh gần đây hay đăng các câu chuyện thú vị như nhà nông nào đó ở vùng quê bán trang trại, lò sản xuất bánh mì, trạm xay bột cho công ty Ai để xây data centre. Theo một điều tra của nhà báo Henry Mawhood cho trang báo nghề cá ở Anh thì thực ra câu chuyện không đơn giản như vậy nhưng đúng là các vùng ven biển phía Tây đảo Anh, từ Weston-Super-Mare tới Cumbria (England), rồi miền Nam xứ Wales và duyên hải Đông Bắc Scotland, người ta đang có kế hoạch xây hai thứ: các nhà máy điện nguyên tử mini, các trạm nhận điện qua cáp ngầm từ Bắc Âu (Na Uy) và các trạm đón tuyến cáp truyền dữ liệu xuyên Đại Tây Dương, nối Anh với Hoa Kỳ. Vì thế, đúng là có những nơi nhà nông được mời chào bán lại các miếng đất, nhà xưởng, ít nhất với diện tích 1-2 trăm mét vuông, để chứa data centre. Trong tháng 6 năm nay, có câu chuyện mang tính biểu tượng ở Anh. Thủ tướng Kier Starmer đã thăm một nhà máy xà phòng cũ có 130 năm tuổi ở Warrington, hạt Cheshire, để dự lễ khai trương dự án trung tâm dữ  liệu. Tức là họ biến một điểm công nghiệp rất là cũ thành trung tâm dữ liệu, dùng nguồn điện, nước có sẵn.  RFI: Theo anh, công suất cho điện dùng vào trí tuệ nhân tạo ở Anh có đủ không? Nguyễn Giang : Theo các báo chuyên ngành đánh giá thì điện ở Anh, gồm cả điện nguyên tử, hiện tại là đủ cho lộ trình giai đoạn 1 nhờ chiến lược phân bổ vùng. Ví dụ, riêng trung tâm dữ liệu AI tại Blyth đang tăng tốc để đạt công suất 1,1 GW (Gigawatt) trong vòng 6 năm tới, biến nó thành một trong những cụm dữ liệu lớn nhất châu Âu. Bằng cách đặt data centre tại nơi "nguồn phát" dư thừa, Anh giải quyết được bài toán tổn thất truyền tải và giá điện cao. RFI: Cho tới nay, việc sử dụng AI trong y tế, tài chính và giáo dục tại Anh ra sao? Nguyễn Giang : Theo chỉ số tâm lý AI (EY AI Sentiment Index) tính đến giữa năm 2026, bức tranh ứng dụng của Anh như sau: Trong Dịch vụ Sức khỏe Quốc gia (NHS- tức Y tế công) thì kế hoạch 10 năm của Anh đã đưa AI từ giai đoạn thí điểm sang tích dợp hệ thống toàn diện. AI hiện là "trợ lý số" bắt buộc ở nhiều khâu: các công cụ "Ambient Scribing" (AI ghi âm cuộc thoại bác sĩ - bệnh nhân tự động chuyển thành hồ sơ bệnh án) phổ cập mạnh mẽ; ứng dụng NHS App tích hợp AI thành cổng sàng lọc bệnh tự động. Đặc biệt, Bộ Y tế Anh vừa tung ra mô hình "MHRA AI Airlock / Sandbox" (tháng 6/2026) để thử nghiệm AI trong việc dự đoán tác dụng phụ của thuốc, giúp NHS giảm bớt gánh nặng chi phí 2 tỷ bảng/năm do phản ứng ngược của thuốc gây ra. Mạnh và sâu hơn là ứng dụng trong tài chính dùng công nghệ số (fintech). Trên thực tế thì tỷ lệ ứng dụng AI ở Anh trong ngành này đã đ

  5. Jul 7

    Đô la Mỹ, bàn đạp cho công nghệ Trung Quốc phát triển

    Sau khi « mượn » đô la trong tay các quỹ đầu tư Mỹ làm bệ phóng cho các công ty khởi nghiệp để phát triển công nghệ, Trung Quốc « qua cầu rút ván », áp dụng chính sách bảo hộ để kiểm soát những lĩnh vực mũi nhọn chiến lược. Bắc Kinh không chỉ giỏi đánh cắp bí quyết công nghiệp và công nghệ của Hoa Kỳ mà còn sao chép cả những công cụ pháp lý của Washington để giành lấy thế thượng phong.  Vụ Bắc Kinh hủy thương vụ của đại tập đoàn công nghệ Mỹ Meta mua lại Manus, một công ty khởi nghiệp rất có triển vọng trong công nghệ trí tuệ nhân tạo của Trung Quốc là trường hợp tiêu biểu, để lộ rõ những nước cờ của Trung Quốc.  RFI Việt ngữ mời chuyên gia về luật tài chính, nhà nghiên cứu về Trung Quốc Isabelle Feng, phó chủ tịch trung tâm nghiên cứu Á Châu Asia Centre, Paris, phân tích về chiến lược phát triển công nghệ cao của Bắc Kinh, về những tính toán của Trung Quốc trong cuộc tranh hùng với Mỹ trên mặt trận high tech và trí tuệ nhân tạo.   Một tháng sau khi công bố những biện pháp giới hạn đầu tư của các doanh nghiệp Trung Quốc ở hải ngoại, Bắc Kinh kể từ ngày 01/07/2026 có quyền hủy một chương trình hợp tác giữa một nhà đầu tư nước ngoài với một công ty Trung Quốc, nếu như dự án đó bị coi là « nhạy cảm » và « đe doạ đến an ninh quốc gia ». Giống như Hoa Kỳ, Trung Quốc cũng viện lý do « an ninh quốc gia » để siết chặt kiểm soát các dự án đầu tư ra nước ngoài, đặc biệt là trong các lĩnh vực trí tuệ nhân tạo (AI), công nghệ bán dẫn hay những công nghệ xanh. Luật chơi mới cho phép các giới chức Trung Quốc « kiểm soát lưu lượng vốn và cả các nguồn lực lao động ». Hai tháng trước khi quy định mới của Trung Quốc giới hạn đầu tư ra nước ngoài có hiệu lực, Meta và Manus đã là những nạn nhân đầu tiên của chính sách này. Cuối tháng Tư vừa qua, vài tuần trước khi tổng thống Hoa Kỳ Donald Trump đến Bắc Kinh và vào lúc thế giới tập trung vào chiến tranh Trung Đông, vào eo biển Hormuz bị Iran phong tỏa, vào nguy cơ nổ ra một cuộc khủng hoảng dầu hỏa và năng tượng toàn cầu, thì tại Bắc Kinh, cơ quan chức năng đã hủy một thương vụ vốn đã hoàn tất gần nửa năm trước đó giữa tập đoàn công nghệ Meta của Hoa Kỳ và Manus đang hoạt động tại Singapore. Một công ty khởi nghiệp và « gã khổng lồ » Meta Manus hiện được coi là con chim đầu đàn về trí tuệ thông minh, trụ sở ban đầu đặt tại Vũ Hán. Nhưng để có thể thu hút đầu tư của Mỹ và cũng là để lách luật COINS Act 2025 của Hoa Kỳ ( Luật cho phép Hoa Kỳ kiểm soát các khoản đầu tư của doanh nghiệp và nhà đầu tư Mỹ ra nước ngoài, đặc biệt là vào các lĩnh vực công nghệ nhạy cảm ở các « quốc gia đáng quan ngại » như Trung Quốc), hai sáng lập viên đã ngừng hoạt động tại Hoa Lục, sang Singapore hành nghề, dưới danh nghĩa là một công ty khởi nghiệp Singapore. Điều đó không cấm cản các sáng lập viên của Manus bị triệu tập về Trung Quốc và bị cấm rời khỏi Hoa Lục, trong khi đợi « kết quả điều tra ». Bắc Kinh đang điều tra xem việc Manus bị đại tập đoàn công nghệ Mỹ Meta mua lại có là một mối đe dọa đối với an ninh quốc gia hay không. Vì sao quyết định hủy thương vụ Manus bán cho Meta lại là một trường hợp tiêu biểu cho cuộc chiến Mỹ- Trung và đâu là những bài học có thể rút ra từ vụ này về chính sách đầu tư của Bắc Kinh, về cung cách hoạt động của Trung Quốc về tiến trình khởi nghiệp và cất cánh của các công ty Trung Quốc trong lĩnh vực công nghệ ? Trung Quốc mượn vốn của Mỹ để phát triển RFI : Thân chào Isabelle Feng, báo chí Mỹ như Wall Street Journal hay Bloomberg, New York Times đã chú ý nhiều đến cuộc « liên hôn » ngắn ngủi giữa Meta, công ty mẹ của những Facebook, Whatsapp, Intagram với Manus, một công ty khởi nghiệp ban đầu là từ Vũ Hán. Manus phát triển AI thế hệ mới, với những chức năng như là dùng AI để mua vé xe lửa hay tìm nhà cho thuê … Meta đã chi ra 2 tỷ đô la để thâu tóm Manus. Thủ tục sáp nhập này đã hoàn tất vào cuối năm 2025 và đôi bên đã chính thức hợp tác với nhau từ đó đến nay. Cho dù Manus đang hoạt động với danh nghĩa một công ty Singapore, Trung Quốc vẫn có thẩm quyền hủy giao dịch giữa Meta và Manus. Chúng ta có thể thấy gì từ trường hợp này ?   Isabelle Feng : « Nghiên cứu từ nhiều năm nay về trường hợp của Meta và Manus, tôi có những nhận xét như sau : Manus cũng như rất nhiều các hãng công nghệ khác của Trung Quốc khởi nghiệp nhờ vốn đầu tư của tư nhân bởi vì họ không được nhà nước tài trợ, không được các ngân hàng nhà nước giúp đỡ. Vốn của tư nhân ở đây chủ yếu là vốn từ các tổ hợp đầu tư liên doanh. Cho đến năm 2020, phần lớn những tổ hợp liên doanh này có vốn của Mỹ. Trong trường hợp của tập đoàn ô tô điện Trung Quốc BYD chẳng hạn, ban đầu họ đã phát triển nhờ vốn của một quỹ mang tên là Wang Chuanfu  nhưng đến năm 2008 thì bắt đầu mở cửa cho các nhà đầu tư nước ngoài dưới dạng một joint venture. Tương tự như vậy, từ Tencent, Alibaba đến ByteDance… cũng đã khởi nghiệp với vốn của các quỹ đầu tư ngoại quốc, trong đó có vốn của các nhà đầu tư Mỹ. Nhưng đến khi những công ty khởi nghiệp đó thành công, các cổ đông bán lại cổ phần để thu lại vốn. Khi đó đến lượt các ngân hàng của nhà nước Trung Quốc can thiệp. Alibaba năm 2014 tham gia sàn chứng khoán Hoa Kỳ, nhưng kỳ thực thì ngay cả ông khổng lồ này cũng do nhà nước Trung Quốc kiểm soát ». RFI : Nói cách khác, công nghệ của Trung Quốc cất cánh một phần cũng nhờ các quỹ đầu tư của Hoa Kỳ. Bản chất các nhà đầu tư là bỏ vốn vào những thị trường, những lĩnh vực dễ sinh lời, có mức lãi cao và chóng thu hồi vốn. Riêng Manus thì đã được thành lập trong bối cảnh mà Mỹ và Trung Quốc đã lao vào một cuộc chiến thương mại, và nhất là công nghệ. Isabelle Feng : « Manus là một ca rất thú vị : Được 2 kỹ sư sáng lập năm 2022, trụ sở tại Vũ Hán. Đó cũng là thời điểm quan hệ Mỹ và Trung Quốc đã xấu đi. Cho nên Manus chỉ có thể trông cậy vào vốn đầu tư của tư nhân Trung Quốc. Nhưng rồi để nhanh chóng phát triển, Manus cần vốn của cả các tổ hợp liên doanh tức là phải có vốn của nước ngoài -trong lĩnh vực AI, mỗi dự án đầu tư cần cả tỷ đô la. Chúng ta biết nguồn vốn mạnh nhất là từ Mỹ. Washington nhân danh an ninh quốc gia đã cấm các nhà đầu tư Hoa Kỳ bỏ vốn vào những lĩnh vực nhạy cảm của Trung Quốc. Để lách điều khoản này, Manus trong một sớm một chiều đã đóng cửa cơ sở tại Vũ Hán để đăng ký hoạt động tại Singapore. Với danh nghĩa là một công ty khởi nghiệp của Singapore, Manus đã thu hút chú ý của các quỹ đầu tư – trong đó có Benchmark Capital. Qua Benchmark, Manus đã được Meta chú ý ». Sự "bất an" trong các công cụ pháp lý của Trung Quốc RFI : Phải chăng một trong những lý do khiến Manus bị Bắc Kinh chú ý đến là do công ty khởi nghiệp này đang nổi lên như diều gặp gió với công nghê AI thế hệ mới ? Trường hợp của Manus đã gây bất ngờ tương tự như hiệu ứng DeepSeek. Tháng 1/2026, một công ty còn ít được biết đến cho ra đời « phiên bản Trung Quốc của ChatGPT », được cho là « thông minh hơn » « gọn nhẹ hơn » « rẻ hơn » và « hiệu quả hơn » những công cụ của Mỹ. Chính vì thế mà Bắc Kinh muốn tránh để một công ty quý giá như Manus vào tay Hoa Kỳ Isabelle Feng : « Qua việc Bắc Kinh hủy thương vụ liên quan đến Meta và Manus, chúng ta có thể đưa ra những nhận xét như sau : Một là Trung Quốc muốn khẳng định các doanh nghiệp, các kỹ sư Trung Quốc bất luận hoạt động ở nơi nào đều vẫn thuộc quyền kiểm soát của chính quyền Trung Quốc. Nghịch lý ở đây là Trung Quốc đang rất cần thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, nhưng khi hủy hợp đồng của tập đoàn Mỹ Meta mua lại Manus rõ ràng là họ đang khẳng định chỉ có Bắc

  6. Jun 30

    Nắng nóng, hiện tượng thời tiết cực đoan : Thêm một nguy cơ đe dọa tăng trưởng của Pháp

    Thêm một trở ngại cho tăng trưởng của Pháp : Ngoài xung đột Ukraina và Iran đẩy giá nhiên liệu vật liệu và năng lượng lên cao ; Cạnh tranh về công nghiệp, về thương mại cả với Hoa Kỳ lẫn Trung Quốc, giờ đây là hiện tượng nắng nóng bất thường, thời tiết cực đoan có nguy cơ cướp đi 210 tỷ euro, tương đương với khoảng 7 % GDP, của Pháp trong giai đoạn 2026-2030.   Là một quốc gia trong vùng ôn đới, Pháp hiếm khi phải đối mặt với các đợt nắng nóng bất thường trước khi chính thức bước sang hè. Năm 2026 là một ngoại lệ, ngay từ tháng 5, tháng 6, Pháp đã trải qua hai đợt nắng nóng bất thường. Trong nhiều ngày liên tiếp, một phần lớn nước Pháp đã được đặt trong tình trạng báo động. Các sinh hoạt đều bị chựng lại. Theo một nghiên cứu của hãng bảo hiểm Allianz Trade, được công bố hôm 28/05/2026, nắng nóng khắc nghiệt tại Pháp và châu Âu đã trở thành một « rủi ro đe dọa tăng trưởng của khu vực này ». Là một đầu tàu kinh tế của Liên Hiệp Châu Âu, Pháp có nguy cơ mất 7 % GDP từ nay đến cuối 2030 chỉ vì các đợt nắng nóng càng lúc càng thường xuyên xảy ra và bị ngạt thở dưới những vòm trời oi bức, nhiệt độ dao động từ 35°C trở lên. Cũng theo nghiên cứu này, Pháp bị nặng hơn một số thành viên khác trong Liên Âu như Đức vì hai lý do : Hiện tượng cực đoan này thường xuyên xảy ra ở Pháp hơn là ở Đức, đồng thời cơ cấu kinh tế Pháp cũng dễ bị ảnh hưởng hơn bởi vì nông nghiệp, ngành xây dựng xây dựng, du lịch...là những điểm mạnh của kinh tế Pháp, nhưng cũng là những lĩnh vực dễ bị những điều kiện khí hậu tác động nhất, như giải thích của kinh tế gia Hazem Krichen, Allianz Trade. Nước Pháp hoạt động chậm lại Xavier Timbeau, giám đốc Đài Quan Sát về Tình Hình Kinh Tế Pháp OFCE bổ sung thêm vì sao dưới tác động nắng nóng bất thường, các hoạt động kinh tế đều đã « chậm lại » :   « Nắng nóng cao độ dẫn tới tình trạng hơi giống như thời kỳ nước Pháp bị phong tỏa để chống dịch Covid : Trường học phải đóng cửa, bố mẹ học sinh phải ở nhà trông con, phải làm việc từ nhà, nhiều chuyến xe lửa bị hủy, giao thông công cộng bị đình trệ, đi lại khó khăn trong cái nắng nóng cùng cực. Điều này làm giảm năng suất của người lao động. Bên cạnh đó thì nhiều lĩnh vực kinh tế bị tác động trực tiếp như trong ngành xây dựng, công nhân phải nghỉ việc vì trời quá nóng không thể đến các công trường. Các nhà máy điện lực trong tình trạng căng thẳng bởi vì cung bị giảm trong lúc nhu cầu tiêu thụ thì lại rất cao… Tất cả những yếu tố này cộng lại gây thêm những tốn kém cho các doanh nghiệp, cho tư nhân …. Năm 2003, do tác động từ đợt nắng nóng dài ngày, GDP của Pháp bị giảm mất 0,3 % ».   Vẫn theo thẩm định của hãng bảo hiểm Allianz Trade, với nhiệt độ hơn 30°C, năng suất lao động bắt đầu sụt giảm, đè nặng lên khả năng sinh lời của doanh nghiệp. Đầu tư qua đó cũng bị tác động lây. Trong hoàn cảnh đó, hệ quả kèm theo là giá cả bị đẩy lên cao. Pháp rất dễ lâm vào tình trạng « stagflation », tức là tăng trưởng chậm và phải đối mặt với lạm phát. Gánh nặng tài chính của chính phủ Đây cũng sẽ là một gánh nặng tài chính đối với chính phủ khi mà thuế thu vào cho ngân sách của nhà nước sa sút trong lúc các nhu cầu chi tiêu lại tăng thêm. Vẫn theo báo cáo của Allianz Trade, hiện tượng thời tiết cực đoan này đào sâu thêm thâm hụt ngân sách nhà nước. Thuế thu vào  có thể bị giảm từ 1,8 % đến 2,2 %. Song giới trong ngành nhìn nhận là rất khó thẩm định chính xác tác động từ các đợt nắng nóng đối với hoạt động kinh tế. Chỉ biết rằng so với những năm trước, hiện tượng nắng nóng diễn ra vào tháng 7 và tháng 8 khi mà một phần lớn dân Pháp đang nghỉ hè, tức là ít ảnh hưởng đến năng suất lao động và hai tháng hè cũng là thời điểm mà nhiều công trình xây dựng, nhà máy đóng cửa … Năm nay thì hai đợt nắng nóng đầu tiên diễn ra vào tháng 5 và 6 khi mà dân Pháp vẫn hoạt động bình thường và một số ngành nghề bất đắc dĩ phải cho nhân viên nghỉ việc trong những ngày nóng nhất. Hai nét đặc thù  Trở lại với câu hỏi vì sao Pháp lại là một trong những quốc gia bị hiện tượng nắng nóng tác động mạnh nhất, trong những ngày qua đã có nhiều nhà bình luận chỉ trích Pháp keo kiệt, lạc hậu không chịu trang bị máy điều hòa. Lập luận này không có sức thuyết phục giáo sư kinh tế trường Paris School of Business, Thomas Porcher như ông đã giải thích trên đài phát thanh France Inter hôm 26/06/2026: « Các công trình kiến trúc tại châu Âu được thiết kế để giữ nhiệt. Chính vì thế mà ở Pháp và châu Âu cho đến nay không được trang bị nhiều máy điều hòa. Khoảng một nửa các công trình xây dựng không được thiết kế để đối phó với hiện tượng nắng nóng. Các thành phố lớn đông dân cư lại càng bí bức, càng dễ bị ngộp thở. Các căn hộ ở dưới mái các tòa nhà cao tầng tích tụ hơi nóng và lại càng ngột ngạt hơn nữa. Thành thử cần phải có cải tạo các công trình từ nhà ở đến văn phòng, trường học… để thích nghi với hiện tượng nắng nóng ». Nếu như phải trang bị máy điều hòa cho tất cả các căn hộ ở Pháp thì sẽ tốn hết bao nhiêu và đó có thực sự là « chìa khóa » để đối phó với những đợt nắng nóng thường xảy ra hay không ? Nhà báo Dominique Seux phụ trách các mục kinh tế trên nhật báo Les Echos đưa ra những con số cụ thể để trả lời câu hỏi này: « Nếu phải trang bị máy điều hòa cho toàn bộ 10 triệu căn hộ, nhà riêng trên toàn quốc thì sẽ tốn khoảng 100 tỷ euro. Còn nếu phải cải tạo lại toàn bộ các cơ sở hạ tầng  y tế, giáo dục, công sở, nhà máy, hệ thống giao thông công cộng … thì cần khoảng 500 tỷ euro. Như đã biết ,tại Pháp cũng như châu Âu, các công trình xây dựng được thiết kế để tiết kiệm năng lượng, tức là hóa đơn điện vào mùa đông. Trước hiện tượng nắng nóng càng lúc càng thường xuyên hơn, khắc nghiệt hơn và mỗi đợt nóng có khuynh hướng kéo dài, bắt buộc phải tìm những giải pháp khác để thích nghi. Đương nhiên trang bị máy điều hòa chỉ cho phép làm hạ nhiệt tình hình nhưng không giải quyết được gì nhiều. Còn lại là những khả năng như là cải tạo lại kiến trúc của các căn hộ, điều chỉnh lại giờ giấc làm việc thường ngày để tránh nắng nóng ; trồng thêm cây xanh trên đường phố, trên các mái nhà hay trên tường của những khu chung cư và văn phòng. Theo thẩm định của cơ quan tư vấn Carbone 4, xanh hóa môi trường cho thành phố đòi hỏi 14 tỷ euro từ nay cho đến năm 2050. So với 100 tỷ hay 500 tỷ euro như vừa nêu, số tiền này quả thực là không quá lớn ».   Cứu môi trường vị lợi ích kinh tế Trong nghiên cứu hôm 28/05/2026, Allianz Trade khuyến khích Paris đẩy mạnh tiến trình « chuyển đổi công nghệ » làm « xanh hóa môi trường ». Vào lúc mà tình trạng ngân sách của Pháp đã khá « tồi tệ », nợ công lên tới 115 % GDP, chính phủ có khuynh hướng giảm đầu tư vào các dự án phi carbon hóa, chính tập đoàn bảo hiểm Allianz lại cho rằng Paris cần hỗ trợ các chính quyền cấp vùng, cấp thành phố để đối phó tốt hơn các hiện tượng khí hậu cực đoan. Đây là giải pháp tốt nhất để cứu vãn tăng trưởng và nhất là hạn chế những thiệt hại mà tình trạng nắng nóng bất thường gây nên.   Thực tế cho thấy rằng, tại Pháp nói riêng, tại châu Âu nói chung, những đợt nắng nóng không chỉ là một « câu chuyện vô bổ về thời tiết nắng, mưa », mà đây là cả một thách thức có thể đe dọa đến tăng trưởng của một quốc gia, thách thức từ hệ thống y tế đến giáo dục khi mà các bệnh viện bị quá tải, khi mà nhà trường phải đóng cửa hay phải dời lại các kỳ thi vì thời tiết không cho phép …. Bên cạnh đó còn phải tính đến những hậu quả « âm thầm » nhưng cũng rất nguy hiểm mà các đợt nắng nóng hay những hiện tượng thời ti

  7. Jun 23

    Dầu hỏa Iran trước hy vọng thoát khỏi lệnh cấm vận của Mỹ sau gần 50 năm bị trừng phạt

    Bốn trong số 14 điểm của thỏa thuận ghi nhớ chấm dứt chiến tranh Trung Đông liên quan đến những hồ sơ kinh tế nhậy cảm nhất đối với Teheran và được coi là có lợi cho chế độ Iran. Ngày 22/06/2026, Hoa Kỳ tạm dỡ bỏ lệnh cấm vận dầu hỏa Iran trong vòng 60 ngày, mở ra viễn cảnh Iran thu vào hàng tỷ đô la nhờ được phép xuất khẩu dầu hỏa theo giá thị trường. Đây là bằng chứng rõ rệt cho thấy thái độ thực tiễn của chế độ ở Teheran. Nhưng không dễ để xóa bỏ những lớp trừng phạt mà cộng đồng quốc tế, đứng đầu là Mỹ, gần như liên tục ban hành từ năm 1979 tới nay. Vào lúc phó tổng thống J.D Vance trên đường trở về Mỹ sau cuộc họp tại Thụy Sĩ với phái đoàn Iran, tại Washington, bộ Tài Chính thông báo tạm thời cho phép Iran xuất khẩu trở lại dầu thô, các sản phẩm hóa dầu và bán ra theo giá thị trường. Quyết định có hiệu lực cho đến ngày 21/08/2026. Để đổi lại, Teheran cam kết « bảo đảm quyền tự do lưu thông tại eo biển Hormuz và cho phép thanh tra viên của Cơ Quan Năng Lượng Nguyên Tử Quốc Tế AIEA vào hoạt động ». Thay đổi ngoạn mục trong chính sách của Mỹ từ 1979 Theo báo New York Times, đây là một « thay đổi lớn trong chính sách của Mỹ » đối với Iran. Một quyết định chấm dứt « hàng thập niên những hạn chế làm tê liệt » ngành công nghiệp dầu hỏa của Iran, quốc gia này phải luồn lách các lệnh trừng phạt quốc tế và xoay sở để vẫn có thể xuất khẩu dầu mà chủ yếu là để bán cho Trung Quốc, như ghi nhận của báo tài chính Wall Street Journal. Tờ báo kết luận : Tạm thời cho phép Iran xuất khẩu dầu thô là một « cơ hội vàng » đối với chế độ « đang rất cần ngoại tệ ». Nhật báo The Hill thì nói đến một « cú hích » cho một nền kinh tế đang bị kiệt quệ. Trên đài RFI Pháp ngữ, kinh tế trưởng cơ quan bảo hiểm ngoại thương Pháp COFACE Julien Marcilly phác họa về toàn cảnh u ám tại Iran trước và nhất là kể từ khi có xung đột với Mỹ và Israel hôm 28/02/2026 đến nay : « Ngay cả trước cuộc xung đột, kinh tế Iran đã rất khó khăn và hiện nay tình hình thậm chí còn tệ hơn nhiều, nếu không muốn nói là một tai họa : Đồng rial của Iran đã sụp đổ mạnh kể từ khi cuộc xung đột bắt đầu. Điều đó có nghĩa là áp lực lạm phát gia tăng rất lớn. Hồi tháng 4 và 5/2026, lạm phát đã tăng với tốc độ chưa từng có so với tháng trước đó. Theo số liệu chính thức, giá cả đang tăng với tốc độ hơn 60% mỗi năm. Con số này có khả năng còn tiếp tục tăng trong những tháng tới do tác động kéo dài đồng tiền bị mất giá. Bên cạnh những thiệt hại về vật chất dưới tác động của các đợt oanh kích tàn phá các cơ sở hạ tầng quân sự, dân sự, các nhà máy năng lượng của Iran. (…) Mỹ nới lỏng các biện pháp trừng phạt, cho phép Iran phục hồi khả năng sản xuất và xuất khẩu dầu hỏa quả thực là một "làn gió mới" cho một nền kinh tế  đang trong tình trạng cực kỳ tồi tệ ». Năm 1979, Hoa Kỳ là quốc gia đầu tiên trừng phạt kinh tế - trong đó có biện pháp cấm vận dầu hỏa Iran và phong tỏa tài sản của chế độ này ở hải ngoại, nhắm vào chế độ của giáo chủ Khomenei để trả đũa vụ con tin Mỹ bị bắt tại tòa đại sứ ở Teheran. Dầu thô tiếp tục là mục tiêu bị nhắm tới khi tổng thống Bill Clinton năm 1996 phê chuẩn đạo luật Iran - Libya Sanction Act, cấm các tập đoàn Mỹ và nước ngoài đầu tư quá 20 triệu đô la vào các dự án phát triển năng lượng của Iran. Nhưng 2012 là một năm « đen tối » đối với ngành khai thác và xuất khẩu dầu của chế độ trong tay Lực Lượng Vệ Binh Hồi Giáo : Đến lượt Liên Hiệp Châu Âu, Liên Hiệp Quốc cũng ban hành lệnh cấm nhập khẩu dầu của Iran, trong lúc Mỹ siết chặt thêm cỗ máy trừng phạt nhắm vào tất cả các thực thể (doanh nghiệp và các ngân hàng) có liên quan đến hoạt động xuất nhập khẩu dầu của Iran. Mãi đến 2015-2026 nhờ có thỏa thuận Vienna về hạt nhân Iran JCPOA ký kết dưới chính quyền Obama, dầu của Iran mới « dễ thở hơn » một chút, nhưng mọi chuyện đã chấm dứt năm 2018 khi tổng thống Donald Trump trong nhiệm kỳ đầu, đã rút nước Mỹ ra khỏi thỏa thuận (giữa Iran với 6 nước Anh, Pháp, Đức, Nga, Trung Quốc và Mỹ) mà các bên đã mất hơn 600 ngày đàm phán. Từ 2012, xuất khẩu dầu của Iran về mặt chính thức « rơi xuống mức gần như là số 0 ». Điều này khiến Teheran phải tương kế tựu kế, trông cậy vào các đội tàu ma để vẫn xuất khẩu được dầu hỏa, vốn là nguồn thu nhập quan trọng nhất. Bóp nghẹt kinh tế Iran : Mục tiêu bất thành Do vậy, trong mắt nhà chính trị học Jonathan Piron, Trung Tâm Nghiên Cứu - Thông tin về Hòa Bình và An Ninh - GRIPS, tại Bruxelles, Bỉ, chỉ riêng những nhượng bộ từ phía Washington về khía cạnh kinh tế cũng đủ thấy Mỹ đã thất bại trong mục tiêu bóp nghẹt kinh tế Iran : « Thất bại của Mỹ bởi khi cùng Israel lao vào cuộc chiến chống Iran, một trong những mục đích là lật đổ chế độ tại Teheran, hoặc ít nhất là buộc Lực Lượng Vệ Binh Hồi Giáo phải nhượng bộ về hạt nhân cũng như trên các vấn đề khác. Mục tiêu thực sự là đẩy kinh tế và chính quyền Iran vào thế khó khăn, buộc Teheran phải đầu hàng trong các cuộc đàm phán. Nhưng kịch bản đó đã không xảy ra. Đồng thời đây cũng không phải là một thắng lợi hoàn toàn của Iran, bởi vì bên trong nước Iran vẫn còn rất nhiều thách thức mà chế độ hiện nay phải đối mặt và giải quyết triệt để. Đặc biệt là vấn đề kinh tế : lạm phát đạt mức kỷ lục, kèm theo đó là những mong đợi rất lớn của người dân, là sự chia rẽ trong hàng ngũ giới cầm quyền về những hướng đi tiếp theo cho Iran, về cách thức tiến hành đàm phán với Mỹ … » Trong bài nghiên cứu năm 2015, chuyên gia về Iran, Thierry Coville nhắc lại, hiếm một quốc gia nào trên thế giới bị « trừng phạt nhiều như Iran » : trừng phạt của Mỹ rồi của Liên Hiệp Quốc và Liên Hiệp Châu Âu, một cách gần như liên tục từ gần một nửa thế kỷ. Do vậy theo điều tra của hãng tin Anh Reuters, dỡ bỏ cấm vận kinh tế Iran đòi hỏi nhiều thời gian, mà trước hết là về mặt pháp lý. Sự mập mờ về eo biển Hormuz Một điểm đáng chú ý khác được nhà báo Nicolas Falez đài phát thanh quốc tế Pháp RFI lưu ý : Bốn trong số 14 điểm của bản thỏa thuận khung mà Iran và Mỹ đã nhất trí thông qua và được tổng thống hai nước phê chuẩn hôm 17/06/2026 liên quan đến những vấn đề kinh tế mang tính sống còn với chế độ trong tay Lực Lượng Vệ Binh Hồi Giáo. Bốn điểm then chốt đó bao gồm : « Một là việc thu phí nhắm vào các tàu thuyền đi qua eo biển Hormuz và cách thức triển khai cơ chế này trong thực tế. Thứ hai là kế hoạch tái thiết Iran thông qua quỹ trị giá 300 tỷ đô la. Quỹ này đặt ra nhiều câu hỏi : ai sẽ đóng góp, dưới hình thức nào và nhất là những quốc gia trong vùng Vịnh kỳ vọng gì ở Mỹ sau khi đã bị nhiều thiệt hại sau những tuần lễ chiến tranh vừa qua ? Điểm thứ ba liên quan đến tài sản ở hải ngoại của Iran bị phong tỏa. Truyền thông thường đưa ra con số 100 tỷ đô la nhưng vẫn còn quá nhiều điểm chưa rõ ràng về số tiền bị phong tỏa nói trên. Điều cuối cùng - tuy có vẻ đơn giản nhất nhưng sẽ sớm phải cọ sát với thực tế - liên quan đến những hoạt động xuất khẩu dầu của Iran. Dầu hỏa vốn là nguồn thu nhập chính của quốc gia này ». Aurélien Devernoix phóng viên đài RFI giải thích thêm về tham vọng của Iran kiểm soát eo biển Hormuz mà Teheran trình bày như những phí tổn để đổi lấy một số « dịch vụ » :   « Mỹ và Iran đưa ra những tuyên bố hoàn toàn trái ngược nhau. Teheran thông báo sẽ thu phí quá cảnh khi tàu thuyền đi qua eo biển Hormuz. Trái lại Washington lại bảo là không. Ngay cả trong bản thỏa thuận ghi nhớ 14 điểm cũng đã có một sự mập mờ về điều khoản thu phí ở eo biển Hormuz : Tài liệu chỉ đơn giản bảo đàm rằng trong thời gian 60 ngày đàm phán, Iran sẽ cho phép tàu bè đi qua miễn phí. Không biết chuyện gì se

  8. Jun 16

    Chống ung thư : Chiến lược của Trung Quốc để chiếm vị trí trung tâm trên bàn cờ quốc tế

    Sau khi đã soán ngôi của Âu Mỹ trong lĩnh vực công nghiệp, rồi thách thức -thậm chí là qua mặt cả- Hoa Kỳ về công nghệ, Trung Quốc đang tiến gần đến vị trí số 1 thế giới về y khoa, đặc biệt là trong lĩnh vực chống ung thư. Những ca bị ung thư trong tương lai sẽ được điều trị nhờ thuốc « made in China », nhờ những dược chất được khám phá từ các phòng thí nghiệm Trung Quốc. Thành tích đó do đâu mà có ?  Viễn cảnh Bắc Kinh sử dụng những dược chất, thuốc hay phương pháp điều trị ung thư như một công cụ ngoại giao và địa chính trị không còn xa vời. Nghiên cứu và thử nghiệm thuốc mới : « Cỗ máy » lợi hại của Trung Quốc Trung Quốc đã trở thành tâm điểm Hội nghị quốc tế ung thư học lớn nhất thế giới  ASCO tổ chức Chicago (29/05-02/06/2026). Gần 1/3 các công trình khoa học được trình bày liên quan đến Trung Quốc ở những mức độ khác nhau. Bên cạnh sự hiện diện rất đông đảo của các nhà nghiên cứu, của các chuyên gia về ung thư Trung Quốc trong số khoảng 40.000 người tham dự, đáng chú ý nhất là lần đầu tiên, một trong số năm bài tham luận được giới thiệu trong phiên họp toàn thể hôm 31/05/2026 xuất sứ từ Trung Quốc. Đây là một vinh dự chỉ dành cho những công trình được coi là có giá trị, mang tính sáng tạo nhất và có triển vọng nhất. Công trình đem đến Chicago lần này kết hợp liệu pháp miễn dịch với hóa trị được đánh giá là « một liệu pháp mới đầy triển vọng » do Akeso, một tập đoàn công nghệ sinh học Trung Quốc phát triển. Nhật báo tài chính Mỹ, New York Times coi đây là bằng chứng rõ rệt nhất cho thấy Trung Quốc đã « trở thành một thế lực hàng đầu thế giới trong cuộc đua phát triển thuốc mới » trị liệu ung thư : Từ vị trí « gần như đúng ngoài cuộc chơi » Trung Quốc đã nổi lên như một ngọn hải đăng trong một lĩnh vực mà cho đến nay vẫn được coi là thế mạnh của châu Âu và Hoa Kỳ. Cột mốc 2024 Năm 2024 là một cột mốc quan trọng khi mà 40 % các cuộc thử nghiệm lâm sàng trên thế giới trong lĩnh vực nghiên cứu chống ung thư, do các phòng thí nghiệm, các viện y khoa Trung Quốc thực hiện. Giáo sư Steven Le Gouille, chuyên về huyết học và giám đốc viện nghiên cứu ung thư Institut Curie-Paris trên nhật báo Libération nhắc lại 2024 lần đầu tiên Trung Quốc công bố hơn 37.000 bài nghiên cứu trong lĩnh vực chuyên môn này, hơn hẳn Hoa Kỳ (chưa đầy 32.000 công trình), nhưng cho đến hiện tại, những bài viết đó ít được đăng trên những tạp chí y khoa danh giá nhất thế giới như Nature, Science hay The New England Journal of Medecine. Gần đây hơn, các chuyên gia Trung Quốc đóng góp vào 8 trên tổng số 12 chương trình nghiên cứu được trình bày nhân hội nghị châu Âu tại Berlin mùa thu 2025 và hai trong số này tập trung vào những loại thuốc mới điều trị ung thư do các viện bào chế Trung Quốc sản xuất. Tiền là chủ lực Thành công này do đâu mà có ? Giáo sư y khoa Fabrice Barseli, giám đốc Gustave Roussy trung tâm điều trị ung thư lớn nhất châu Âu, ở ngoại ô Paris, trả lời đài phát thanh tư nhân Radio Classique nhấn mạnh đến tiềm lực tài chính khổng lồ của quốc gia châu Á này từ đầu thế kỷ 21 và nhất là trong thời gian gần đây : « Năm 2020 Trung Quốc huy động 300 tỷ đô laa đầu tư vào khâu nghiên cứu và phát triển trong lĩnh vực chống ung thư. Chỉ 5 năm sau, số tiền này được đẩy lên đến 500 tỷ đô la. Thêm vào đó là chiến lược chiêu mộ các nhân tài, các chuyên gia Trung Quốc đã làm việc ở những tập đoàn dược phẩm lớn ở ngoại quốc, nghiên cứu và được đào tạo tại những trường y khoa danh tiếng nhất trở về Hoa lục : họ là những cột trụ giúp Trung Quốc phát triển ». Tiền là yếu tố quan trọng nhất nhưng không chỉ có thế. Chính nhờ đội ngũ các chuyên gia được đào tạo ở Hoa Lục và nước ngoài, mà trong hơn 2 thâp niên, Trung Quốc đã nhanh chóng có khả năng sản xuất các loại thuốc thuộc thế hệ mới và có mức độ phức tạp cao. Không những thế Trung Quốc còn phát hiện những phương pháp điều trị mới, nghiên cứu ra những phân tử mới, những hoạt chất mới … « Trung Quốc không chỉ dừng lại ở việc sao chép (...) ». Chuyên gia Pháp Steve Le Gouill viện nghiên cứu Curie trên nhật báo Libération khẳng định : « Trung Quốc không chỉ dừng lại ở việc sao chép thành công những hoạt chất được nghiên cứu ở nước ngoài, mà nay không ngững cải tiến chính những hoạt chát đó để phát triển những loại thuốc thuộc thế hệ hoàn toàn mới, tức là đưa ra những phương pháp điều trị mới ». Trong lĩnh vực dược phẩm Trung Quốc đã « hoàn toàn làm chủ từ đầu đến cuối các khâu phát triển, từ nghiên cứu đến thử nghiệm và sản xuất. Ngành công nghiệp dược và sinh học của nước này được tổ chức một cách rất có bài bản và vận hành theo các tiêu chuẩn khoa học quốc tế » tương tự như những trung tâm nghiên cứu hàng đầu thế giới. Pháp tìm đối tác liên doanh Giáo sư Barseli giám đốc viện ung thư Gustave Roussy xem việc phát triển hợp tác với các viện nghiên cứu Trung Quốc là một ưu tiên bởi vì các nhà khoa học và giới y khoa châu Á này đang nắm giữ những hoạt chất mà ông gọi là thuộc dòng « best in class hay thậm chí là first in class » tức là những dược chất đầu tiên có thể tấn công để khống chế những tế bào ung thư. Là viện trị liệu lớn nhất châu Âu, ưu tiên của Gustave Roussy hiện nay là thành lập một liên doanh với các nhà sản xuất Trung Quốc để tiếp cận « nhanh chóng nhất » những molécules cần thiết nhất trong khâu trị liệu. Giới trong ngành nhìn nhận hiện tại chữa ung thư phổi và điều trị ung thư tuyến tụy (pancréas) Trung Quốc đang « tiên phong ».   Một chiến dịch dài hơi Thực ra để có thể đứng trên đỉnh cao như ngày hôm nay trong lĩnh vực y tế như thế nào Trung Quốc đã có một sự chuẩn bị dài hơi. Vào thập niên 1950 ngành y dược gần như trong lòng bàn tay của Âu, Mỹ : Hoa Kỳ dẫn đầu cuộc chơi với những tên tuổi lớn trong ngành như Pfizer, Merk hay Lilly. Anh Quôc thì có Glaxo  Wellcome, Pháp thì nổi tiếng với hãng thốc Rhone Poulenc, Thụy Sĩ thì có nhà thuốc Roche … Trung Quốc khởi đầu từ con số không và thậm chí là còn đi sau Ấn Độ một bước để tranh giành thị trường các hoạt chất chính chế biến thuốc. Mãi đến đầu những năm 2000 mọi người mới biết đến hơn một chục cơ sở sản xuất các hoạt chất chính để bào chế thuốc tại Hoa Lục như là ở Quảng Châu, Chiết Giang, Thanh Đảo hay Giang Tây … nhưng chỉ đến năm 2020 Trung Quốc đã chiếm một vị trí then chốt : Cung cấp 71 % các hoạt chất chính cho thế giới để chế tạo thuốc kháng sinh, chiếm từ 60 đến 70 % để cung cấp cho các viện bào chế thuốc giảm đau paracetamol và từ 70 đến 80 % các loại penicilline đều phải dùng dược chất « made in China ».  Thành công chói lọi đó của các viện bào chế, các nhà thuốc Trung Quốc có được một phần lớn cũng nhờ được Nhà nước hậu thuẫn. Theo thống kê của Liên đoàn các hãng dược phẩm châu Âu EFPIA đầu tư của Trung Quốc trong lĩnh vực này đã có một bước « đại nhảy vọt », đang từ 1,7 tỷ đô la năm 2000 lên thành gần 15 tỷ 25 năm sau đó. Steven Le Gouille, Institut Curie Paris giải thích : Ai thì cũng phải đi qua vòng « sinh - lão - bệnh - tử » cho nên đầu tư vào y tế khó có thể lỗ vốn nhất là khi Trung Quốc có đến 1,4 tỷ dân. Trong 5 năm, 2016-2021, trị giá chứng khoán của các tập đoàn dược phẩm tiên tiến Trung Quốc đã nhảy vọt từ 3 tỷ đô la lên tới 380 tỷ.   Khó khăn trên con đường chinh phụ thị trường quốc tế Dù vậy trên con đường « quốc tế hóa » thuốc của Trung Quốc vẫn còn đang gặp nhiều trở ngại. Đứng đầu trong số này là những chuẩn mực khắt khe để thâm nhập vào các thị trường Âu, Mỹ, dù vậy theo đánh giá của giám đốc viện nghiên cứu Curie-Paris ông Le Gouill, Trung Quốc đang từng bước bẻ gấy những rào cản sau cùng này.   « Có một số trở ngại cho việc Trung Quốc đẩy mạnh xuất khẩu thuốc ra thị trường quốc tế : trong lĩnh vực dược phẩm, các chuẩn mực cu

About

Hồ sơ kinh tế nổi bật, kinh nghiệm hoạt động của giới doanh nhân

More From RFI Tiếng Việt

You Might Also Like