Tạp chí kinh tế

Hồ sơ kinh tế nổi bật, kinh nghiệm hoạt động của giới doanh nhân

  1. 3d ago

    Chống ung thư : Chiến lược của Trung Quốc để chiếm vị trí trung tâm trên bàn cờ quốc tế

    Sau khi đã soán ngôi của Âu Mỹ trong lĩnh vực công nghiệp, rồi thách thức -thậm chí là qua mặt cả- Hoa Kỳ về công nghệ, Trung Quốc đang tiến gần đến vị trí số 1 thế giới về y khoa, đặc biệt là trong lĩnh vực chống ung thư. Những ca bị ung thư trong tương lai sẽ được điều trị nhờ thuốc « made in China », nhờ những dược chất được khám phá từ các phòng thí nghiệm Trung Quốc. Thành tích đó do đâu mà có ?  Viễn cảnh Bắc Kinh sử dụng những dược chất, thuốc hay phương pháp điều trị ung thư như một công cụ ngoại giao và địa chính trị không còn xa vời. Nghiên cứu và thử nghiệm thuốc mới : « Cỗ máy » lợi hại của Trung Quốc Trung Quốc đã trở thành tâm điểm Hội nghị quốc tế ung thư học lớn nhất thế giới  ASCO tổ chức Chicago (29/05-02/06/2026). Gần 1/3 các công trình khoa học được trình bày liên quan đến Trung Quốc ở những mức độ khác nhau. Bên cạnh sự hiện diện rất đông đảo của các nhà nghiên cứu, của các chuyên gia về ung thư Trung Quốc trong số khoảng 40.000 người tham dự, đáng chú ý nhất là lần đầu tiên, một trong số năm bài tham luận được giới thiệu trong phiên họp toàn thể hôm 31/05/2026 xuất sứ từ Trung Quốc. Đây là một vinh dự chỉ dành cho những công trình được coi là có giá trị, mang tính sáng tạo nhất và có triển vọng nhất. Công trình đem đến Chicago lần này kết hợp liệu pháp miễn dịch với hóa trị được đánh giá là « một liệu pháp mới đầy triển vọng » do Akeso, một tập đoàn công nghệ sinh học Trung Quốc phát triển. Nhật báo tài chính Mỹ, New York Times coi đây là bằng chứng rõ rệt nhất cho thấy Trung Quốc đã « trở thành một thế lực hàng đầu thế giới trong cuộc đua phát triển thuốc mới » trị liệu ung thư : Từ vị trí « gần như đúng ngoài cuộc chơi » Trung Quốc đã nổi lên như một ngọn hải đăng trong một lĩnh vực mà cho đến nay vẫn được coi là thế mạnh của châu Âu và Hoa Kỳ. Cột mốc 2024 Năm 2024 là một cột mốc quan trọng khi mà 40 % các cuộc thử nghiệm lâm sàng trên thế giới trong lĩnh vực nghiên cứu chống ung thư, do các phòng thí nghiệm, các viện y khoa Trung Quốc thực hiện. Giáo sư Steven Le Gouille, chuyên về huyết học và giám đốc viện nghiên cứu ung thư Institut Curie-Paris trên nhật báo Libération nhắc lại 2024 lần đầu tiên Trung Quốc công bố hơn 37.000 bài nghiên cứu trong lĩnh vực chuyên môn này, hơn hẳn Hoa Kỳ (chưa đầy 32.000 công trình), nhưng cho đến hiện tại, những bài viết đó ít được đăng trên những tạp chí y khoa danh giá nhất thế giới như Nature, Science hay The New England Journal of Medecine. Gần đây hơn, các chuyên gia Trung Quốc đóng góp vào 8 trên tổng số 12 chương trình nghiên cứu được trình bày nhân hội nghị châu Âu tại Berlin mùa thu 2025 và hai trong số này tập trung vào những loại thuốc mới điều trị ung thư do các viện bào chế Trung Quốc sản xuất. Tiền là chủ lực Thành công này do đâu mà có ? Giáo sư y khoa Fabrice Barseli, giám đốc Gustave Roussy trung tâm điều trị ung thư lớn nhất châu Âu, ở ngoại ô Paris, trả lời đài phát thanh tư nhân Radio Classique nhấn mạnh đến tiềm lực tài chính khổng lồ của quốc gia châu Á này từ đầu thế kỷ 21 và nhất là trong thời gian gần đây : « Năm 2020 Trung Quốc huy động 300 tỷ đô laa đầu tư vào khâu nghiên cứu và phát triển trong lĩnh vực chống ung thư. Chỉ 5 năm sau, số tiền này được đẩy lên đến 500 tỷ đô la. Thêm vào đó là chiến lược chiêu mộ các nhân tài, các chuyên gia Trung Quốc đã làm việc ở những tập đoàn dược phẩm lớn ở ngoại quốc, nghiên cứu và được đào tạo tại những trường y khoa danh tiếng nhất trở về Hoa lục : họ là những cột trụ giúp Trung Quốc phát triển ». Tiền là yếu tố quan trọng nhất nhưng không chỉ có thế. Chính nhờ đội ngũ các chuyên gia được đào tạo ở Hoa Lục và nước ngoài, mà trong hơn 2 thâp niên, Trung Quốc đã nhanh chóng có khả năng sản xuất các loại thuốc thuộc thế hệ mới và có mức độ phức tạp cao. Không những thế Trung Quốc còn phát hiện những phương pháp điều trị mới, nghiên cứu ra những phân tử mới, những hoạt chất mới … « Trung Quốc không chỉ dừng lại ở việc sao chép (...) ». Chuyên gia Pháp Steve Le Gouill viện nghiên cứu Curie trên nhật báo Libération khẳng định : « Trung Quốc không chỉ dừng lại ở việc sao chép thành công những hoạt chất được nghiên cứu ở nước ngoài, mà nay không ngững cải tiến chính những hoạt chát đó để phát triển những loại thuốc thuộc thế hệ hoàn toàn mới, tức là đưa ra những phương pháp điều trị mới ». Trong lĩnh vực dược phẩm Trung Quốc đã « hoàn toàn làm chủ từ đầu đến cuối các khâu phát triển, từ nghiên cứu đến thử nghiệm và sản xuất. Ngành công nghiệp dược và sinh học của nước này được tổ chức một cách rất có bài bản và vận hành theo các tiêu chuẩn khoa học quốc tế » tương tự như những trung tâm nghiên cứu hàng đầu thế giới. Pháp tìm đối tác liên doanh Giáo sư Barseli giám đốc viện ung thư Gustave Roussy xem việc phát triển hợp tác với các viện nghiên cứu Trung Quốc là một ưu tiên bởi vì các nhà khoa học và giới y khoa châu Á này đang nắm giữ những hoạt chất mà ông gọi là thuộc dòng « best in class hay thậm chí là first in class » tức là những dược chất đầu tiên có thể tấn công để khống chế những tế bào ung thư. Là viện trị liệu lớn nhất châu Âu, ưu tiên của Gustave Roussy hiện nay là thành lập một liên doanh với các nhà sản xuất Trung Quốc để tiếp cận « nhanh chóng nhất » những molécules cần thiết nhất trong khâu trị liệu. Giới trong ngành nhìn nhận hiện tại chữa ung thư phổi và điều trị ung thư tuyến tụy (pancréas) Trung Quốc đang « tiên phong ».   Một chiến dịch dài hơi Thực ra để có thể đứng trên đỉnh cao như ngày hôm nay trong lĩnh vực y tế như thế nào Trung Quốc đã có một sự chuẩn bị dài hơi. Vào thập niên 1950 ngành y dược gần như trong lòng bàn tay của Âu, Mỹ : Hoa Kỳ dẫn đầu cuộc chơi với những tên tuổi lớn trong ngành như Pfizer, Merk hay Lilly. Anh Quôc thì có Glaxo  Wellcome, Pháp thì nổi tiếng với hãng thốc Rhone Poulenc, Thụy Sĩ thì có nhà thuốc Roche … Trung Quốc khởi đầu từ con số không và thậm chí là còn đi sau Ấn Độ một bước để tranh giành thị trường các hoạt chất chính chế biến thuốc. Mãi đến đầu những năm 2000 mọi người mới biết đến hơn một chục cơ sở sản xuất các hoạt chất chính để bào chế thuốc tại Hoa Lục như là ở Quảng Châu, Chiết Giang, Thanh Đảo hay Giang Tây … nhưng chỉ đến năm 2020 Trung Quốc đã chiếm một vị trí then chốt : Cung cấp 71 % các hoạt chất chính cho thế giới để chế tạo thuốc kháng sinh, chiếm từ 60 đến 70 % để cung cấp cho các viện bào chế thuốc giảm đau paracetamol và từ 70 đến 80 % các loại penicilline đều phải dùng dược chất « made in China ».  Thành công chói lọi đó của các viện bào chế, các nhà thuốc Trung Quốc có được một phần lớn cũng nhờ được Nhà nước hậu thuẫn. Theo thống kê của Liên đoàn các hãng dược phẩm châu Âu EFPIA đầu tư của Trung Quốc trong lĩnh vực này đã có một bước « đại nhảy vọt », đang từ 1,7 tỷ đô la năm 2000 lên thành gần 15 tỷ 25 năm sau đó. Steven Le Gouille, Institut Curie Paris giải thích : Ai thì cũng phải đi qua vòng « sinh - lão - bệnh - tử » cho nên đầu tư vào y tế khó có thể lỗ vốn nhất là khi Trung Quốc có đến 1,4 tỷ dân. Trong 5 năm, 2016-2021, trị giá chứng khoán của các tập đoàn dược phẩm tiên tiến Trung Quốc đã nhảy vọt từ 3 tỷ đô la lên tới 380 tỷ.   Khó khăn trên con đường chinh phụ thị trường quốc tế Dù vậy trên con đường « quốc tế hóa » thuốc của Trung Quốc vẫn còn đang gặp nhiều trở ngại. Đứng đầu trong số này là những chuẩn mực khắt khe để thâm nhập vào các thị trường Âu, Mỹ, dù vậy theo đánh giá của giám đốc viện nghiên cứu Curie-Paris ông Le Gouill, Trung Quốc đang từng bước bẻ gấy những rào cản sau cùng này.   « Có một số trở ngại cho việc Trung Quốc đẩy mạnh xuất khẩu thuốc ra thị trường quốc tế : trong lĩnh vực dược phẩm, các chuẩn mực cu

    9 min
  2. Jun 9

    Pháp đón nhận các dự án xây dựng Data Center : Phúc hay họa ?

    SpaceX, Amazone, Nvidia của Mỹ, Softbank của Nhật, Brookfield của Canada, hay MGX của Các Tiểu Vương Quốc Ả Râp Thống Nhất.. đầu tư hàng chục tỷ đô la vào Pháp để xây dựng các trung tâm xử lý dữ liệu data center. Đâu là những lợi thế của Pháp trong mắt các nhà đầu tư công nghệ ? Phúc hay họa khi trở thành « sân sau » của những nhà cung cấp dịch vụ trong thời đại digital ? 80 % các dịch vụ tin học tại châu Âu đều phụ thuộc vào các nhà cung cấp ở Mỹ : Các data center cho phép Paris tự chủ về công nghệ kỹ thuật số với Hoa Kỳ ? Tại hội nghị kêu gọi đầu tư nước ngoài vào Pháp Choose France hôm 01/06/2026, Pháp đã nhận được hơn 90 tỷ euro : Phần lớn trong số hơn 70 dự án tập trung vào lĩnh vực trí tuệ nhân tạo và công nghiệp số. Bất chấp rất nhiều khó khăn về địa chính trị hiện tại, trong 7 năm liên tiếp, Pháp vẫn là địa điểm đầu tư hấp dẫn tại châu Âu trong mắt các nhà đầu tư quốc tế, theo thăm dò của cơ quan tư vấn EY. Trước ngày khai mạc hội nghị tập đoàn Nhật Bản Softbank đã thông báo đầu tư 45 tỷ euro tại Pháp từ nay đến năm 2031 để xây dựng các trung tâm xử lý dữ liệu data center. Nhìn xa hơn nữa Softbank cam kết đầu tư đến 75 tỷ tại Pháp để « xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ công nghệ AI ». Sáng lập viên tập đoàn Nhật Bản này, Masayoshi Son kể lại ông đã gặp tổng thống Macron tại Tokyo hai tháng trước đây. Khi đó nguyên thủ Pháp đã hỏi nhà đầu tư này liệu có thể nhanh chóng thông báo một chương trình đầu tư vào Pháp hay không và ông câu trả lời của chủ nhân Softbank là có. Masayoshi Son giải thích với báo chí Paris là đã quyết định đầu tư 75 tỷ euro để phát triển trí tuệ nhân tạo bởi nhân loại đang « bước vào thời đại của AI. Những quốc gia có cơ sở hạ tầng cần thiết cho lĩnh vực còn rất mới mẻ này sẽ nắm giữ một vai trò then chốt trong tương lai cả về công nghiệp lẫn công nghệ và đối với nhân loại ». 352 data center sử dụng 3,2 % tiêu thụ điện trên toàn quốc Tổng thống Macron từ khi lên cầm quyền năm 2017 luôn xem thu hút vốn đầu tư nước ngoài là một ưu tiên. Ông đã chín lần chủ trì hội nghị Choose France tại lâu đài Versailles, ngoại ô Paris, với những khách mời sáng giá nhất trong giới tài chính, công nghiệp của Hoa Kỳ, Nhật Bản, châu Âu và trước chiến tranh Ukraina cũng đã có không ít các doanh nhân Nga tham dự. Riêng năm nay, trí tuệ nhân tạo, data center, công nghệ digital … đặc biệt được quan tâm. Tháng 2/2025 với hội nghị « hành động vì AI » Emmanuel Macron đã nuôi tham vọng, với 67 triệu dân, Pháp cũng có thể trở thành một mắt xích quan trọng trong thời đại công nghệ số, và là một « trung tâm quốc tế » về AI. Sức hút các data center của Pháp   Hiện tại Pháp đã có 350 data center và mục tiêu xây dựng thêm 60 trung tâm khác nữa trên toàn quốc trong 10 năm nữa. Đó sẽ là những trung tâm có công suất ngày càng lớn cho phép Paris giải quyết cùng lúc hai vấn đề : giảm mức độ phụ thuộc vào các cơ sở hạ tầng công nghệ số của Hoa Kỳ, và đẩy mạnh các hoạt động kinh tế của Pháp. Trên con đường chinh phục các nhà đầu tư trong lĩnh vực digital, Pháp có nhiều lợi thế, mà đầu tiên hết là khả năng sản xuất điện, như giải thích của François Monnier, tổng biên tập tuần báo tài chính Investir : « Điện khí hóa là một điểm mạnh của châu Âu mà đứng đầu bảng là Pháp. Hơn nữa đây là một lĩnh vực đang phát triển rất mạnh. Để đáp ứng nhu cầu của các trung tâm quản lý dữ liệu data center thì Pháp có nhiều tập đoàn lớn rất có uy tín như là như Schneider Electric chuyên cung cấp các dịch vụ, tìm kiếm những  giải pháp năng lượng đáp ứng nhu cầu cho các tập đoàn trong lĩnh vực công nghệ số … hay là Legrand chuyên cung cấp các thiết bị điện hay tập đoàn năng lượng. Lĩnh vực trí tuệ  nhân tạo chiếm 25 % doanh thu của Legrand. Còn Axens hiện diện trong nhiều lĩnh vực từ lọc dầu, hóa dầu xử lý năng lượng tái tạo, xử lý nước ».  Antoine Fournier, chủ tịch cơ quan tư vấn Thésée DataCenter ghi nhận : Các khoản đầu tư lẽ ra đổ về những quốc gia khác ở châu Âu, như Đức hay Hà Lan đang chuyển hướng về Pháp, bởi Pháp có một vị trí địa lý « trung tâm ». Điện hạt nhân Theo lời Régis Casstané tổng giám đốc chi nhánh tại Pháp của tập đoàn Equinix (nhà cung cấp thiết bị cho các data center lớn nhất thế giới), từ 2022 giá năng lượng của Pháp rẻ hơn so với một số quốc gia khác (như là Đức phải phụ thuộc vào khí đốt của Nga), Pháp lại có các nhà máy điện hạt nhân, lá chủ bài của Pháp trong mắt các nhà đầu tư AI và data center. Bởi vì trung tâm xử lý dữ liệu là một « nguồn tiêu thụ năng lượng vô cùng lớn », cần có nhiều điện để vận hành. …   Theo thẩm định của cơ quan quốc gia Pháp về năng lượng và môi trường ADEM, tiêu thụ điện của 350 data center sẽ tương đương với mức tiêu thụ của « hơn một chục thành phố với trên 100 ngàn dân » và đó là những « cực hút đến 3 % nguồn điện trên toàn quốc ». Đáng quan ngại hơn nữa là các trung tâm data đó ngày càng lớn « ngày càng cần nhiều năng lượng để hoạt động, do vậy trong hơn 10 năm nữa, nhu cầu về điện dành riêng cho các trung tâm này sẽ tăng lên gấp 4 lần so với hiện nay ». Năm 2025, điều trần trước một ủy ban tại Hạ Viện, Eric Schmidt cựu chủ tịch tổng giám đốc Google từng kêu gọi các dân biểu Mỹ đầu tư vào cơ sở hạ tầng điện lực : « Chúng ta cần nhất hiện nay là điện và nhu cầu rất, rất lớn. Nếu quý vị cho phép nói thẳng, thì tôi xin thưa rằng, chúng tôi mong đợi Hạ Viện phát triển điện lực, bất kỳ dưới hình thức nào, đó có thể là năng lượng tái tạo, là nhiệt điện. Miễn làm sao chúng ta có khả năng đáp ứng nhu cầu tiêu thụ và phải nhanh chóng đạt được mục đích này » Điều đó cho thấy vì sao mà các « ông lớn » trong thế giới công nghệ của Mỹ đua nhau chạy sang Pháp đầu tư. Gilles Babinet, tác giả cuốn « Green AI » NXB Odile Jacob nói đến một lá chủ bài của Pháp mà cả Mỹ lẫn Trung Quốc hai siêu cường kinh tế thế giới và cũng là những bên tiên phong trong lĩnh vực công nghệ số và trí tuệ nhân tạo đều không có được : «  Không một quốc gia nào trên thế giới có 15 giga Watt mà đấy lại là điện phi carbone. Mỹ không có khả năng này, Trung Quốc cũng không. Cho nên tất cả các nhà đầu tư trên thế giới cùng nhòm ngó khối lượng điện này của Pháp ». Gauthier Roussilhe, chuyên gia về môi trường digital điều hành công ty tư vấn Hubblo, Paris, do vậy cảnh báo trước nguy cơ các ông vua công nghệ kỹ thuật số và AI trên thế giới đang muốn biến Pháp thành « sân sau » của riêng mình : « Tất cả những thông cáo rầm rộ về các chương trình đầu tư rất lớn về công nghệ số tại Pháp, trước hết là nhằm bảo đảm rằng, hiện tại và trong tương lai, các tập đoàn này có thể tận dụng tiềm lực về điện lực của nước Pháp (…) Những trung tâm xử lý dữ liệu càng lớn bao nhiêu, thì càng cho thấy trong lượng khổng lồ của các doanh nghiệp Mỹ. Softbank thực ra đã bỏ vốn đầu tư và hiện diện trong rất nhiều các tập đoàn công nghệ cao và nhất là trong các tập đoàn của Mỹ. Hệ quả hiển nhiên kèm theo là khâu quản lý các data center sau này sẽ thuộc về phía Hoa Kỳ ». Điều này dường như đã được cả sáng lập viên lẫn giám đốc tài chính tập đoàn Softbank nhìn nhận. Ông Masayoshi Son nói rõ : « Softbank bảo đảm khâu tài chính cho các dự án. Khách hàng của chúng tôi là những hyperscalers, tức là những ông không lồ trong lĩnh vực công nghệ đám mây, như là Amazon, Microsoft hay Google ». Về phần Nahoko Hoshino, giám đốc tài chính Softbank, bà chỉ hờ hững khi nhắc đến các đối tác châu Âu trong lúc đã tiến hành đàm phán với những khách hàng nặng ký là Amazon, Microsoft hay Google, Open AI. Về câu hỏi, đánh cược vào những data center có cho phép nước Pháp vực dậy kinh tế và mang lại công việc làm cho người dân hay không, giới trong ngành đồng loạt trả lời là không. Một quan chức tại thành phố La Courneuve so sánh : Với một diện tích tương đương, mở

    10 min
  3. Jun 2

    Khủng hoảng tại eo biển Hormuz đe dọa ngành công nghiệp bán dẫn của Đài Loan

    Vị thế « kinh đô » công nghiệp bán dẫn thế giới của Đài Loan được củng cố thêm khi lãnh đạo tập đoàn Nvidia tại Đài Bắc hôm 01/06/2026 thông báo « mở ra một kỷ nguyên mới » trong lĩnh vực máy tính cá nhân, chen chân vào câu lạc bộ rất khép kín của các nhà sản xuất các bộ vi xử lý trong tay Intel và AMD. Chiến tranh Iran và khủng hoảng ở eo biển Hormuz đe dọa cột trụ vững chắc nhất của nền kinh tế Đài Loan là công nghiệp bán dẫn ? Giải pháp nào cho hòn đảo phải nhập khẩu đến 97 % năng lượng để bảo đảm nhu cầu tiêu thụ cho 24 triệu dân và cỗ máy công nghiệp ? Các nhà sản xuất chip tiên tiến nhất của Đài Loan sẽ bị tác động đến mức độ nào từ cuộc khủng hoảng Trung Đông lần này do phụ thuộc đến 80 % khí heli của Vùng Vịnh ? Về an ninh năng lượng, an ninh công nghiệp, Đài Bắc có thể rút ra được những bài học nào trong trường hợp eo biển Đài Loan bị phong tỏa trong một cuộc xung đột quân sự với Bắc Kinh ? RFI tiếng Việt mời nhà nghiên cứu Adrien Simorre, cộng tác viên Viện Quan Hệ Quốc Tế Pháp IFRI trả lời các câu hỏi trên. Là một nhà báo và một nhà phân tích độc lập làm việc lâu năm tại Đài Bắc, Adrien Simorre nguyên là thông tín viên thường trực của đài RFI và của báo Libération. Từ đầu tháng 3/2026 eo biển Hormuz bị phong tỏa. Giao thương quốc tế xuyên qua một trong những cửa ngõ quan trọng nhất bị tê liệt. Dầu hỏa, khí đốt, khí hóa lỏng, phân bón, hóa chất, nhôm, lưu huỳnh, ammoniac … trở nên khan hiếm. Eo biển Hormuz, Đài Loan trong tâm bão Khác với chiến tranh Ukraina mà Nga khai mào năm 2022, lần này xung đột tại Trung Đông từ ngày 28/02/2026 đã đẩy châu Á vào một cuộc khủng hoảng năng lượng : 40 % nhập khẩu dầu và hơn 25 % khí hóa lỏng tiêu thụ tại châu Á phải đi qua eo biển Hormuz. Đài Loan là 1 trong 9 nền kinh tế thế giới phụ thuộc nhiều nhất vào khí hóa lỏng của Trung Đông cho nên cuộc xung đột này đang thử thách sức chịu đựng của mô hình công nghiệp và chính sách năng lượng trên hòn đảo với 24 triệu dân này. Về năng lượng, Đài Loan có nhiều nhược điểm : Thứ nhất, là một hòn đảo, Đài Loan không thể phát triển các hệ thống đường ống dẫn dầu hay khí đốt dưới lòng biển, trên bộ như của Trung Quốc hay châu Âu. Thứ hai là khác với Bắc Kinh, Đài Bắc không phát triển quan hệ với các nguồn cung cấp từ phía các quốc gia « bất hảo » bị quốc tế tẩy chay (Iran, Venezuela và Nga). Điểm thứ ba khả năng dự trữ năng lượng của hòn đảo này tuy có – và đủ sức bảo đảm các nhu cầu tiêu thụ trong « nhiều tháng », nhưng lại đặc biệt hạn chế đối với khí hóa lỏng như Adrien Simore đã ghi nhận trong bài nghiên cứu đăng trên trang mạng của Viện Quan Hệ Quốc Tế Pháp IFRI. Trả lời RFI tiếng Việt, tác giả bài nghiên cứu, Adrien Simorre nói rõ hơn :   « Hệ thống điện của Đài Loan phụ thuộc rất nhiều vào năng lượng từ Trung Đông vì gần một nửa lượng điện của hòn đảo được sản xuất từ khí tự nhiên hóa lỏng (LNG). Trong số lượng LNG đó, hơn một phần ba là mua của Qatar. Ngoài Qatar, thì Úc (33,5 %) và Mỹ (9,9 %) là hai nguồn cung cấp quan trọng khác cho Đài Loan. Vấn đề đặt ra là khả năng dự trữ LNG của Đài Loan chỉ có hạn, tương đương với tiêu thụ trong 10 ngày. Cho nên bất kỳ sự gián đoạn nào trong nguồn cung cũng có thể nhanh chóng làm cạn kiệt lượng dự trữ. Eo biển Hormuz bị phong tỏa, là một thách thức thực sự đối với Đài Loan (...)   Đây thực sự là một vấn đề rất nghiêm trọng, nhất là khi nhiều quốc gia khác trong khu vực như Nhật Bản, Hàn Quốc cũng phụ thuộc vào khí đốt nhập khẩu để sản xuất điện. Tuy nhiên, từ lâu nay các chính quyền liên tiếp ở Đài Bắc đã ý thức được rằng đây là một điểm yếu. Đài Loan là trung tâm hàng đầu thế giới về sản xuất chất bán dẫn tiên tiến, đây cũng là một lĩnh vực mang tính sống còn đối với kinh tế toàn cầu, đặc biệt là về trí tuệ nhân tạo. Bên cạnh đó còn có áp lực từ Trung Quốc : Bắc Kinh luôn tuyên bố chủ quyền đối với Đài Loan. Điều này làm dấy lên câu hỏi về khả năng duy trì nguồn cung ổn định cho Đài Loan trong trường hợp bản thân Đài Loan bị phong tỏa ». Hy sinh nhiều đề giữ « lá bùa hộ mệnh » Tháng 6/2024 Đài Loan đã ký kết với tập đoàn năng lượng QatarEnergy một hợp đồng bảo đảm các nguồn cung cấp dài hạn trong vòng 27 năm.  Chuyên gia Adrien Simorre lưu ý rằng Đài Loan chấp nhận chi ra rất nhiều tiền để bảo đảm nhu cầu năng lượng mà ưu tiên là để phục vụ ngành công nghiệp bán dẫn, vốn là « lá bùa hộ mệnh » của hòn đảo này trước những tham vọng về địa chính trị của Bắc Kinh. Tuy nhiên, năng lượng - dầu hỏa, khí hóa lỏng ... chỉ là một khía cạnh của cả một vấn đề để cho phép Đài Loan tiếp tục phát triển và giữ vững vị thế trên bàn cờ chip của thế giới. Adrien Simorre phân tích:   « Nhiều người nghĩ rằng ngành bán dẫn chỉ đơn giản là những nhà máy công nghệ cao với các cỗ máy vận hành gần như tự động. Nhưng cuộc khủng hoảng hiện nay cho thấy công nghệ bán dẫn phụ thuộc rất nhiều vào các nguyên liệu đầu vào nhập khẩu mà khí tự nhiên hóa lỏng là một ví dụ. Một thí dụ khác là khí heli. Đây là sản phẩm phụ của quá trình khai thác khí tự nhiên và được sử dụng trong nhiều công đoạn sản xuất chip. Về điểm này, Đài Loan cũng phụ thuộc rất lớn vào Qatar. Trong những năm gần đây, Qatar chiếm khoảng khoảng 80% lượng heli nhập khẩu vào Đài Loan. Nhưng nói đi thì cũng phải nói lại : một ông khổng lồ trong ngành như TSMC đương nhiên tập đoàn này đã có những sự chuẩn bị từ trước : TSMC đã xây dựng kho dự trữ và phát triển các hệ thống tái chế heli rất tiên tiến. Nhưng các doanh nghiệp Đài Loan không phải ai cũng có những bước chuẩn bị như TSMC. Số này có thể phải đối mặt với chi phí sản xuất tăng cao hoặc tình trạng chậm trễ trong sản xuất.  Song nếu cuộc khủng hoảng Trung Đông kéo dài nhiều tháng, điều là hiện vẫn còn quá sớm để dám khẳng định, sẽ tạo ra căng thẳng đối với một số nhà sản xuất chip có biên lợi nhuận thấp hơn, những hãng sản xuất các bộ xử lý phổ thông hơn. Hai bài học trước mắt từ căng thẳng ở eo biển Hormuz là mức độ phụ thuộc rất lớn của trí tuệ nhân tạo vào chip của Đài Loan và hai là bản thân cỗ máy sản xuất của hòn đảo này lại rất dễ đứt gẫy chuỗi cung ứng …». Ba ngõ thoát hiểm Vậy giải pháp nào cho Đài Loan để thoát khỏi thế bế tắc hiện nay ? Adrien Simorre đưa gia ba phương án : « Giải pháp đầu tiên đối với Đài Loan là đa dạng hóa nguồn cung cấp để bớt phụ thuộc vào Trung Đông. Mỹ và Úc có thể là những giải pháp thay thế. Khả năng thứ hai là quay lại với điện hạt nhân – và đây sẽ là một quyết định lớn về mặt chính trị, bởi vì sau tai nạn nhà máy điện hạt  nhân Fukushima năm 2011, Đài Bắc từng quyết định từ bỏ điện hạt nhân. Là một khu vực nằm trên vành đai địa chấn, Đài Loan cũng có những lo ngại tương tự như Nhật Bản. Mục tiêu của Đài Loan khi đó là thay thế điện hạt nhân bằng khí tự nhiên và năng lượng tái tạo. Tuy nhiên, quá trình phát triển năng lượng tái tạo diễn ra chậm hơn dự kiến. Khi lên nắm quyền cách đây hai năm, tổng thống Lại Thanh Đức đã bắt đầu đề cập đến khả năng khôi phục điện hạt nhân. Khủng hoảng ở Trung Đông hiện nay châm thêm củi lửa cho ông Lại Thanh Đức để phát triển điện hạt nhân. Giải pháp thứ ba là tăng cường dự trữ chiến lược : Đài Loan vốn đã triển khai kế hoạch mở rộng năng lực tích trữ LNG, một phần nhằm nâng cao khả năng đối mặt với nguy cơ xung đột hoặc sức ép từ Trung Quốc. Theo tôi, cuộc khủng hoảng hiện nay sẽ khiến Đài Loan gắn liền khái niệm 'an ninh năng lượng' với 'an ninh công nghiệp'. Đây sẽ là một trong những cột trụ trong chiến lược phát triển và an ninh của hòn đảo này. Cụ thể hơn, điều đó cũng có nghĩa là Đài Loan không chỉ chú trọng đến các khoản chỉ dự trữ năng lượng mà còn phải xây dựng những kho dự trữ các nguyên li

    10 min
  4. May 26

    Trong cuộc đọ sức với Hoa Kỳ, Cuba vẫn có thể trông cậy vào Nga và Trung Quốc

    Ngoại trưởng Mỹ hôm 20/05/2026 tuyên bố Washington « quyết tâm » áp đặt một sự thay đổi cho Cuba ». Marco Rubio ngụ ý nói đến một sự thay đổi chế độ ở La Habana ? Chính quyền Trump siết chặt gọng kềm, bóp ngạt kinh tế Cuba. Bên cạnh yếu tố lịch sử lâu đời, gắn liền Washington với La Habana, Nhà Trắng có nhiều lý do để quan tâm đến Cuba.  Với kinh nghiệm hơn 65 năm gần như liên tục bị trừng phạt, không thể xem nhẹ sức kháng cự của La Habana và nhất là khi hòn đảo này được cả Trung Quốc lẫn Nga hậu thuẫn. Ngay từ nhiệm kỳ đầu, (2016-2020), tổng thống Mỹ Donald Trump đã khép lại giai đoạn tan băng giữa Washington với La Habana mà người tiền nhiệm Barack Obama đã mở ra khi chính thức nối lại bang giao với Cuba ngày 17/12/2014. Một năm sau khi trở lại Nhà Trắng, từ đầu 2026 bằng nhiều cách, ông Trump tiếp tục gia tăng sức ép với hòn đảo chỉ cách bang Florida, khoảng 150 km : Cắt các nguồn cung cấp dầu hỏa cho Cuba, đứng đầu là Venezuela và Mêhicô; huy động các công cụ pháp lý và quân sự để làm suy yếu chế độ liên tục cầm quyền tại hòn đảo này từ sau cuộc cách mạng năm 1959. Ngoại trưởng Hoa Kỳ, Marco Rubio một người Mỹ gốc Cuba trong một thông điệp bằng tiếng Tây Ban Nha trực tiếp lên án chế độ ở La Habana « tham ô », « cướp bóc » và « đàn áp » nhân dân, đồng thời hứa hẹn tổng thống Trump đề xuất cho gần 12 triệu dân Cuba một « con đường mới ». 66 năm liên tục phong tỏa Cuba Cách nay gần 12 năm, thông báo tái lập quan hệ ngoại giao với Hoa Kỳ, chủ tịch Cuba khi đó là ông Raul Castro đã nhấn mạnh, « Điều đó không có nghĩa là đôi bên đã giải quyết được vấn đề cốt lõi » : Kinh tế Cuba vẫn bị phong tỏa. Từ năm 1960 Hoa Kỳ đã đưa ra nhiều lý do khác nhau để trừng phạt La Habana. Tổng thống Dwight D. Eisenhower của bên đảng Cộng Hòa viện cớ chế độ Fidel Castro tịch thu các tài sản của Hoa Kỳ tại Cuba, để hạn chế nhập khẩu đường từ hòn đảo này vào Mỹ. Hai năm sau đó, cáo buộc La Habana thân thiện với Liên Xô cộng sản, tổng thống phe Dân Chủ J.F Kennedy đã mở rộng các biện pháp trừng phạt và ban hành lệnh « cấm vận ». Cuba trải qua cuộc khủng hoảng kinh tế đầu tiên vào thời điểm ¾ xuất khẩu của Cuba là để hướng tới thị trường Hoa Kỳ và 70 % nhập khẩu phụ thuộc vào đối tác thương mại Bắc Mỹ này. Năm 1991 khi Liên Bang Xô Viết sụp đổ, mở ra viễn cảnh Mỹ bình thường hóa quan hệ với Cuba, thì Washington lại chủ trương gia tăng áp lực để thúc đẩy tiến trình dân chủ hóa tại quốc gia trong tay nhà cách mạng Fidel Castro. 1991-1994 là một thời kỳ « đen tối » đối với Cuba : GDP của nước này sụt giảm 35 %. Năm 1992 lấy cớ đòi Cuba tôn trọng nhân quyền, dưới thời tổng thống G.H Bush, Hạ Viện Mỹ thông qua đạo luật Torricelli mở rộng thêm nữa các biện pháp trừng phạt Cuba. Hai điểm đáng chú ý trong văn bản này. Thứ nhất là Washington cấm các hãng vận tải đường biển nước ngoài làm ăn với Mỹ giao thương với Cuba. Đây là tai họa đối với một quốc đảo như Cuba. Thứ hai là Hoa Kỳ trừng phạt mọi quốc gia « liên đới » với La Habana. Năm 1996 sau vụ hai máy bay của một tổ chức người Cuba lưu vong xuất phát từ bang Florida bị Cuba bắn hạ - Raul Castro khi đó là bộ trưởng Quốc Phòng, tổng thống Bill Clinton bên đảng Dân Chủ còn mạnh tay hơn với La Habana khi đặt bút phê chuẩn đạo luật Helms-Burton. Nhưng chính những đòn trừng phạt mạnh tay đó cũng đã đè nặng lên một phần các quyền lợi của Hoa Kỳ. Đầu những năm 2000 hiệp hội các nông gia Mỹ có nhu cầu xuất khẩu nhiều hơn sang Cuba. Chính quyền G.W Bush tỏ dấu hiệu nhượng bộ nhưng đó chỉ là một « bàn tay sắt trong vỏ bọc nhung ».  Một chuyên gia về Cuba được nguyệt san Le Monde Diplomatique năm 2015 trích dẫn ghi nhận « chính sách trừng phạt của Mỹ đã dẫn tới những hậu quả tai hại về phương diện y tế cho Cuba » : Gần 80 % các bằng sáng chế trong lĩnh vực này đều thuộc chủ quyền của các tập đoàn của Mỹ hay các chi nhánh của họ, cho nên người dân Cuba trong một nhiều thập niên hoàn toàn không được tiếp cận với bất kỳ một tiến bộ nào về mặt khoa học, y tế, thuốc men. Phải đợi đến sự kiện tổng thống Mỹ Barack Obama bắt tay lãnh đạo Cuba Raul Castro nhân một buổi lễ tưởng niệm cố tổng thống Nam Phi, Nelson Mandela cuối 2013, bang giao giữa Hoa Kỳ với một thuộc địa cũ là Cuba mới rẽ sang một khúc quanh mới. Hai cựu tổng thống Mỹ Jimmy Carter, Bill Clinton khi đã rút lui khỏi chính trường, lên tiếng chống đối chính sách trừng phạt của Mỹ nhắm vào Cuba. Họ nhìn nhận Washington « hoàn toàn thất bại » trên phương diện này. Tổng thống Trump ở nhiệm kỳ đầu đã chấm dứt chính sách tan băng của người tiền nhiệm Obama và còn mạnh tay hơn nữa từ đầu năm nay. Trên đài truyền hình tư nhân BFM TV chuyên gia về châu Mỹ Latinh, Gaspard Estrada Viện Nghiên Cứu Paris Montaigne, khoa Global South trường London School of Economics phân tích việc chính quyền Trump đang bóp ngạt kinh tế Cuba :   « Chính quyền Trump đang làm tất cả để cắt đứt mọi nguồn cung cấp dầu hỏa cho Cuba, từ Venezuela đến Mêhicô. Hậu quả kèm theo rất tai hại đối với người dân Cuba : họ bị mất điện triền miên, không có xăng dầu để di chuyển. Cuba càng lúc càng bị cô lập với thế giới bên ngoài. Washington bóp ngạt kinh tế Cuba để bắt buộc hòn đảo này phải thay đổi chế độ, nhưng dường như chính quyền Trump quên mất rằng, khủng hoảng kinh tế tại hòn đảo này sẽ đẩy người dân Cuba ra biển, tìm đường định cư tại Hoa Kỳ. Điều này sẽ ảnh hưởng đến chính sách nhập cư của Mỹ, đặc biệt là trước bầu cử giữa kỳ. (...) Mục tiêu của tổng thống Trump rất rõ ràng : Đó là làm suy yếu Cuba bằng mọi cách, kể cả việc cắt đứt các nguồn ngoại tệ mà La Habana đang cần để tài trợ cho các dự án khác. Ngay từ nhiệm kỳ đầu, Donald Trump đã chận đầu tư ngoại quốc vào Cuba, đánh vào ngành du lịch của hòn đảo này. Và từ đầu năm nay Washington liên tục ban hành thêm các biện pháp trừng phạt. Như thông lệ Cuba vẫn hô hào phải vùng lên chống đế quốc Mỹ, nhưng lần này, La Habana chủ động đàm phán với Hoa Kỳ. Đây là dấu hiệu rõ rệt nhất cho thấy chế độ đang bị suy yếu. Dù vậy chúng ta không biết đôi bên đang thương lượng về những gì và Mỹ đàm phán với ai ». Yếu tố Nga và Trung Quốc Nhưng lật đổ chế độ Cộng Sản Cuba hay đem lại một sự thay đổi thật sự cho quốc đảo này không là nhiệm vụ dễ hoàn thành. Theo nhà nghiên cứu Jérome Leleu thuộc Trường Cao Đẳng Khoa Học Xã Hội EHESS -Paris, bất chấp những căng thẳng và các biện pháp phong tỏa càng lúc càng cứng rắn mà Mỹ kiên trì áp đặt, liên hệ giữa Washington với La Habana từ năm 1960 đến nay chưa bao giờ « đứt quãng ». Cuba luôn đòi hỏi hai điều : Chấm dứt trừng phạt và trả lại căn cứ quân sự Guantanamo được đặt dưới quyền kiểm soát của Hoa Kỳ từ khi Cuba giành được độc lập năm 1902. Về phía Washington, dưới danh nghĩa Nhà Trắng dù trong tay đảng Dân Chủ hay Cộng Hòa cũng đều đòi La Habana trả lại tài sản cho các doanh nghiệp và tư nhân Mỹ đã bị chế độ Castro tịch thu từ sau cuộc Cách Mạng năm 1959. Vậy thì tổng thống Donald Trump với những áp lực trên nhiều phương diện nhắm vào Cuba từ đầu 2026 liệu có đạt được các mục tiêu mong muốn hay không ? Theo giới phân tích, câu trả lời là không vì Cuba dù mất đi nguồn cung cấp dầu hỏa quan trọng là Venezuela từ đầu năm đến nay, nhưng vẫn có thể trông cậy vào Nga và nhất là Trung Quốc. Trước hết là đối với Nga, trả lời đài RFI Pháp ngữ, Emmanuel Pietrobon, chuyên gia độc lập người Ý về châu Mỹ Latinh nhấn mạnh : Cuba là « vùng ảnh hưởng duy nhất của Nga trong vùng biển Caribe, cho nên Matxcơva dưới chế độ Cộng Sản Liên Xô trước kia hay của tổng thống Putin hiện tại đều phải bằng mọi giá yểm trợ La Habana ». « Nga cần hòn đảo nhỏ này để gây sức ép với Mỹ. Nói một cách ví von, chỉ cần bước ra ngoài ban công là người Mỹ có thể nhìn thấy sự hiện diện của Nga. Do đó, đối với Matxcơva, Cu

    10 min
  5. May 19

    Mỹ- Trung Quốc : Thỏa hiệp ngầm phía sau một cuộc chiến thương mại ?

    Tại thượng đỉnh Bắc Kinh, Donald Trump và Tập Cận Bình đã bắt đầu chuẩn bị cho giai đoạn « hậu chiến tranh thương mại Mỹ-Trung ». Tổng thống Hoa Kỳ luôn lấy những cơ hội kinh doanh làm kim chỉ nam để điều hành đất nước. Chủ tịch Tập Cận Bình quan niệm Trung Quốc « không có bất kỳ một lợi ích nào trong mọi cuộc xung đột, kể cả xung đột thương mại ». Bắc Kinh cần dưỡng sức cho một cuộc song đấu khác. Nhiều chuyên gia Pháp đánh giá như trên sau cuộc tái ngộ giữa lãnh đạo hai siêu cường kinh tế thế giới từ hôm 13 đến 15/05/2026. Một phái đoàn hùng hậu gần hai chục doanh nhân hàng đầu của Mỹ đã tháp tùng tổng thống Trump đến Bắc Kinh. Không ít trong số đó là những người giàu nhất hành tinh, như Elon Musk sáng lập viên hãng ô tô điện Tesla, người từng được chính chủ tịch Trung Quốc tiếp đón. Bên cạnh đó là rất nhiều ông vua công nghệ cao như Apple, Meta, Qualcomm, Nvidia.., là những lãnh đạo các quỹ đầu tư trị giá hàng ngàn tỷ đô la như Blackrock hay Goldman Sachs, và cả những tên tuổi hàng đầu tiêu biểu nhất của nền công nghiệp Hoa Kỳ như tổng giám đốc Boeing. Phần lớn trong số này là những đối tác lâu đời của Trung Quốc. Trước mặt lãnh đạo Trung Quốc, tổng thống Trump khoe : « Chúng tôi có đội ngũ doanh nhân hùng hậu nhất, giỏi nhất và cũng là những doanh nhân hàng đầu thế giới ». Đáp lời nguyên thủ Mỹ chủ tịch Tập Cận Bình nói ông « hoàn toàn tin tưởng những cơ hội tốt hơn đối với các doanh nghiệp Mỹ là tại Trung Quốc ».  Do vậy, giới quan sát cho rằng, với phái đoàn đông đảo các doanh nhân Mỹ như vậy, ông Trump vừa khéo léo nhắc nhở vị chủ nhà về thế thượng phong của Hoa Kỳ trong nhiều lĩnh vực then chốt, vừa để ngỏ cơ hội hợp tác hai chiều. Tổng thống Trump không đến Bắc Kinh để mở ra một chương mới trong chiến tranh thương mại với Trung Quốc. Nhưng điều đó không có nghĩa là căng thẳng song phương sắp được khép lại, bởi vì chiến tranh thương mại Mỹ -Trung chỉ là bề nổi của tảng băng. Cuộc chiến đó cũng có thể là sắp kết thúc để nhường chỗ cho một đối đầu khác khốc liệt hơn. Đó là chiến tranh công nghệ. Nhưng ngay cả về điểm này, bài toán cũng không đơn giản cho cả hai phía. Một sự phụ thuộc « chết người » Điểm qua « tương quan lực lượng » của mỗi bên trên mặt trận « công nghệ » đặc biệt là về trí tuệ nhân tạo, kinh tế gia Alicia García Herrero thuộc trung tâm nghiên cứu Bruegel, trụ sở tại Bruxelles, trong một bài tham luận trên tạp chí Le Grand Continent lưu ý Trung Quốc không « lẹt đẹt » theo sau Hoa Kỳ, Trung Quốc lại vừa có phương tiện tài chính để đầu tư như Mỹ, thậm chí là còn hơn cả Mỹ. Trung Quốc lại nắm giữ một vũ khí vô cùng lợi hại là các khoáng sản chiến lược và kim loại hiếm.  Ở phía đài bên kia, Hoa Kỳ vẫn còn đi trước đối thủ châu Á này vài bước về công nghệ chế tạo chip điện tử, đặc biệt là những loại tiên tiến nhất một phần do tập đoàn Nvidia chế tạo. Có điều « khoảng cách của Mỹ trước Trung Quốc đang được thu hẹp lại ». Để làm chủ cuộc cách mạng về trí thông minh nhân tạo, Mỹ và Trung Quốc đang phụ thuộc vào nhau. Theo quan điểm của bà Alicia García Herrero, trên mặt trận này, Bắc Kinh và Washington mỗi bên « nắm giữ một nửa chìa khóa » của thành công. Do vậy, có lẽ đôi bên đang cân nhắc khả năng hợp tác trong một chừng mực nào đó, ít ra là trong ngắn hạn. Chính ở điểm này, chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình có lẽ đã thành thật khi tuyên bố : « Những lợi ích chung của Trung Quốc và Hoa Kỳ lấn át những bất đồng giữa hai nước. Thành công của mỗi bên là cơ hội cho phía bên kia. Một mối quan hệ ổn định giữa hai quốc gia có lợi cho toàn thế giới ». Biến lợi thế của mình thành vũ khí Như trong nhiều lĩnh vực khác, Mỹ và Trung Quốc vừa là đối thủ của nhau, nhưng lại rất cần đến nhau. Vẫn Alicia García Herrero cho rằng ở thời điểm này Hoa Kỳ và Trung Quốc cùng đang muốn khai thác tối đa lợi thế của mình với đối phương. Lãnh đạo hai nước ý thực được là mỗi bên cần « tạm ngừng chiến » để cho dưỡng sức cho một cuộc đấu dài hơi, đồng thời cũng là để khai thác tối đa những lợi thế đã có, biến chúng thành những vũ khí lợi hại nhất để nhắm vào đối phương. Có điều, do mức độ phụ thuộc vào nhau qua lớn, không một bên nào dám « nổ phát súng đầu tiên » Tại thượng đỉnh tuần trước, ông Tập Cận Bình và Donald Trump chủ yếu tìm kế hoãn binh và cứu vãn thể diện qua hàng loạt những cam kết rất mơ hồ về thiện chí thương mại, hay để ngỏ khả năng mời các nhà đầu tư của đối phương vào hoạt động. Nhà nghiên cứu thuộc viện Bruegel cho rằng đây cũng là cơ hội để đôi bên trình bày rõ với đối phương về những giới hạn tối đa mà mỗi bên có thể chấp nhận được. Đối với phía ông Tập Cận Bình, trước sau như một : lằn rănh đỏ của Bắc Kinh vẫn là Đài Loan. Về phía Washington, đang lúng túng về chiến tranh Trung Đông, giới hạn sau cùng trong mắt tổng thống Trump là Trung Quốc tuyệt đối không được tiếp sức cho Iran về quân sự. Trên đài truyền hình Pháp France5 giáo sư kinh tế Mary Fraçoise Renard, đại học Clermont Ferrand-Auverge trước hết phân tích về quan điểm của Bắc Kinh vào lúc mà Trung Quốc bất đắc dĩ bị tình hình ở eo biển Hormuz đe dọa tăng trưởng.   « Trung Quốc không có bất kỳ một lợi ích nào trong mọi xung đột, dù là với Đài Loan hay bất kỳ một quốc gia nào khác, về thương mại cũng vậy. Hơn nữa chúng ta thấy Bắc Kinh không dấn thân vào bất kỳ một cuộc chiến nào, ngay cả khi một nước bạn của Trung Quốc bị tấn công, như trong trường hợp với Iran. Có điều về Trung Đông, ông Tập Cận Bình muốn là Mỹ thay đổi thái độ nhưng đương nhiên kịch bản đó sẽ không xảy ra. Cho nên về hình thức, thì hai nhà lãnh đạo Trump-Tập đúng là đã đề cập đến một số vấn đề, nhưng về thực chất, thì không có gì thay đổi cả mà đó mới chính là điều quan trọng nhất được ghi nhận sau chuyến công du Bắc Kinh của nguyên thủ Mỹ vừa qua (…) Trung Quốc là khách hàng số 1 của Iran, nhưng Bắc Kinh đã đa dạng hóa các nguồn cung cấp và các đối tác thương mại. Từ nhiều năm qua, kinh tế Trung Quốc đã bớt phụ thuộc vào năng lượng hóa thạch. Bắc Kinh đồng thời lại xây dựng một kho dự trữ năng lượng khá tốt. Nếu như chiến tranh kéo dài thì các nguồn dự trữ đó đương nhiên mai một. Nhưng trước mắt thì tình huống không quá tệ đối với Bắc Kinh, nhất là khi mà Mỹ đang sa lầy … Tổng thống Mỹ sợ lạm phát, ông Tập Cận Bình thì không, bởi vì Trung Quốc đang trong tình trạng giảm phát. Có điều là xung đột ở Trung Đông ảnh hưởng đến cả kinh tế của Mỹ lẫn Liên Âu, đó là hai thị trường xuất khẩu lớn đối với Trung Quốc mà xuất khẩu là động lực của tăng trưởng kinh tế Trung Quốc. Hiện tại tổng kim ngạch xuất khẩu của nước này năm 2025 là 1200 tỷ đô la, mức cao nhất từ sau Thế Chiến Thứ Hai đến nay ».  Mục đích tránh để đối phương « trở mặt »  Giáo sư kinh tế Mary Françoise Renard, đại học Clermont Ferrand-Auvergne điểm lại quan hệ đầy sóng gió giữa hai siêu cường kinh tế thế giới từ khi tổng thống Trump lên cầm quyền từ nhiệm kỳ đầu. Bà đồng thời nhấn mạnh rằng, đôi bên cùng hiểu rõ người đối phương và cần bảo đảm rằng, sẽ không bị phía bên kia « trở mặt ». « Hiện tại Mỹ đánh thuế 10 % vào hàng Trung Quốc, bên cạnh đó thì cũng có những thông báo là thuế hải quan được ấn định ở mức 24 % rồi biện pháp đó lại bị đình chỉ cho đến tháng 11 năm nay. Thành thử đôi bên còn có nhiều điều để mặc cả với nhau. Phía Bắc Kinh đã gián tiếp để ngỏ khả năng là có thể chấp nhận mức thuế tối đa là 10 %. Nhưng nói thật, là 10 % thuế hải quan đánh vào những mặt hàng thông dụng thì cũng không có lợi gì cho các hãng của Mỹ. Thành thử thượng đỉnh lần này Bắc Kinh tập trung vào hồi kết của một cuộc chiến thương mại, với những bảo đảm là đó phải là một thỏa thuận vữ

    10 min
  6. May 12

    Vũ khí : Bí quyết để Hàn Quốc chinh phục thế giới

    Từ những năm 2010, Hàn Quốc từng bước trở thành « một nền công nghiệp quốc phòng trong khu vực Ấn Độ -Thái Bình Dương ». Các doanh nghiệp xứ Hàn đã giành được những hợp đồng lớn kể cả tại châu Âu và đang đề ra tham vọng đến năm 2030 sẽ trở thành một trong bốn nhà cung cấp vũ khí hàng đầu cho thế giới. Phân tích của chuyên gia Kévin Martin, Quỹ Nghiên Cứu Chiến Lược FRS Pháp. Trong giai đoạn 2010–2020, tổng kim ngạch xuất khẩu vũ khí của Hàn Quốc trung bình khoảng 2,4 tỷ đô la một năm, với đỉnh điểm là 3 tỷ rưỡi vào năm 2015. Đến năm 2021, con số này được nhân lên gấp đôi -khoảng 7 tỷ trước khi đạt thành tích thu về 10 tỷ đô la vào năm 2022. Bước sang giai đoạn 2020 - 2025, tổng giá trị xuất khẩu vũ khí của Hàn Quốc đã tăng gấp tám lần. Một thí dụ cụ thể chứng minh cho thành công và sự mở rộng thị trường vũ khí Hàn Quốc sang châu Âu : Hệ thống pháo tự hành K9, từ 2014 đến 2018 Hàn Quốc đã lần lượt chinh phục các thị trường Ba Lan, Phần Lan, Na Uy, Estonia và Roumanie. Lý do là hàng của Hàn Quốc có khả năng tương tác với các chuẩn mực của NATO. Hơn nữa 2014 là thời điểm Nga thôn tính bán đảo Crimée của Ukraina. Theo báo cáo mới nhất Viện Nghiên Cứu Hòa Bình Quốc Tế Stockholm SIPRI công bố tháng 4/2026 trong số các nhà sản xuất và xuất khẩu, Hoa Kỳ vẫn dẫn đầu. Nhưng Hàn Quốc la một nguồn cung cấp lớn của thế giới, vào lúc mà « trong 11 năm liên tiếp, chi tiêu quốc phòng trên thế giới gia tăng, đạt kỷ lục gần 2.900 tỷ đô la trong năm 2025 ». Châu Á – Châu Đại Dương, năm 2025, đã mua 681 tỷ đô la vũ khí và thiết bị quân sự. Đây là mức cao nhất kể từ 2009. Một tháng trước đó, SIPRI ghi nhận xuất khẩu vũ khí toàn cầu đã tăng gần 10% trong giai đoạn 2020-2025. Các hoạt động buôn bán vũ khí trên thế giới « gần như đã quay trở lại mức trước khi kết thúc Chiến Tranh Lạnh vào năm 1989 ». Tháng 12/2025 một phái đoàn của Liên Minh Bắc Đại Tây Dương NATO sang Hàn Quốc. Trong vòng một tuần lễ, phái đoàn NATO đã tham quan hai tập đoàn công nghiệp vũ khí là Hanwha Aerospace và Hyundai Rotem. Các bên thảo luận về tăng cường hợp tác trong các lĩnh vực công nghiệp quốc phòng, công nghệ, cyber và trí tuệ nhân tạo. Đó là những điểm mạnh của xứ Hàn cùng với công nghệ phát triển drone. Seoul cũng đã đầu tư rất nhiều cho công nghệ không gian phục vụ các mục tiêu dân sự, quân sự và Hàn Quốc được biết đến như một « cường quốc » thế giới trong lĩnh vực công nghiệp đóng tàu. Tháng 02/2026 Hàn Quốc gửi đại diện đến Ottawa, Canada để thúc đẩy dự án hợp tác song phương cho phép tập đoàn Hanwha Ocean tham gia chương trình hiện đại hóa đội tàu ngầm của Hải quân Canada. Trong quan hệ giữa Hàn Quốc và Pháp, (Pháp là nhà cung cấp vũ khí thứ hai trên thế giới theo bảng xếp hạng của SIPRI), công du Seoul đầu tháng 4/2026, tổng thống Emmanuel Macron và đồng cấp Lee Jae Myung mong muốn « đẩy mạnh hợp tác trong lĩnh vực công nghiệp quốc phòng ». Trong cuộc trả lời phỏng vấn dành cho RFI Việt ngữ, Kévin Martin chuyên gia công nghiệp quốc phòng, thuộc Quỹ Nghiên Cứu Chiến Lược - FRS lần lượt phân tích những động lực đưa nền công nghiệp quốc phòng của Hàn Quốc đang từ thế phụ thuộc vào Mỹ trở thành một trong những  nhà cung cấp vũ khí và thiết bị quân sự hàng đầu thế giới. Ông trình bày về những tham vọng của Seoul, về chiến lược của Hàn Quốc và nhất là những lá chủ bài của quốc gia Đông Bắc Á này thuần túy về mặt công nghiệp. Trên con đường chính phục thị trường thế giới, từ 2010 đến nay Hàn Quốc đã « gặp nhiều may mắn » với một bối cảnh địa chính trị càng lúc càng « nguy hiểm », nhu cầu tiêu thụ và trang bị của các đối tác từ Trung Đông đến châu Á và nhất là châu Âu tăng mạnh. *** RFI : Cảm ơn Kévin Martin tham gia chương trình hôm nay. Ông đã nghiên cứu nhiều năm về công nghiệp quốc phòng của Pháp, công bố nhiều bài tham luận về các nhà sản xuất mới trỗi dậy trong lĩnh vực rất đặc biệt này. Hàn Quốc đang đề ra tham vọng trở thành một trong bốn nhà sản xuất và xuất khẩu hàng đầu vào ngưỡng 2030. Đâu là điểm khởi đầu của Seoul trên thị trường xuất khẩu vũ khí ? Kévin Martin : « Cần nhắc lại rằng thực tế Hàn Quốc là một nền kinh tế công nghiệp khá mới trên thị trường quốc tế về vũ khí. Nếu nhìn lại một chút về nguồn gốc lịch sử, sau khi giành độc lập, Hàn Quốc hoàn toàn phụ thuộc vào Hoa Kỳ về mặt an ninh trong giai đoạn từ năm 1953 đến những năm 1960. Phải đến từ những năm 1970, Hàn Quốc mới bắt đầu phát triển một ngành công nghiệp quốc phòng mà họ chưa từng có. Do vậy, Seoul đã xây dựng tất cả gần như từ con số không, chủ yếu nhằm bảo đảm nguồn cung để tự phục vụ nhu cầu của chính mình. Chỉ đến những năm 1990, quốc gia Đông Bắc Á này mới bắt đầu có ý định “Hàn Quốc hóa” các trang bị quốc phòng. Cụ thể là triển khai các chính sách nghiên cứu và phát triển nhằm xây dựng một ngành công nghiệp trong nước có khả năng sản xuất, phát triển và thiết kế các hệ thống vũ khí. Những hệ thống này bắt đầu được phát triển với sự hỗ trợ của chính phủ từ thập niên 1990, chủ yếu là để cung cấp cho quân đội quốc gia. Đến khoảng năm 2005, Hàn Quốc mới thực sự nghĩ đến các hoạt động xuất khẩu, tức là tận dụng các lợi ích có thể thu được từ những khoản đầu tư trước đó để phát triển công nghiệp quốc gia trong lĩnh vực đặc biệt này. Trong giai đoạn 2005 -2020, chiến lược của Seoul trước hết nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh so với các đối thủ đã có vị thế vững chắc trên thị trường vũ khí quốc tế. Đồng thời phải có sự hỗ trợ của Nhà nước để giúp chinh phục các thị trường quốc tế. Chỉ từ những năm 2020, chúng ta mới thực sự thấy Hàn Quốc tham gia đầy đủ vào thị trường vũ khí quốc tế, thông qua các hợp đồng, đặc biệt là ở châu Âu, chẳng hạn như hợp đồng với Ba Lan vào năm 2022 ». RFI : Trong bối cảnh « thuận lợi » vừa nêu là châu Âu đang trang bị vũ khí vừa để độc lập hơn với Hoa Kỳ vừa để đề phòng mối đe dọa trước những tham vọng quân sự của Nga. Kévin Martin : « Hoàn toàn đúng. Thực tế, ngay từ những năm 2005, Hàn Quốc đã bắt đầu muốn xuất khẩu các trang thiết bị quốc phòng, cho dù số lượng khi đó còn khá hạn chế. Seoul đã triển khai một chiến lược nhằm thâm nhập thị trường châu Âu, nhưng ban đầu không mấy thành công. Chỉ đến khi xuất hiện một bối cảnh rất thuận lợi vào giai đoạn 2014–2015 khi Nga sáp nhập Crimée thì Hàn Quốc mới thực sự thành công trong việc xuất khẩu thiết bị quân sự. Chính vì thế từ thời điểm này, nhiều quốc gia Đông Âu phải đánh giá lại nhu cầu về năng lực quân sự, và họ đã chuyển sang lựa chọn trang bị của Hàn Quốc. Cụ thể, châu Âu mua vào pháo tự hành K-9, loại vũ khí đã giúp Hàn Quốc lần đầu tiên thâm nhập thị trường châu Âu vào năm 2014. Thực ra, cuộc chiến tại Ukraina do Nga phát động (và leo thang trở lại vào năm 2022) cũng đã tạo điều kiện thuận lợi cho xuất khẩu quốc phòng của Hàn Quốc. Bởi vì Hàn Quốc đáp ứng được nhu cầu cung cấp nhanh và với một khối lượng lớn. Đó là chưa kể, thiết bị của Hàn Quốc lại có khả năng tương thích với các thiết bị mà châu Âu đang sử dụng, đồng thời phù hợp với các tiêu chuẩn vũ khí lưu hành trong khối NATO » RFI : Ba Lan là nhịp cầu đầu tiên đưa vũ khí và thiết bị quân sự Hàn Quốc sang châu Âu ? Kévin Martin : «  Vâng, hoàn toàn đúng. Năm 2022, Hàn Quốc và Ba Lan đã ký kết các thỏa thuận khung mang tính lịch sử. Chính xác hơn là hai thỏa thuận khung cho phép Vacxava mua một số lượng lớn trang thiết bị quân sự, với tổng trị giá lên tới hơn 15 tỷ đô la. Điều đáng chú ý không chỉ nằm ở trị giá hợp đồng, mà chính là chiến lược của Seoul thể hiện qua hợp đồng này. Hàn Quốc không chỉ tập trung vào việc giao hàng nhanh chóng, mà còn đáp ứng các yêu cầu c

    11 min
  7. May 5

    Dầu hỏa : OPEC đang bị « pha loãng » ?

    Giữa lúc « dầu sôi lửa bỏng », một thành viên quan trọng của Tổ Chức Các Nước Xuất Khẩu Dầu Hỏa OPEC chính thức rời khỏi mái nhà chung ngày 01/05/2026. Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất (UAE) đã chuẩn bị nước cờ này từ lâu năm. « Đợt sóng ngầm » này xuất phát từ đâu và hậu quả nào trên bàn cờ năng lượng quốc tế vào lúc mọi chú ý vẫn tập trung vào chiến tranh Iran và việc eo biển Hormuz bị phong tỏa ? OPEC và OPEC+ vừa mất thêm một thành viên sau khi Qatar (2019) và Angola (2024) đã rời đi. Quyết định của Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất (UAE) tiếp tục làm suy yếu trọng lượng của toàn khối trên bàn cờ năng lượng quốc tế nhưng lại có lợi cho Hoa Kỳ. Mỹ không tham gia OPEC hay OPEC+. Còn đối với các quốc gia nhập khẩu dầu, sự ra đi này có đem lại những thay đổi nào hay không ? Cạnh tranh khốc liệt giữa các nguồn cung cấp dầu Trong một chương trình trên đài truyền hình tư nhân BFM TV, chuyên gia Hervé Goulletquer, thuộc công ty tư vấn độc lập Accuracy, chi nhánh tại Paris, nhận định là không.    « Trong ngắn hạn, không có gì thay đổi bởi vì hiện nay eo biển Hormuz đang bế tắc, cản trở các hoạt động xuất khẩu dầu. Điểm thứ nhì là quyết định này làm suy yếu OPEC do có một sự rạn nứt. Trọng lượng của tổ chức này qua đó bị giảm đi. Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất bảo đảm khoảng 13 % lượng dầu trong toàn khối và là nguồn cung cấp lớn thứ ba sau Ả Rập Xê Út và Irak (dầu của Iran vốn đã bị phong tỏa từ nhiều năm). Tuy nhiên cũng phải nói thêm rằng, từ trước đến nay UAE luôn là một thành viên bướng bỉnh, không chấp hành nghiêm chỉnh các quy định chung. Nhìn dưới kía cạnh chính trị thì sự suy yếu của khối các quốc gia xuất khẩu này chứng tỏ thị trường dầu hỏa thế giới rất dễ bị dao động. Điểm thứ ba là trước viễn cảnh tiêu thụ dầu hỏa có thể là sẽ giảm trong dài hạn - với những mục tiêu chuyển đổi năng lượng, bớt phụ thuộc vào năng lượng hóa thạch ..., cho nên Abu Dhabi muốn tận dụng thời điểm hiện tại để khai thác tối đa và xuất khẩu được nhiều chừng nào tốt chừng nấy, rồi đem nguồn thu nhập này đầu tư để phát triển những lĩnh vực khác, giảm bớt phụ thuộc vào công nghiệp dầu hỏa sau này. Trong tính toán đó, UAE không quan tâm nhiều đến mục tiêu phải giữ giá dầu trên thị trường quốc tế như quan điểm của Riyad.  Sau cùng về mặt ngoại giao, khó có thể hy vọng các nước trong Vùng Vịnh sẽ được ổn định. Căng thẳng giữa Abu Dhabi với Riyad đã quá rõ. Ảo ảnh về một sự ổn định trong khu vực này hoàn toàn sụp đổ sau quyết định của UAE bước ra khỏi OPEC ».  Năm 2019 Qatar đã rời khỏi tổ chức OPEC để tập trung phát triển ngành công nghiệp khí đốt, đồng thời « giành lại quyền định đoạt tương lai ». Hiện tại, cả Ả Rập Xê Út lẫn Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất cùng đang rất cần vốn để chuyển đổi mô hình phát triển kinh tế, chuẩn bị cho thời đại « dầu hỏa không còn là vua ». Nhưng Riyad và Abu Dhabi lại đi theo hai hướng khác nhau. Hai cột trụ năng lượng trong Vùng Vịnh này đang lao vào một cuộc cạnh tranh khốc liệt. Tranh thủ thị trường Mọi người chờ đợi một khi chiến tranh Iran kết thúc, eo biển Hormuz được giải tỏa, giao thương hàng hải trở lại bình thường, tất cả các nhà cung cấp trong Vùng Vịnh, kể cả Ả Rập Xê Út hay Iran, đều đua nhau « giải phóng » những lượng dầu bị tồn kho trong những tuần lễ xung đột. Trong giai đoạn từ 28/02/2026 đến ngày 01/05/2026 khả năng sản xuất của các quốc gia dầu hỏa trong Vùng Vịnh chỉ còn có 10 % so với trước nhưng rất hiếm những chuyến tàu dầu vượt ra khỏi được « vùng chiến sự » này do lệnh phong tỏa kép của Mỹ và Iran. Hiện tại bản thân Iran đang đau đầu vì đang phải tìm những kho để trữ dầu vẫn kẹt lại ở phía trong eo biển Hormuz. Nói các khác một khi « cửa biển này » hoạt động trở lại bình thường, sẽ có không ít nhà cung cấp hối hả đi tìm các nguồn tiêu thụ để giải quyết hàng tồn kho, đế lấp đầy lại những thiếu hụt ngân sách trong thời gian chiến tranh. UAE muốn « đi trước một nước cờ » để không bị bất kỳ một hạn ngạch hay luật chơi chung nào của OPEC trói buộc. Một một chiến lược được chuẩn bị từ trước Giám đốc công ty tư vấn chuyên về năng lượng, Carole Nakhle được báo L’Orient Le Jour trích dẫn hoàn toàn không bất ngờ với quyết định chia tay nói trên cho dù UAE là thành viên toàn phần từ 1967. Bà giải thích, nhà cung cấp này từ lâu nay đã bất mãn về chính sách chung của OPEC do Ả Rập Xê Út áp đặt. UAE đã đầu tư rất nhiều cho tương lai để bớt phụ thuộc vào vàng đen. Riyad, tiếng nói có trọng lượng nhất trong khối OPEC thì lại chủ trương « hạn chế mức cung » để giữ giá dầu trong lúc Abu Dhabi muốn xuất khẩu « nhiều chừng nào tốt chừng nấy ». Theo thể thức vận hành chung được quy định từ 56 năm nay, OPEC ấn định những quota cho mỗi thành viên. Vì luật chơi chung này, UAE chỉ được sản xuất 3,4 triệu thùng dầu mỗi ngày, trong lúc năng suất thực sự của Abu Dhabi là hơn 4,8 triệu thùng/ngày. Từ hơn 5 năm nay UAE đã đầu tư 150 tỷ đô la để nâng cao khả năng sản xuất và cung cấp đến 5 triệu thùng một ngày cho thế giới ngay từ 2027. « Chính sách chung của OPEC không còn phù hợp với lợi ích của Abu Dhabi » (Bộ trưởng Năng Lượng UAE) Điểm thứ nhì theo Mohammed Baharoom, giám đốc Trung Tâm Nghiên Cứu Chính Trị tại Dubai được báo Le Monde trích dẫn, « ít nhất là từ 4 năm nay Abu Dhabi đã muốn ra khỏi OPEC » nhằm « phục vụ tốt hơn các đối tác chiến lược như với Ấn Độ, Hàn Quốc và cả Hoa Kỳ ». Những đối tác này là « cột trụ bảo đảm an toàn về mặt kinh tế cho UAE ». Yếu tố Hoa Kỳ Mỹ là một yếu tố trong bài toán của UAE. Trên đài truyền hình Nhà nước Franc5, giáo sư Patrice Geoffron chuyên về năng lượng giảng dậy tại Đại học Paris Dauphine nhìn nhận Abu Dhabi chia tay tổ chức OPEC sau gần 60 năm chung sống trước hết là vì lợi ích quốc gia nhưng Hoa Kỳ là bên hưởng lợi nhiều hơn cả :   « Tổ chức OPEC được hình thành từ thập niên 1960, với mục đích là điểu chỉnh lượng dầu sản xuất vì lợi ích chung. Ý tưởng ban đầu là một nghĩa vụ liên đới với nhau, phân định xem mỗi thành viên được sản xuất, xuất khẩu bao nhiêu thùng dầu mỗi ngày để giữ giá trên thị trường. Ra khỏi OPEC có nghĩa là Abu Dhabi không còn phải thể hiện liên đới với các thành viên khác, không bị trói buộc vì các khoản quota, không còn phải tuân thủ chính sách chung. Sự ra đi này có lợi cho hai quốc gia là Nga và Mỹ. Nga là thành viên OPEC+ và do đang phải đài thọ chiến tranh Ukraina hiện nay, nên Matxcơva muốn xuất khẩu nhiều, không bị ràng buộc vì những cam kết về hạn ngạch với Riyad. Còn Mỹ thì không là thành viên OPEC nên sẽ hài lòng thấy khối này bị suy yếu. Đây là cơ hội cho các nhà sản xuất dầu ở Hoa Kỳ sản xuất nhiều hơn ». Hiện tại giá dầu đã vượt ngưỡng 110 thậm chí có lúc là 120 đô la một thùng, hoàn toàn do tình hình ở eo biển Hormuz. Theo chuyên gia về năng lượng Carole Nakhle, « trong ngắn hạn, giá dầu trên thị trường quốc tế do các yếu tố địa chính trị quyết định. Giá cả chuyển động tùy theo tình hình ở eo biển Hormuz, những biến cố có thể xảy ra tại Venezuela ». Nhưng về lâu dài thì khác. Theo bà Carole Nakhle, ra khỏi OPEC có nghĩa là UAE đã chuyển sang thế tấn công, sẵn sàng bơm thêm dầu vào thị trường, làm hạ nhiệt giá dầu, « đáp ứng yêu cầu của Washington ». Donald Trump từ lâu nay vẫn đòi OPEC « mở thêm van dầu » để xăng dầu bán ra trên thị trường Mỹ giảm giá. Tổng thống Mỹ đang cần được cử tri ủng hộ trước bầu cử giữa kỳ tháng 11/2026. Một tổ chức các quốc gia xuất khẩu dầu hỏa mà càng suy yếu, càng có lợi cho Hoa Kỳ. Năm 2025, OPEC chiếm khoảng 30% nguồn

    9 min
  8. Apr 28

    Thất bại của Mỹ sau một năm chiến tranh thuế quan

    Chính quyền Trump hôm 20/04/2026 bắt đầu tiếp nhận đơn của các công ty nhập khẩu Hoa Kỳ đòi hoàn trả 166 tỷ đô la đã phải nộp cho chính phủ từ một năm qua. Tối Cao Pháp Viện Mỹ bác bỏ thẩm quyền của tổng thống áp đặt các các hàng rào thuế quan với toàn thế giới nhưng chiến tranh thương mại do Nhà Trắng khai mào chưa tới hồi kết. Washington thất bại trên ba mục tiêu : kiềm tỏa xuất khẩu Trung Quốc, thu hẹp thâm hụt mậu dịch của Hoa Kỳ và đưa nước Mỹ trở lại trung tâm bàn cờ công nghiệp thế giới. Thay đổi duy nhất là trật tự thương mại quốc tế đã rẽ sang một khúc quanh mới.     Chuyển biến trong một năm, từ Ngày Giải Phóng nước Mỹ 02/04/2025. Đúng hai tháng sau phán quyết ngày 20/02/2026 của Tối Cao Pháp Viện, các công ty nhập khẩu của Mỹ bắt đầu có thể đòi Sở Quan Thuế và Biên Phòng (CBP) hoàn trả 166 tỷ đô la mà họ đã phải nộp từ khi ông Donald Trump ban hành biện pháp thuế đối ứng 02/04/2025. Hiện tại, hơn 330.000 công ty nhập khẩu của Mỹ, đã có 56.500 đòi CBP bồi hoàn. Thủ tục đòi lại tiền thuế cho các doanh nghiệp Mỹ sẽ không đơn giản. Nhìn từ góc độ của người tiêu dùng, câu hỏi quan trọng nhất là liệu các công ty nhập khẩu của Mỹ có hoàn trả lại cho các khách hàng khoản thuế hải quan « không hợp pháp » mà họ đã thu vào từ một năm nay hay không. Trong Vườn Hồng của Nhà Trắng cách nay hơn một năm tổng thống Donald Trump tuyên bố : « Mồng 2 tháng Tư năm 2025 sẽ mãi mãi được khắc khi trong ký ức như một ngày công nghiệp của Hoa Kỳ hồi sinh, ngày để chinh phục lại vận mệnh của nước Mỹ và là ngày đòi lại tài sản cho Hoa Kỳ ». Lập tức thuế hải quan đánh vào hàng nhập khẩu vào Mỹ tăng 10 rồi 50 %. Trong đợt đầu tiên này, Việt Nam bị lãnh mức thuế 46 %. Cam Bốt và Lào là 49 và 47 %. Cả thế giới, từ Liên Hiệp Châu Âu, Anh Quốc, Thụy Sĩ … đến Nhật Bản, Hàn Quốc hối hả đến Washington đàm phán với hy vọng thuyết phục được chính quyền Trump về thiện chí thu hẹp thặng dư mậu dịch với Mỹ. Các nền kinh tế Đông Nam Á không là một ngoại lệ. Sau nhiều vòng đàm phán, tháng 7/2025 Việt Nam cuối cùng đạt được thỏa thuận để hàng xuất khẩu sang Mỹ chịu mức thuế 20 % (thuế 40 % nếu là hàng hóa trung chuyển). Liên Hiệp Châu Âu, Nhật Bản và Hàn Quốc bằng lòng với mức thuế hải quan 15 %. Ấn Độ, Brazil, là những nhà đàm phán không dễ vâng lời. Riêng Trung Quốc là một ngoại lệ : Chẳng những Bắc Kinh không vội vàng thương lượng với Nhà Trắng mà còn tung đòn đáp trả, chuyển từ thế thủ sang thế tấn công đúng nghĩa « ăn miếng trả miếng » để rồi đôi bên tuyên bố « tạm ngừng ». Tháng 10/2025 tổng thống Donald Trump và chủ tịch Tập Cận Bình gặp nhau tại Hàn Quốc và trên nguyên tắc trong hai tuần nữa (tháng 5/2026) nguyên thủ Mỹ công du Bắc Kinh. Thương mại vẫn là trọng tâm thượng đỉnh Mỹ-Trung Cuộc chiến còn dài Tháng 2/2026, gần một năm « Giải Phóng nước Mỹ » với đòn thuế đối ứng, tổng thống Trump phẫn nộ trước phán quyết của Tối Cao Pháp Viện. Ông cho rằng phán quyết này cho phép các đối tác nước ngoài tiếp tục « bòn rút » tài nguyên của Hoa Kỳ. Vào lúc mà các công ty nhập khẩu Mỹ bắt đầu đòi « hoàn trả » 166 tỷ đô la đã nộp « oan uổng » cho chính phủ, thì cũng ông Trump cảnh báo, ông sẽ « để bụng » những doanh nghiệp nào dám đòi được hoàn trả thuế hải quan. Những công ty đó, không « thông minh » và không « yêu nước ». Nhà kinh tế Denis Ferrand giám đốc công ty tư vấn Rexecode-Paris, trên đài phát thanh France Info hôm 21/02/2026 ghi nhận : « Đối với Donald Trump phán quyết của Tối Cao Pháp Viện là một vố đau, bởi vì ông luôn coi thuế quan là cột trụ trong chính sách của mình. Ngay nhiệm kỳ đầu tổng thống Mỹ đã sử dụng lá bài này, nhưng chỉ là để đối đầu với Trung Quốc. Rồi Washington và Bắc Kinh đã liên tục đàm phán … Trong nhiệm kỳ 2 Trump lại đem chiêu bài này ra nhưng là để áp đặt với toàn thế giới. Ông coi đây là một công cụ để đạt được những mục tiêu đã đề ra, thậm chí là công cụ để gây áp lực, để đòi các đối tác thương mại của Hoa Kỳ đầu tư trên đất Mỹ, làm sống lại nền công nghiệp của Hoa Kỳ, để rồi Mỹ lại đóng vai trò đầu tàu dẫn dắt thế giới ». Nhưng tổng thống Mỹ không chịu buông tay. Ngay sau phán quyết của Tối Cao Pháp Viện, Donald Trump lập tức ban thêm một đợt thuế mới 15 % (ban đầu là 10 %) có hiệu lực trong vòng 150 ngày. Cho đến tuần này, lãnh đạo Nhà Trắng vẫn dùng đòn thuế quan, công cụ ông yêu thích nhất, để đòi phạt các đối tác không ủng hộ Mỹ trong cuộc chiến chống Iran, không giúp Hoa Kỳ mở cửa eo biển Hormuz đang bị Iran phong tỏa. Cần lưu ý rằng phán quyết hôm 20/02/2026 của Tối Cao Pháp Viện Mỹ không liên quan đến một số trường hợp như thuế đánh vào nhôm, thép (vẫn là 50 %) và xe hơi (vẫn là 25 %) của nước ngoài bán sang thị trường Mỹ. Nói cách khác, cuộc chiến thuế quan Donald Trump khởi xướng chưa tới hồi kết. Thuế đối ứng, gánh nặng đối với Hoa Kỳ Trong 12 tháng qua, các nạn nhân đầu tiên từ chính sách này là người tiêu dùng ở Mỹ. Isabelle Méjean chuyên gia về thương mại quốc tế trường Khoa Học Chính Trị Paris giải thích trên kênh truyền hình Pháp Public Sénat :  « Người tiêu dùng Mỹ trả giá cho các đòn thuế quan đó. Hơn nữa chính sách này đã không cho phép khởi động lại đầu tư vào các nhà máy công nghiệp ở Hoa Kỳ như từng hứa hẹn, và cũng không đem lại việc làm cho người lao động. Trong năm qua kinh tế và chứng khoán phát triển nhờ những khoản đầu tư rất lớn vào công nghệ trí tạo thông minh (…) Cả thế giới lập tức lao vào một cuộc chạy đua với thời gian để đàm phán với Washington, mong được giảm mức thuế khi xuất khẩu hàng sang Hoa Kỳ, để tránh phải trực diện lao vào một cuộc đối với chính quyền Trump. Do vậy có thể nói về phương diện ngoại giao, Donald Trump đã ghi được một bàn thắng khi củng cố vị trí của nước Mỹ ». Bộ Tài Chính Mỹ thu tiền của dân Mỹ Kinh tế trưởng của ngân hàng Pháp BNP, Nathalie Benatia phân tích thêm :   « Rất rõ ràng là người tiêu dùng Mỹ gánh chịu các khoản chi phí phụ trội. Thành công duy nhất là khi tăng thuế hải quan, bởi đây là một hình thức thu thuế, nên tiền mà chính quyền liên bang thu vào được nhiều hơn, ước tính là đã thu thêm được khoảng 264 tỷ đô la trong năm 2025. Để so sánh, hồi 2024 khoản thu vào từ thuế hải quan này chỉ là 80 tỷ đô la. Nhưng chỉ cần đặt câu hỏi, ai đã chuyển số tiền 264 tỷ đó vào công quỹ Nhà nước thì câu trả lời hiển nhiên là người dân Mỹ, là người tiêu dùng ở Mỹ. Có điều với quyết định của Tòa Án Tối Cao hôm 20/02/2026 thì 2 phần ba khoản bội thu 264 tỷ vừa nói, có thể sẽ phải hoàn trả lại cho các công ty nhập khẩu của Hoa Kỳ, nếu có yêu cầu, để rồi số này phải trả lại cho khách hàng … » Theo nghiên cứu của viện nghiên cứu của Đức, Kiel Institute, 96 % thuế hải quan mà tổng thống Trump ban hành là do các công ty và người tiêu dùng ở Mỹ gánh chịu, 4 % còn lại đè nặng lên các nhà sản xuất và xuất khẩu muốn chen chân vào thị trường Hoa Kỳ. Báo cáo của đại học Yale chỉ ra rằng trong năm 2025, trung bình mỗi hộ gia đình ở Mỹ phải chi thêm 1.751 đô la vì các biện pháp thuế quan nói trên. Điều đó cũng có nghĩa là vì loại thuế này mà lạm phát ở Mỹ tăng lên thêm trong năm qua. Giá tiền ga tăng 11 % (trước khi nổ ra chiến tranh Trung Đông), tiền điện tăng thêm 6,7 %. Thất bại 3 KHÔNG  Về câu hỏi thuế đối ứng của Mỹ có cho phép Hoa Kỳ thu hẹp nhập siêu với các bạn hàng hay không thì câu trả lời là không. Báo cáo Brookings Papers on Economic Activity công bố tháng 3/2026 kết luận « chính sách thuế quan của ông Trump khiến 2025 trở thành một năm đặc biệt có nhiều biến động về kinh tế ». Trung Quốc cũng như châu Âu không phải là những bên gánh chịu nặng nhất thuế hải quan của ông Trump. Theo Cục Dự Trữ Liên Bang Hoa Kỳ, thâm hụt mậu dịch của Mỹ trong năm 2025 tăng thêm 2 % so với hồi 2024 và đạt ngưỡng kỷ lục 1.240 tỷ

    10 min

About

Hồ sơ kinh tế nổi bật, kinh nghiệm hoạt động của giới doanh nhân

More From RFI Tiếng Việt

You Might Also Like