Tạp chí Xã Hội

Những vấn đề xã hội Việt Nam và trên thế giới qua lăng kính RFI

  1. 1d ago

    Anh quốc: Thủ tướng Burnham muốn tăng số trường dạy nghề cho thanh thiếu niên

    Một trong những quyết sách của thủ tướng Anh, Andy Burnham, khi lên nhậm chức giữa năm nay, 2026, là điều chỉnh hệ thống giáo dục trên cấp phổ thông ở Anh, nhằm tăng số trường nghề, các khóa đào tạo kỹ năng thực tiễn cho thanh thiếu niên, thay vì chỉ tập trung vào cấp đại học. Ông Burnham, cựu thị trưởng Manchester, còn muốn dư luận thay đổi nhãn quan, không nên coi đại học là con đường tiến thân duy nhất cho thế hệ trẻ. Vậy sáng kiến về chính sách giáo dục mới này của ông có gì đặc biệt và liệu có giúp thay đổi nền kinh tế Anh quốc? Thông tin viên Nguyễn Giang từ Luân Đôn đã theo dõi chủ đề này. RFI: Đầu tiên xin anh cho biết vì sao ông Burnham nêu ra ưu tiên về học nghề hơn là học đại học? Nguyễn Giang: Đầu tiên phải nói là thời điểm thủ tướng Andy Burnham đưa ra chính sách “thay đổi cơ bản hệ thống giáo dục” ở cấp trên phổ thông tại Anh, đã đánh trúng vào một mong đợi của công chúng và các bậc cha mẹ ở Anh về một sự thay đổi lớn. Ngay trong tuần ông Burnham lên nhậm chức ngày 20/07/2026, phủ thủ tướng Anh (hôm 26/07) đã tung ra nghị trình thay đổi 4 lĩnh vực: quốc phòng, phân quyền cho các địa phương, an sinh xã hội, và giáo dục dạy nghề (vocational education). Như thế, về mức độ ưu tiên thì chiến lược cải tổ giáo dục được đặt ngang hàng với quốc phòng.   Có lý do trực tiếp và gián tiếp cho chính sách giáo dục ưu tiên trường nghề hơn trước đây. Một là, về tác động trực tiếp, dư luận Anh đang lo lắng về làn sóng sa thải giảng viên, giáo sư hàng chục đại học diễn ra hơn 2 năm qua. Chỉ mùa hè năm nay, có tin nói hàng vạn giảng viên, nhân viên các đại học đã, đang và sắp mất việc, vì ngân sách của khoảng 120 đại học ở Anh bị thâm hụt. Điều này không chỉ khiến người ta lo ngại về sự lãng phí đầu tư quốc gia vào giáo dục đại học (higher education)  nói chung, mà còn khiến người ta lo ngại cho tương lai của thanh thiếu niên ở Anh nói riêng. Đây chính là câu hỏi dài hơi hơn: bằng đại học nay có giá trị gì? Thực tế là trong khi thị trường lao động sau đại dịch COVID-19 vẫn yếu, việc áp dụng AI (trí tuệ nhân tạo) khiến nhiều ngành học bị mất giá. Hệ quả là sinh viên tốt nghiệp đại học ra trường vẫn thất nghiệp khá nhiều.  Ngoài ra, về mặt xã hội, ở Anh hiện có nhóm NEET (Not in Education, Employment and Training), gồm 1,02 triệu thanh thiếu niên 16-24 tuổi không học hành, không làm gì cả, đang là gánh nặng lớn cho ngân sách. Chính phủ bỏ ra hàng năm 125 tỷ bảng để chu cấp cho họ. Vì thế, chính ông Burnham đã nêu ra chính sách là “coi các trường nghề có uy tín, có giá trị ngang các trường đại học”, để mở một lối đi rộng hơn cho các bạn trẻ không vào đại học. Ông cũng nói nước Anh “đi vào con đường sai lầm” là quảng bá quá mức cho đại học (overpromote universities) và phê phán văn hóa gây sức ép lên học sinh, sinh viên và gia đình của họ bởi “các xưởng thi cử” (exam factories). Chính phủ Anh nêu ví dụ về Hà Lan và Đức, nơi có các trường nghề mạnh và nền công nghiệp địa phương phát triển, và muốn Anh học theo các nước đó. RFI: Như thế có phải từ trước tới nay các trường dạy nghề ở Anh bị cho là kém hơn đại học? Anh có thể giải thích vì sao có sự phân biệt đó? Nguyễn Giang: Vương quốc Anh thực ra chỉ có chừng 160 đại học được công nhận là ‘university’ (đại học tổng hợp), và khoảng vài chục viện đại học có chứng chỉ tương đương, tạm cho là 200 cả thảy. Các cơ sở này, tuy nhiên, đào tạo ra ít nhất là 2,5 triệu sinh viên tốt nghiệp mỗi năm, với đầu vào chừng 2,8 triệu em nhập học niên khóa 2024-25.  Số trường nghề, còn gọi là ‘vocational college’ hoặc có chỗ là ‘technological college’ có từ 380 tới 400 cơ sở trên cả nước nhưng chỉ đào tạo khoảng 1,6 triệu học viên mỗi năm. Họ dạy các nghề dịch vụ như chăm sóc sức khỏe (làm y tá, hộ lý), thiết kế công nghiệp (industrial design), công nghệ thông tin, xây dựng. Sự khác biệt với đại học là các trường nghề nhận học viên từ 16 tuổi.  Ở Anh hiện nay, học sinh sau lớp 10 không muốn học tiếp hệ dự bị đại học để lên university thì chọn trường nghề. Họ học từ năm 16 đến 18 tuổi (3 năm) rồi nhận vị trí thực tập ở các bệnh viện, công trường, công ty. Lý do lịch sử, phân biệt giai cấp khiến trường nghề không có uy tín như trường đại học. Ở đây còn có định kiến trong xã hội Anh cho rằng trường nghề là chỗ “đón sinh viên thi trượt” (fallback option) cho những bạn không vào được đại học. Các vị trí nghề nghiệp sau trường nghề thường gắn với lao động không hẳn là chân tay, nhưng không phải là công việc mang tính trí thức, học thuật (academic), nên có sự phân biệt đối xử. RFI: Chính sách của ông Burnham có gì mới với các trường dạy nghề, thưa anh? Nguyễn Giang: Đầu tiên, phủ thủ tướng Anh muốn áp dụng trên cả nước Anh chương trình dạy nghề mà ông Burnham đã áp dụng ở Manchester, gọi là Manchester Baccalaureate (Mbacc).  Tôi có tìm hiểu chương trình này, hiện mới triển khai tới năm thứ 2, như một phần của Viễn kiến 2030 cho đại đô thị Manchester, thì thấy có nhiều điểm thú vị. Thứ nhất, họ coi Giáo dục, Việc làm và Kỹ năng (Education, Work and Skills) là một chuỗi liên kết, chứ không phải cứ dạy rồi sau đó ai tốt nghiệp ra trường tự đi mà tìm việc. Ở Manchester, họ làm ngược lại, chọn xuất phát điểm là thị trường việc làm, kết nối ngay với các doanh nghiệp, các công ty dịch vụ giao thông, y tế, thiết kế đô thị, và dựa trên nhu cầu việc làm mới xác định các nhóm kỹ năng, từ đó xây dựng chương trình học (curriculum) và chọn cách đào tạo cho học viên. Người ta nhấn mạnh tới các kỹ năng thiết thực, chứ không học lý thuyết suông nữa. Thứ nhì, để thành công thì ba bên đều cam kết với nhau: công ty cam kết sẽ tuyển nếu bên đào tạo dạy được những học viên theo chương trình; trường nghề sẽ phải làm những gì thị trường yêu cầu; và học viên, sau khi làm bài thẩm định (quiz) về kỹ năng cá nhân, sở thích, sẽ ghi danh chọn khóa học họ muốn. Hệ thống tất nhiên không  bắt công ty A phải tuyển học viên B… hay bắt ai phải chọn việc này, việc kia, nhưng đảm bảo sẽ cho người học con đường tới việc làm tốt (guarantee a clear line of sight to good jobs). Kinh nghiệm của Manchester là công ty, cơ sở lao động tới trường cấp II, trình bày, chia sẻ với các học sinh ở tuổi chọn chỉ GCSE (chứng chỉ tốt nghiệp phổ thông) về các chương trình thực tập. Các em nào ở tuổi mới có 14-15 đã muốn chọn học nghề và đi thực tập, để năm 16 tuổi có chứng chỉ, rồi đi làm luôn, được khuyến khích. Điểm thứ ba, mà tôi thấy quan trọng là khi cho triển khai McBacc ra cả nước, chính phủ Anh muốn kỹ năng số (digital skills), vốn thân thuộc với thế hệ này, phải trở thành một phần của chương trình đào tạo. Để triển khai cải cách này, chính phủ Anh cũng sẽ bỏ vào nhiều tỷ bảng từ nay tới 2030 để hỗ trợ việc phối hợp giữa cơ sở cung cấp việc làm và cơ sở đào tạo (employment-education alignment). Thiếu hai mắt xích này thì cải cách trở nên vô nghĩa. RFI: Theo những đánh giá sơ bộ tại Anh quốc, cách tăng uy tín và nội dung thiết thực cho trường nghề, cùng đầu tư của chính phủ,  có đem lại kết quả hay không? Nguyễn Giang: Hiện còn quá sớm để đánh giá chương trình tăng giá trị thực tiễn và uy tín của trường nghề tại Anh có hiệu quả tới mức nào. Một đánh giá sơ bộ của nhà báo Rachel Sylvester đăng trên tờ The Observer tại một số trường ở Manchester cho thấy các trường tham gia chương trình McBacc sớm trong 18 tháng qua, thì có 0% học sinh lớp 10 bỏ học, so với con số 3,8% ở các trường còn lại.  Các báo khác ở Anh bình luận rằng việc triển khai ra cả nước mô hình nói trên sẽ còn phụ thuộc nhiều vào cấu trúc kinh tế từng vùng miền. Ví dụ, ở các làng quê thì nhu cầu tuyển người làm nông nghiệp rất ít, vì đó thường là các doanh nghiệp gia đình. Ở các nơi thất nghiệp đang cao sẵn rồi thì việc ưu tiên chọn các thiếu niên 17-18 tuổi vào làm sẽ khi

  2. Oct 21

    Thị trường lao động quốc tế và xu hướng dịch chuyển lao động phổ thông Việt Nam

    Thị trường lao động quốc tế đang chứng kiến sự dịch chuyển đáng kể của lao động phổ thông Việt Nam trong những năm gần đây, nhất là từ sau đại dịch Covid-19. Bên cạnh các thị trường quen thuộc tại châu Á, nhiều điểm đến mới tại châu Âu, Úc và Bắc Mỹ đang dần trở nên hấp dẫn hơn, phản ánh sự thay đổi cả về nhu cầu tuyển dụng và chính sách nhập cư của các quốc gia tiếp nhận. Để hiểu thêm về sự thay đổi này, RFI đã có cuộc phỏng vấn ông Nguyễn Đức Việt, tổng giám đốc của công ty phát triển nguồn nhân lực MD Việt Nam, chuyên về dịch vụ giới thiệu nguồn nhân lực ra nước ngoài. RFI : Xu hướng dịch chuyển các thị trường lao động nước ngoài đối với lao động phổ thông Việt Nam trong những năm gần đây diễn ra như thế nào ? GĐ.Nguyễn Đức Việt : Trong khoảng vài năm trở lại đây, đặc biệt là sau dịch Covid thì xu hướng dịch chuyển của lao động Việt Nam ra quốc tế đã thay đổi khá nhiều và khá là rõ nét. Thị trường truyền thống thì trước đây bao gồm ví dụ Nhật Bản. Trong nhiều năm, con số chúng ta có là từ khoảng 50.000 đến 80.000 lao động sang làm việc ở hạng mục là lao động phổ thông. Ngoài ra, còn có thêm những lao động có tay nghề. Đài Loan thì cũng đều đặn hàng năm có từ khoảng 40.000 đến khoảng 70.000 lao động mới sang làm việc. Hàn Quốc thì có thể sẽ ít hơn và tùy theo những hạn mức mà chính phủ Hàn Quốc cấp cho Việt Nam. Hiện nay, thường là các đơn vị chủ quản của nhà nước là những đơn vị triển khai chính, gồm visa E9 - chương trình EBS, hoặc visa E8 là chương trình thời vụ 5 tháng hoặc 8 tháng. Đấy có thể nói là ba thị trường truyền thống nhất mà nhiều năm qua Việt Nam đang đưa người lao động đi nước ngoài và có sự quản lý rất chặt chẽ của nhà nước. Hiện nay thì chúng tôi thấy đang có sự mở rộng rất mạnh mẽ sang những quốc gia đặc biệt là ở châu Âu, ví dụ như Đức, Hungary, Ba Lan hay Nga. Ngoài ra, cũng có một số quốc gia khác được gọi là phát triển rất là tốt, như Úc hay Canada. Nguyên nhân dịch chuyển đến các quốc gia này thì chủ yếu là do nhu cầu nhân lực tại đó, dân số già hóa, thiếu hụt lao động nhiều, và có một đặc thù khác là người trẻ tại các nước này ít tham gia vào những công việc như sản xuất xây dựng hay những công việc về dịch vụ chăm sóc sức khỏe. Một số nước cũng mở cửa cho những loại hình visa lao động nhiều hơn, đặc biệt là thủ tục xin visa có thể đơn giản hơn với người lao động Việt Nam. Một số quốc gia tiên tiến ở trung tâm châu Âu, như Đức chẳng hạn, họ mở cửa thì những quốc gia xung quanh cũng thu hút nhân lực và thoải mái hơn trong các chính sách tiếp cận lao động. Đâu là lý do dẫn đến sự dịch chuyển này ? Sự dịch chuyển thị trường này chỉ đơn giản là sự dịch chuyển về địa lý hay là về cả tính chất công việc ? Sự thay đổi ở đây là về tính chất công việc và tính chất về thu nhập. Theo ý kiến cá nhân của tôi thì sự dịch chuyển này là do ở những thị trường truyền thống với người lao động Việt Nam thì thu nhập không đáp ứng được tốt như trước. Trước đây, khi người lao động Việt Nam đi theo những chương trình như của Đài Loan, Nhật Bản thì họ có thu nhập có thể nói là chênh lệch rất cao so với làm công nhân ở Việt Nam. Người lao động đi 2-4 năm là hoàn toàn có thể có một lượng tích lũy về tài chính khá tốt và có thể phát triển thêm hoặc xây dựng nhà cửa chẳng hạn. Gần đây, tỷ giá của đồng Yen Nhật giảm sút rất nhiều, thế nên lựa chọn đi những thị trường như Nhật Bản thì dần dần trở lên không còn thu hút đối với người lao động Việt Nam. Và đối với thị trường Nhật Bản, Hàn Quốc hay Đài Loan thì đó thường là những thị trường về lao động cơ bản. Và khi những thị trường châu Âu, hay Úc, Canada mà thiếu lao động và họ mở cửa tiếp nhận lao động thì nhận được chào đón khá là mạnh mẽ từ phía nguồn nhân lực Việt Nam, trong đó có cả những nguồn lực có tay nghề, biết ngôn ngữ, thậm chí là có trình độ. Vậy những thị trường truyền thống của lao động Việt Nam hiện nay đang thay đổi ra sao về nhu cầu và điều kiện tiếp nhận ? Theo ông, thị trường nào đang có xu hướng siết chặt hơn và thị trường nào thì đang mở rộng cơ hội cho lao động phổ thông Việt Nam hơn ? Trong vài năm trở lại đây thì các thị trường truyền thống đang tuyển lao động Việt Nam thì họ vẫn duy trì được nhu cầu tuyển dụng rất lớn. Tuy nhiên, do sự thiếu hụt và chính sách đang thay đổi nhiều, nên họ chuyển từ tuyển dụng ngắn hạn thành tiếp nhận người lao động dài hạn. Có thể thấy điển hình là những thị trường như Nhật Bản, trước đây họ chỉ tiếp nhận những chương trình lao động phổ thông với hợp đồng 3 năm. Gần đây, họ đã chuyển sang những chương trình dài hơn. Người lao động có thể gia hạn thêm 2 năm, có thể nối visa lâu dài và có thể dễ dàng thi để chuyển giai đoạn và có thể ở lại định cư, cũng như bảo lãnh gia đình. Hay những thị trường như Hàn Quốc mở cửa tiếp nhận nhiều hơn những ngành nghề và số lượng. Họ tiếp nhận lao động không chỉ ở Việt Nam, mà cả từ nhiều thị trường ở Đông Nam Á, như Thái Lan, Indonesia. Nhật Bản thì mấy năm trở lại đây thì cũng tập trung tiếp nhận rất nhiều ở những thị trường mới như Indonesia, Myanmar hay Nepal chẳng hạn. Đâu là những yếu tố đang thúc đẩy sự dịch chuyển này : chi phí đi xuất khẩu lao động hay chính sách nhập cư của nước sở tại … ? Tôi nghĩ là có nhiều yếu tố cùng tác động. Nhưng trong đó lớn nhất thì là sự thiếu hụt của nhóm lao động trẻ tham gia những công việc phổ thông dẫn đến là các quốc gia thì có những chính sách nhập cư thoáng hơn, thu hút lao động nhiều hơn. Khi các quốc gia có những chính sách thuận lợi thì đồng nghĩa với việc các đơn vị cung ứng chuyên nghiệp có thể quảng bá, triển khai dễ dàng và thuận lợi. Thế nên, chi phí người lao động bỏ ra khi được tham gia ở những đơn vị cung ứng chuyên nghiệp thì chắc chắn cũng thấp hơn. Một yếu tố khác : Gần đây tôi thấy là, ví dụ thị trường Đức, rất giống với thị trường Nhật 15 năm trước. Có nghĩa là, trước kia khi chúng tôi triển khai thị trường Nhật Bản, để thuyết phục một xí nghiệp có thể tiếp nhận một người lao động, đặc biệt là người lao động đầu tiên, thì rất là khó, bởi vì khi nhân viên người Nhật, hay quản lý, hay lãnh đạo, không quen với sự hiện diện của lao động nước ngoài trong doanh nghiệp thì tâm lý họ rất e ngại. Dù thuyết phục thế nào họ cũng không nhận. Nhưng khi có những xí nghiệp đã tiếp nhận một số lao động và đánh giá khá cao, mọi việc thuận lợi, thì những nhóm công ty khác bắt đầu nhìn vào và có thể dễ dàng tiếp nhận hơn, và trở thành một trào lưu. Có nghĩa là các doanh nghiệp và các chủ xí nghiệp sử dụng lao động họ rất muốn thử. Và tôi đang thấy thị trường Đức đang có yếu tố khá là tương đồng như vậy. Có rất nhiều nhà hàng của Đức bây giờ đang tuyển dụng du học sinh Việt Nam hoặc tuyển dụng lao động Việt Nam. Người Đức, người châu Âu khi đến một cửa hàng và gặp những phục vụ người Việt Nam thì họ có vẻ đã quen hơn rất là nhiều. Thời trước, Việt Nam cũng đã xuất khẩu rất nhiều lao động sang các nước ở Đông Âu, trong đó có Đức. Theo ông, yếu tố lịch sử đó có thể là một thuận lợi để bây giờ các công ty của Việt Nam, ví dụ như công ty phát triển nguồn nhân lực MD Việt Nam, có thể dễ dàng hơn, gặp thuận lợi hơn để đưa lao động sang Đức ? Đúng như vậy. Trước đây, cộng đồng Việt Nam ở những quốc gia châu Âu thì cũng sinh hoạt rất sôi động. Tuy nhiên, do chính sách nhập cư vẫn còn tương đối hạn chế. Gần đây, khi chính sách nhập cư được mở hơn thì phát triển thêm, nhiều người thân quen, nhiều nhóm người lao động mới được giới thiệu. Đặc biệt là có một nhóm người Việt đã thành công ở những quốc gia châu Âu, nên có những xí nghiệp rất muốn tiếp nhận, sử dụng và h

  3. Oct 14

    Thiếu sinh viên, các đại học Anh đua nhau hạ điểm tuyển sinh và giảm học phí

    Hè năm 2026 tại Anh xuất hiện hiện tượng mới là các trường đại học ráo riết tuyển sinh bằng cách giảm học phí cho sinh viên nước ngoài, đồng thời hạ điểm chuẩn để tuyển thêm sinh viên Anh. Mục tiêu là giúp nhiều trường đại học ở Anh có thu nhập để bù vào thâm hụt ngân sách trong cuộc khủng hoảng tài chính đang diễn ra. Thế nhưng, hậu quả có phải sẽ là chất lượng đại học Anh quốc sụt giảm? Thông tín viên Nguyễn Giang tại Luân Đôn, trước hết cho biết một số nét chính làm thay đổi bức tranh mùa tuyển sinh ở các đại học Anh quốc năm nay. TTV. Nguyễn Giang : Đây là hai câu chuyện, nhưng đúng là như hai mặt của một đồng xu mà chúng ta đang chứng kiến trong hệ thống đại học Anh năm nay. Thứ nhất ngay trong nhóm Russell Group, quy tụ 24 đại học hàng đầu ở Anh, đã có nhiều trường hạ điểm tuyển sinh với các học sinh tốt nghiệp trung học để tăng số sinh viên nhập học năm thứ nhất. Thứ nhì là các trường nổi tiếng cũng như ít nổi tiếng ở Anh đua nhau giảm học phí cho sinh viên nước ngoài học hệ postgraduate, đa số là lấy bằng thạc sĩ, có chỗ giảm đi 6.000-8.000 bảng/năm.  Về việc giảm điểm cho sinh viên nội địa, trước đây, để vào những trường xếp hạng cao thì học sinh cần điểm hệ dự bị đại học A-Level ba môn là các điểm AAB hay ABB, tùy ngành. Nay thì ba điểm B (BBB) cũng trúng tuyển. Lấy ví dụ, ĐH Queen Mary University of London đã hạ điểm tuyển sinh từ ABB xuống BBC cho các ngành xã hội và khoa học. ĐH Liverpool giảm tương tự, còn ĐH York vẫn giữ điểm ABB/AAB nhưng thông báo sẽ linh hoạt hơn khi xét đơn ở mức điểm thấp hơn. RFI Tiếng Việt : Anh có thể giải thích rõ hơn về cấu trúc điểm tuyển sinh vào đại học ở Anh ? Vâng, để vào đại học ở Anh, khi học ở hệ dự bị đại học (A-Level), các em học sinh phải làm bài thi và có điểm ba môn. Tiêu chuẩn tuyển sinh thường chọn người có điểm cao nhất là A cho môn chính của ngành học (major), còn hai môn phụ có thể chỉ cần điểm AB, hay BBC. Ví dụ, muốn vào trường UCL học ngành Hóa thì điểm môn Hóa phải là A, còn hai môn khác, ví dụ toán, lý, sinh, có thể là A hoặc B, và môn thứ ba, có thể là công nghệ máy tính hay tâm lý học, chỉ cần điểm B. Nay, với việc hạ điểm chuẩn này thì bạn có thể vào học khoa Toán ở trường đại học với điểm môn Toán thi A-Level ở mức B, và học khoa Hóa với điểm môn Hóa chỉ là B. Tức là mức trung bình đã giảm đồng loạt. Với học sinh ở Anh, để vào được đại học thì có các tiêu chuẩn hay kỳ thi nào khác không ? Đối với học sinh nội địa ở Anh, việc vào các trường đại học đa số chỉ cần điểm tốt nghiệp phổ thông. Nhóm tiêu chuẩn đầu tiên là điểm số từ khóa dự bị đại học (A-Level) hay tú tài quốc tế (International Baccalaureate). Tức là có hai hệ học trung học ở Anh, hệ Tú tài thì theo mô hình Pháp và châu Âu; hệ A-Level là đặc thù của giáo dục Anh. Cũng cần nói thêm là ở Scotland thì có hệ điểm số riêng, gọi là Scottish Advanced Highers. Nhưng với các trường nổi tiếng thì trước khi trao giấy báo trúng tuyển, họ còn rà soát thêm ba nấc nữa. Một là, họ bắt học sinh làm bài thi riêng (admission test). Hai là, họ phỏng vấn ứng viên, thậm chí yêu cầu nộp một bài viết trước phỏng vấn, rồi mới xét tiếp. Đây là bộ lọc ở mức cao hơn. Theo tôi được biết, các trường hàng đầu như ĐH Oxford, Cambridge, Imperial College London và UCL đều không chỉ nhìn vào điểm số thi tốt nghiệp phổ thông mà còn yêu cầu ứng viên làm thêm bài sát hạch riêng. Ngoài ra, Oxford và Cambridge, cùng gần như tất cả các trường y ở Anh, đều phỏng vấn ứng viên. Có nơi họ còn muốn xem cả điểm thi hệ GCSE (tốt nghiệp lớp 10) để lọc thêm một lần nữa. Tôi xin nói các đại học Anh đều là các cơ sở giáo dục công ích nhưng tự chủ về tài chính và cách tuyển sinh nên họ có những yêu cầu tiêu chuẩn khác nhau. Điều giống nhau là năm nay rất nhiều trường (có số liệu nói 17 trong số 24 đại học thuộc nhóm Russell Group danh tiếng), đã tự hạ các điểm chuẩn đầu vào, tức là gỡ bỏ tấm lá chắn đem lại danh tiếng lâu nay của họ, ít ra là về độ khó của việc trúng tuyển, để chạy theo con số sinh viên. Thế còn việc giảm học phí (tuition fee discount) để mời thêm sinh viên nước ngoài thì sao? Có thể thấy rõ là các trường đang gặp khó khăn về tài chính thì đã làm động tác “đại hạ giá” tiền học phí cho sinh viên nước ngoài, thường từ 16 tới 20 nghìn bảng/năm. Ví dụ ĐH Aberdeen ở Scotland vốn đang phải tái cấu trúc, sa thải hơn 100 giảng viên và nhân viên để tiết kiệm 10 triệu bảng Anh từ nay tới 2028, thì công bố học phí cho sinh viên quốc tế hệ thạc sĩ giảm đi 8.000 bảng. Đây là con số kỷ lục. Còn ĐH Nottingham tthif giảm ‘tự động’ cho sinh viên nước ngoài mỗi người 3.000 bảng/năm. Đây cũng là đại học đang thua lỗ sau các cú đầu tư mở rộng trường ở cơ sở tại Trung Quốc và Malaysia. Khủng hoảng tài chính của ĐH Nottingham thì cả nước Anh đã biết. Họ bị thâm hụt ngân sách trên 80 triệu bảng và đe dọa sa thải 2700 nhân viên và giảng viên. ĐH Kent, gần nhà tôi, thì nêu rõ họ giảm học phí thêm 5.000 bảng cho sinh viên từ 14 nước, gồm Trung Quốc, Nigeria, Việt Nam và Pakistan. Xin nhắc rằng ĐH Kent hiện đang tồn tại ở dạng được ghép vào cùng ĐH Greenwich ở Luân Đôn để cứu vãn ngân sách, đi kèm một kế hoạch sa thải khá nhiều giảng viên. Điều này cho thấy hạ giá tiền học là cách các đại học Anh phải làm để không phá sản chứ không phải là họ ưu ái gì cho sinh viên nước ngoài. Có phải đây là xu hướng làm giảm chất lượng giáo dục đại học ở Anh? Đã có những ý kiến như vậy, nhưng nhóm Russell Group, qua lời bà Joanna Burton, giám đốc đại diện cho họ, nói rằng “việc nhận đủ sinh viên sẽ giúp tạo ra sự bền vững về tài chính” và tiêu chuẩn học đại học sẽ không hề giảm. Thế nhưng, các đại học Anh đang nhấn mạnh hai diễn ngôn mới. Một là, theo họ, hạ điểm chuẩn là cách mở rộng cơ hội cho các học sinh từ tầng lớp xã hội không được ưu tiên, tạm hiểu là con nhà nghèo, tầng lớp lao động và một số nhóm sắc tộc. Hai là các đại học đang chuyển cách tuyển sinh từ điểm số thuần túy sang cách chọn các em “có tiềm năng thành công” (potential to succeed), theo một bài của nữ nhà báo Alexa Philips, chuyên về giáo dục, viết trên trang iPaper (07/08/2026). Theo anh, những thay đổi lớn này cũng sẽ có những hệ quả trong ngắn hạn và dài hạn ? Đúng thế. Ngay lập tức thì chính sách tuyển sinh dễ hơn trước về điểm số đã làm tăng số sinh viên nhận giấy báo trúng tuyển đại học ở Anh lên cao hơn trước tới 100 nghìn. Năm nay, bước vào niên khóa 2026/2027, học kỳ mùa thu này, có tới 1,3 triệu sinh viên vào các đại học Anh. Đây là sinh viên nội địa, học hệ cử nhân (bachelor: ba năm ở Anh và bốn năm ở Scotland). Điều đáng chú ý là sự phân hóa. Năm nay, sinh viên Anh là lứa đầu tiên phải đóng học phí tăng từ trên 9.000 bảng lên hơn 10.000 bảng. Nhờ vậy, có thể các đại học Anh có tiếng tăm nhất sẽ có nguồn thu. Nhưng các đại học kém hạng hơn thì lại có thể tiếp tục bị thâm hụt ngân sách. Lý do rất đơn giản thôi: khi các đại học hàng đầu hạ điểm chuẩn thì họ sẽ giành sinh viên từ khối mà đáng ra chỉ đủ điểm vào các trường thứ hạng thấp hơn. Những trường thứ hạng thấp sẽ thua trong cuộc chạy đua này. Tức là phân hóa thứ bậc trong số 165 đại học ở Anh sẽ diễn ra khốc liệt hơn. Về lâu dài thì câu chuyện ‘bằng đại học đem lại việc làm hay không’ sẽ tiếp tục được bàn tới ở Anh. Vì số sinh viên nhập học đông như vậy mỗi năm, sẽ tạo ra một số lượng hàng triệu người trẻ trong vài ba năm, cùng gia nhập thị trường lao động vốn đã rất yếu ở Anh. Các ngành nghề đang được dạy và học ở đại học Anh cũng đang phân hóa qua quá trình tuyển sinh. Các trang chuyên ngành cho hay, các môn sinh ngữ, xã hội nhân văn, máy tính đang mất khách kinh khủng. Các ngành khoa học tự nhiên có vẻ vẫn thu hút sinh viên nhiều hơn. Thế còn hiện tượng đại học Anh giảm học phí để nh

  4. Oct 7

    Ngành điện ảnh AI ba “không” của Trung Quốc : Không diễn viên, không biên kịch, không đạo diễn

    Nhiều tên tuổi lớn trong lĩnh vực công nghệ và truyền thông của Trung Quốc đang dồn lực vào lĩnh vực điện ảnh. Trong tháng 9 vừa qua, nền tảng video ngắn Kuaishou đã công bố kế hoạch hỗ trợ các phim ngắn nhiều tập được tạo bằng trí tuệ nhân tạo, trong khi bộ phận video của tập đoàn công nghệ Tencent đã phát động một “cuộc thi làm phim ngắn AI”.  Trước đó hồi tháng 3, nền tảng phát trực tuyến iQIYI đã ra mắt một công cụ có tên Nadou Pro, cung cấp cơ sở dữ liệu hình ảnh và giọng nói của các diễn viên để làm phim với trí tuệ nhân tạo mà không cần thuê diễn viên. Những công ty như ByteDance cũng đang phát triển những nền tảng phức hợp, sử dụng trí tuệ nhân tạo, có khả năng quản lý toàn bộ quy trình sản xuất, từ viết kịch bản cho đến phân phối phim. Trong cuộc chạy đua công nghệ đó, các AI ngày càng được đầu tư và phát triển, còn những diễn viên, biên kịch và đạo diễn lại bị bỏ lại phía sau. Không cần diễn viên Cuối tháng Ba vừa qua, nền tảng chiếu phim trực tuyến iQIYI, thường được so sánh như Netflix của Trung Quốc, đã công bố việc xây dựng một cơ sở dữ liệu tập hợp hình ảnh và giọng nói của khoảng một trăm diễn viên, những người đồng ý “bán” dữ liệu nghe nhìn của mình, để trí tuệ nhân tạo sử dụng trong quá trình làm phim. Các diễn viên được quay từ mọi góc độ, và giọng nói của họ được ghi âm trong nhiều điều kiện khác nhau. AI sẽ ghi nhớ, tổng hợp và trích xuất các dữ liệu này để tự tạo ra các dữ liệu kỹ thuật số như biểu cảm khuôn mặt, chuyển động môi, cử chỉ, ngữ điệu và cách nói chuyện. Một khi đã tích lũy đủ dữ liệu, AI có thể tạo ra những cảnh quay mới mà không cần diễn viên thực sự xuất hiện tại trường quay hoặc thu âm lời thoại mới, như thể chính diễn viên đang trực tiếp nói và diễn xuất. Cuối cùng, các diễn viên tự đào tạo bản sao kỹ thuật số của chính mình, rồi những bản sao này thay thế họ; trong khi các công ty sản xuất tiếp tục chỉ sử dụng “diễn viên AI” và sa thải những con người ban đầu. Vậy là không còn cần đến những khoản ngân sách khổng lồ để thuê diễn viên, thuê phim trường hay di chuyển đến các bối cảnh tự nhiên, cũng không còn phải xử lý những vấn đề về lịch trình hay bảo hiểm của các ngôi sao điện ảnh lớn. Giờ đây, với một câu lệnh được đưa ra, AI có thể cho diễn viên “diễn” bất cứ khi nào và theo bất cứ cách nào.   Cũng chẳng cần biên kịch và đạo diễn Sáng tạo vốn là một khả năng đặc biệt của con người mà AI không có được. Vậy thì phải chăng những công việc yêu cầu tính sáng tạo cao như biên kịch hay đạo diễn dường như không phải đối mặt với nỗi lo bị AI thay thế ? Thực tế hiện nay tại ngành công nghiệp làm phim Trung Quốc lại cho thấy điều ngược lại. Đúng là AI vẫn gặp nhiều khó khăn trong việc tạo ra các sản phẩm điện ảnh dài và công phu. Trả lời tờ South China Morning Post, nhà sản xuất phim Liu Zhanhao nhận định rằng việc duy trì tính nhất quán của nhân vật và bối cảnh, diễn giải những văn bản phức tạp và khắc phục giới hạn về độ dài của các đoạn video vẫn là những điểm nghẽn lớn mà “bộ não” của trí tuệ nhân tạo chưa vượt qua được. Tuy nhiên xu hướng hiện nay ở Trung Quốc lại không phải là tạo ra các tác phẩm phim dài với những nội dung sâu sắc và sáng tạo. Với sự ra đời của Tiktok, xu hướng làm phim ngắn khoảng vài chục giây đến một vài phút cho mỗi tập và theo dạng quay dọc để phù hợp với màn hình điện thoại đang lên ngôi. Financial Times dẫn số liệu từ Hiệp hội Dịch vụ Phát sóng Trực tuyến Trung Quốc, cho biết trong quý I năm 2026, khoảng 128.000 phim ngắn nhiều tập đã được phát hành tại Trung Quốc, cao hơn hơn ba lần so với tổng số của cả năm trước, và 95% trong số đó được tạo ra bằng AI. Yêu cầu tối quan trọng với những nội dung này đó là phải kịch tính, phải cho khán giả thấy cao trào ngay lập tức để giữ chân họ, với các tập thường kết thúc ở đúng thời điểm người xem muốn biết chuyện gì xảy ra tiếp theo. Xung đột phải mạnh hơn, nhân vật phải cực đoan hơn, cú trả thù phải nhanh hơn. Còn sự tinh tế trong cách kể chuyện và chọn góc quay, hay những diễn biến tâm lý phức tạp của con người, rồi thậm chí là tính logic trong mạch chuyện đều bị đẩy xuống hàng thứ yếu. Nhà sản xuất Liu nhận xét : “Khán giả đang xem những gì mà chúng tôi gọi là các bộ phim thỏa mãn kiểu ‘tắt não’. Họ muốn những cú twist, những tình tiết bi kịch hóa, sự cường điệu.” Trong khi đó Ivy Yang, nhà sáng lập công ty tư vấn Wavelet Strategy, cho rằng phim ngắn sẽ dần biến thành những nội dung AI rập khuôn, sản xuất hàng loạt. Bà Yang nhận định rằng logic sản xuất hiện giờ là “với chi phí thấp nhất, tốc độ nhanh nhất và những cú hích dopamine mạnh nhất.” Lướt một loạt các bộ phim ngắn của Trung Quốc có thể thấy một vài mô-típ quen thuộc như một vị tổng giám đốc trẻ tuổi, giàu có và độc đoán yêu một cô gái nghèo, hay những người bị làm nhục rồi quay trở lại phục thù, chủ tịch giả nghèo bị khinh thường sau đó tiết lộ thân phận thật, v.v. Những nội dung gần như y hệt nhau và không có gì sáng tạo nhưng lại giúp khán giả giải trí mà không yêu cầu phải động não hay kiên nhẫn chờ tình tiết mới. Và theo bà Yang những công thức lặp đi lặp lại này thì AI có thể dễ dàng sao chép và tạo ra kịch bản và cảnh quay mới từ những nội dung cũ với chỉ một câu lệnh. Hiện thực hóa giấc mơ tự làm phim  Điểm sáng rõ ràng nhất mà các công cụ AI đem tới cho các nhà làm phim đó là việc tiết kiệm thời gian và công sức. Financial Times dẫn lời ông Shen Yang, giáo sư tại Đại học Thanh Hoa kiêm giám đốc công ty hoạt hình AI Zeelin, nếu như vào năm 2024, việc sản xuất một bộ phim dài 3 đến 5 phút sẽ cần 5 người trong 3 tháng, thì ngày nay chỉ cần một nhân viên làm việc trong khoảng một đến hai ngày. Chi phí sản xuất cũng chỉ bằng khoảng 10% so với khi có sự tham gia của con người, ở mức 600-800 nhân dân tệ cho mỗi phút. Hơn thế, với những nhà làm phim độc lập, sự xuất hiện của AI cũng mang tới những thay đổi lớn. Thông thường để sản xuất một bộ phim sẽ cần tới một ê-kíp quay phim, máy móc thiết bị, số lượng diễn viên nhất định, xe di chuyển tới các địa điểm quay, v.v. mà những thứ này thì không phải nhà làm phim độc lập nào cũng có thể xoay sở được. Do vậy mà nhà làm phim người Đức Mark Wachholz cho rằng AI làm giảm những rào cản vốn khiến nhiều người có ý tưởng nhưng không đủ nguồn lực để bước vào ngành điện ảnh. Đồng quan điểm, ông Nicolas Guyon, nhà báo và chuyên gia huấn luyện trí tuệ nhân tạo nhận định trên RFI Pháp ngữ : “AI có thể tạo ra một cuộc cách mạng với ngành công nghiệp điện ảnh. Tôi cho rằng AI sẽ giúp cho tất cả mọi người đều có thể sản xuất phim. Tôi thường nói rằng trí tuệ nhân tạo sẽ giúp giúp ngành điện ảnh trở nên tốt hơn, nhanh hơn, rẻ hơn và dễ tiếp cận hơn. Giờ đây một thiếu niên với chiếc máy tính được hỗ trợ bởi AI có thể trở thành một nhà làm phim. Chỉ cần từ những câu lệnh, AI có thể tạo ra các hình ảnh, các cảnh phim chất lượng. Thực tế thì từ hai năm trở lại đây chúng ta đã thấy sự tiến bộ không ngừng của công cụ này. Trong năm 2023, 2024, các hình ảnh do AI tạo ra đã trở nên thực hơn rất nhiều. Còn đến năm 2025, tôi nghĩ đây thực sự là một năm của video. Các công cụ tạo video tích hợp AI đã không ngừng tiến bộ và tạo ra các video chân thực. Từ đó, chúng ta ai cũng có thể trước hết là tạo ra các bộ phim ngắn và sau đó thậm chí là cả các tác phẩm dài.” Vậy là giờ đây, bất cứ ai có ý tưởng đều có thể thử nghiệm ý tưởng đó mà không cần có ngân sách khủng để chi trả cho trường quay, diễn viên hay cả một ê-kíp làm phim hùng hậu. Nền tảng chiếu phim iQIYI của Trung Quốc cho rằng đây sẽ là xu hướng trong tương lai và tự định hình mình như một nền tảng chia sẻ phim do các cá nhân tạo ra, thay vì các hãng phim truyền thống. Theo F

  5. Sep 30

    Trung Quốc và tham vọng đưa người máy từ phim viễn tưởng ra đời thực

    Với tham vọng trở thành cường quốc robot, Trung Quốc đã đầu tư mạnh vào ngành công nghiệp đầy tiềm năng này trong thời gian gần đây. Từ các xưởng sản xuất robot quy mô lớn đến các « trường đào tạo robot », Bắc Kinh hiện được cho là đang dẫn đầu ngành, khi thường xuyên ra mắt những kỹ năng mới của người máy, liên tục phá vỡ các kỷ lục. Vào năm 2050 theo ước tính của Morgan Stanley, thế giới dự kiến có khoảng 1 tỷ người máy.  90% trong số đó sẽ thay thế các công việc thủ công và lặp đi lặp lại trong công nghiệp. Và Trung Quốc sẽ sở hữu đội quân robot lớn nhất thế giới với hơn 302 triệu robot hình người. Các hãng robot của Trung Quốc như Unitree, Agibot, UBTech hiện đang thống trị thị trường toàn cầu. Bắc Kinh cũng mạnh mẽ thúc đẩy thị trường mới nổi này. Robot được cho là giải pháp hữu hiệu đối với các vấn đề như thiếu hụt lao động trong tương lai, cải thiện năng suất… Các robot không chỉ đảm đương các công việc thủ công, mà cả phần giải trí thể thao. Các kỷ lục về khả năng của robot liên tục bị phá vỡ. Ví dụ như người máy A2 của Agibot, đi bộ 100 km từ Tô Châu đến Thượng Hải, lập kỉ lục Guiness vào năm 2025. Vào tháng 08/2026, robot Superman của Unitree đã đạt tốc độ chạy 12,66 mét/ giây, khiến cổ phiếu công ty này tăng vọt gần 500 %. Vào tháng 8 vừa qua, một lần nữa các người máy Trung Quốc lại gây bất ngờ bởi các màn trình diễn thể thao tại Thế vận hội người máy (World Humanoid Robot Games) ở Bắc Kinh. Không chỉ trong khả năng vận động, các công ty như UBTech cũng đã cho ra mắt hồi tháng Sáu 2026 mô hình người máy có thể cá nhân hóa, hướng tới việc đưa người máy trở thành người bạn đồng hành, kết hợp Trí tuệ Nhân tạo (AI) để có thể trò chuyện như ChatGPT. Sản phẩm chưa chính thức ra thị trường đã nhận được hơn 13 000 đơn đặt hàng (có giá từ 15 000 euro đến 125 000 euro). Theo The Economist, các công ty Trung Quốc dự trù bán 50 000 robot trong năm nay, cao gấp 3 lần so với năm ngoái. Ngoài việc phát triển phần cứng, các công ty cũng chạy đua trong việc phát triển phần mềm, tích hợp các công nghệ cho phép robot linh hoạt hơn, có thể nghe, nhìn, nhận biết đồ vật và không gian tốt hơn. Trung Quốc cũng đang dẫn đầu trong việc thu thập dữ liệu, nhằm cải tiến người máy. Ví dụ như tại Trung tâm đào tạo người máy ở Hồ Bắc, hơn 100 robot dành hàng giờ mỗi ngày để quan sát bắt chước con người. Ước tính có khoảng 50 cơ sở đào tạo đã được xây dựng trong hai năm qua, và hơn 30 cơ sở khác đang trong quá trình xây dựng, phần lớn được Nhà nước Trung Quốc tài trợ, theo The Econonomist. Không chỉ dừng lại ở thị trường Trung Quốc, hiện 90 % các robot hình người trên toàn thế giới được bán ra sản xuất tại Trung Quốc. Tại hội chợ công nghệ Viva Tech diễn ra ở Paris, Pháp vào mùa hè 2026, « Robot có mặt khắp nơi », như nhận định của một khách tham quan. Gian triển lãm của hãng Trung Quốc Agibot luôn tấp nập người xem các màn trình diễn của những người máy, được ví như những ngôi sao của sự kiện, trình diễn các màn vũ đạo sôi động. Nhân sự kiện này RFI Tiếng Việt đã phỏng vấn đại diện của Agibot ở Pháp, ông Pierre Asséo. Được thành lập vào năm 2023, Agibot nay đã được biết đến rộng rãi trong ngành công nghiệp robot. Liệu ông có thể nói về những tiến bộ về công nghệ đối với người máy mà công ty đã thực hiện gần đây nhất ? Qua từng năm, chúng tôi đã đạt được những cải tiến đáng kinh ngạc trong công nghệ di chuyển và vận hành cho robot. Mẫu người máy này được thiết kế theo phong cách thân thiện, gần gũi, trang bị 2 camera trước trán, 2 camera trước ngực, và đặc biệt là một camera phía sau đầu ; điểm mà con người không có giúp nó quan sát toàn diện phía sau. Cảm biến Lidar ở giữa thân cho phép nó định vị không gian. Nếu tôi lập trình sẵn bản đồ triển lãm và yêu cầu người máy đi tới gian hàng SNCF, nó có thể tự di chuyển đến đó chính xác. Về độ linh hoạt, mẫu robot này có tới 29 độ tự do (tương ứng với số khớp động cơ). Động cơ càng ngày càng mượt mà và chuẩn xác, thậm chí đủ sức xoạc chân ngang. Tại triển lãm này, chúng tôi mang đến những dòng robot rất hợp cho mảng giải trí, tiếp đón hay sự kiện, vì ngoài khả năng vũ đạo điêu luyện, chúng còn giao tiếp rất tốt. Còn dòng robot đằng xa kia thì chuyên phụ trách việc nâng hạ, vận chuyển hàng hóa nặng. Mọi người phản ứng thế nào về công nghệ này? Thường có hai luồng thái độ: nhiều người rất hào hứng, nhưng cũng không ít người e ngại. Một phần do ảnh hưởng từ điện ảnh và phim viễn tưởng, khiến người ta có cảm giác là người máy đang bước ra khỏi màn ảnh để đi vào đời thực, và thường trong phim thì chúng hay gây sợ hãi. Tuy nhiên, điều cốt lõi chúng tôi cần truyền tải là: người máy sinh ra là để phục vụ và hỗ trợ con người. Hãy nhìn vào thực tế, riêng ngành vệ sinh công nghiệp tại Pháp hiện đang thiếu hụt tới 100.000 nhân sự. Rất nhiều công việc nặng nhọc dễ gây chấn thương cơ - xương - khớp mà người máy có thể đảm nhiệm tốt hơn con người. Trong các môi trường độc hại, nguy hiểm, thay vì rủi ro tính mạng con người, dùng máy móc là giải pháp tối ưu. Chúng ta đang bước vào một kỷ nguyên mới, đó là kỷ nguyên của AI hiện hình (AI incarnée). Những gì mọi người  thấy hôm nay mới chỉ là khởi đàu của một thời đại robot mà 20 năm nữa nhìn lại, chúng ta sẽ coi đó là những nét sơ khai nhất. Việc kết hợp các mô hình Trí tuệ Nhân tạo vào người máy, giúp chúng học hỏi nhanh hơn, giải quyết nhiều bài toán vận động phức tạp. Khi ông đề cập đến AI hiện hình, Agibot định vị mình như thế nào trong cuộc đua này ? Hệ sinh thái Trí tuệ Nhân tạo hiện hình gồm hai phần phần cứng (máy móc) và phần mềm (các mô hình AI đóng vai trò như bộ não). Agibot tập trung sản xuất phần cứng, đồng thời hợp tác với các nhà phát triển mô hình AI. Tại Pháp, có không ít doanh nghiệp tiềm năng trong lĩnh vực này. Ngành robot tương lai là một chuỗi liên kết hoàn chỉnh: chúng ta cần chuyên viên lắp đặt, bảo trì, lẫn kỹ sư lập trình. Do đó, sự phát triển này không tiêu diệt mà chuyển dịch việc làm. Sẽ có rất nhiều ngành nghề mới xuất hiện nhờ sự bùng nổ của robot. Nhiều ông lớn AI như OpenAI hay Anthropic từng quan ngại về rủi ro và kiến nghị tạm dừng nghiên cứu. Agibot nhìn nhận vấn đề này ra sao? Hiện tại, Trí tuệ Nhân tạo hiện hình mới chỉ ở giai đoạn khởi đầu. Dù người máy đã làm được một số việc, nhưng danh sách những điều chúng chưa thể làm đuợc vẫn còn rất dài. Chúng ta vẫn còn đủ thời gian để tính toán và cân nhắc các quan ngại này. Agibot kỳ vọng gì vào tương lai của ngành công nghiệp robot ? Dự báo đến năm 2050, toàn cầu sẽ có khoảng 1 tỷ robot, và Agibot quyết tâm trở thành một trong những thương hiệu dẫn đầu. Đây là thị trường hứa hẹn sẽ vượt cả quy mô ngành ô tô. Trước áp lực dân số già hóa cùng sự bứt phá của ngành cơ - điện tử và AI, chắc chắn robot sẽ bước ra khỏi màn ảnh để hiện diện trong cuộc sống thường nhật của chúng ta. Lịch sử robot hình người Trên thực tế, robot hình người đã ra đời từ những năm 1970. Các nhà nghiên cứu tại đại học Waseda của Nhật Bản đã giới thiệu mẫu người máy đầu tiên trên thế giới - WABOT-1, gồm các « khung xương » bằng kim loại và cần đến 45 giây để thực hiện một bước chân. Đến những năm 2000, người máy Asimo của Honda có thể đi bộ bằng hai chân, dù khó giữ được thăng bằng. Đến năm 2016, mô hình Atlas của Boston Dynamics đã cho thấy những tiến bộ về khớp động cơ và thuật toán, với những pha nhào lộn parkour. Xét đến sự trỗi dậy của ngành công nghiệp người máy ở Trung Quốc, ông Tịch Việt (Xi Yue) nhà sáng lập của Robot Era, có trụ sở tại Bắc Kinh, nhận định, đà phát triển từ 12-18 tháng qua, được thúc đẩy bởi ba yếu tố :  Môi trường chính sách hỗ trợ và nguồn vốn dồi dào, chuỗi cung ứng phần cứng vững chắc và phần mềm cũng ngày càng phát triển m

  6. Sep 25

    Tăng học phí, giảm trợ cấp : Pháp “bớt” hào phóng với sinh viên ngoại quốc?

    Mùa khai giảng 2026 tại Pháp chứng kiến nhiều thay đổi trong các quy định với sinh viên ngoại quốc. Chính phủ của thủ tướng Sébastien Lecornu quyết định tăng mức chứng minh tài chính đối với sinh viên ngoài khối Liên Hiệp Châu Âu lên thành 10.000 euro/năm, tức mức tăng gần 40% ; các trường đại học tăng học phí lên gấp gần 16 lần và đặc biệt là huỷ bỏ trợ cấp nhà ở cho sinh viên. Những biện pháp được áp dụng từ năm học mới này khiến nhiều du học sinh, bao gồm cả những sinh viên Việt Nam tại Pháp, không khỏi hoang mang.  Vậy đâu là những thay đổi cụ thể ? Vì sao Pháp dường như không còn hào phóng với sinh viên ngoại quốc ? Và sinh viên Việt tại Pháp cảm thấy ra sao trước những quy định mới này ?  Tăng mức chứng minh tài chính  Theo thông tin trên trang web của chính phủ Pháp, kể từ ngày 01/08/2026, các sinh viên muốn xin visa du học Pháp hoặc các sinh viên đã ở Pháp và muốn gia hạn thẻ cư trú cho năm học tới sẽ phải chứng minh sở hữu mức tài chính tối thiểu là 877 euro/tháng, so với mức cũ là 615 euro. Sinh viên có thể chứng minh bằng tài khoản ngân hàng hoặc tài khoản tiết kiệm với số dư trên 10.000 euro, bằng sao kê tài chính cho thấy người nhà chuyển vào ít nhất 877 euro/tháng, hoặc hợp đồng lao động với mức lương cao hơn con số này. Theo quy định mới của chính phủ Pháp, mức chứng minh tài chính tối thiểu cũ 615 euro đã được đưa ra kể từ ngày 31/12/2002 và giữ nguyên kể từ đó tới nay. Do vậy, nó không còn phản ánh được chi phí sinh hoạt thực tế ở Pháp hiện giờ.  Với những người đang ở Việt Nam và có dự định du học Pháp, điều này phần nào cũng khiến họ dè chừng. Nếu như trước đây họ chỉ cần chứng minh có khoảng 7.300 euro trong tài khoản để làm visa du học, giờ các gia đình sẽ cần tới gần 10.500 euro.  Còn với những sinh viên đang sống tại Pháp và muốn tiếp tục việc học của mình, mức chứng minh này khiến họ hoặc phải xin hỗ trợ từ gia đình, hoặc phải đi làm nhiều hơn. Mức 877 euro tương đương 60% mức lương tối thiểu tại Pháp. Tuy nhiên, Pháp cũng quy định các sinh viên ngoài EU chỉ được đi làm 60% tổng số giờ làm việc hàng năm, để tránh việc sinh viên bỏ học để đi làm. Như vậy có nghĩa là nếu không có hỗ trợ từ gia đình, các sinh viên bắt buộc phải đi làm số giờ tối đa được chính quyền cho phép thì mới có thể đạt mức chứng minh tài chính. Không thể đi làm quá số giờ quy định, nhưng cũng không thể đi làm ít hơn số giờ đó, nhiều sinh viên trong cảnh tiến thoái lưỡng nan.  Hơn nữa, việc phải đi làm nhiều giờ nhất có thể gây ảnh hưởng không nhỏ tới việc học và cuộc sống cá nhân của các sinh viên. Trả lời RFI Việt Ngữ, bạn An chia sẻ về những vất vả trong quá trình vừa học vừa làm của mình :  "Thực ra khi mình xác định sang Pháp là mình sẽ theo đuổi việc học để giành được điểm số cao nhất, rồi sau đấy sẽ tìm được học bổng để học lên những bậc cao hơn. Nhưng quả thực là khi mình dành thời gian tất cả các buổi tối để đi làm thêm thì mình thực sự gặp khó khăn khi đến mùa ôn thi hoặc chỉ đơn giản là làm bài tập nhóm vì lịch học bên Pháp rất nặng và thay đổi thường xuyên. Nhìn chung, mình gặp rất nhiều khó khăn trong việc cân bằng giữa việc học và việc đi làm. Nhiều khi có những buổi học phát sinh, mình không thể xoay sở kịp và đã bị ông chủ dọa cho nghỉ việc vì có lịch học bất thường. Còn vào mùa ôn thi, để có thời gian thì mình bắt buộc phải ôn vào buổi đêm. Và buổi đêm khi mà cơ thể đã hoàn toàn mệt mỏi sau cả ngày làm việc rồi thì mình cũng không còn đủ minh mẫn nữa, mặc dù mình cũng cố gắng hết sức lược qua bài để ôn thi, nhưng chất lượng ôn thi cũng không thực sự cao. Nên là mình cũng chỉ đủ điểm để qua môn thôi chứ cũng chưa được như kỳ vọng của mình." Tăng học phí  Theo thông báo từ chính phủ Pháp, kể từ mùa khai giảng năm 2026 này, phần lớn sinh viên ngoài khối Liên Hiệp Châu Âu sẽ phải trả 2.895 euro mỗi năm cho bậc cử nhân, so với 178 euro đối với sinh viên Pháp và các nước châu Âu khác, và 3.941 euro cho bậc thạc sĩ, so với 254 euro. Quy định sẽ áp dụng cho tất cả các sinh viên không phải công dân của một quốc gia thuộc Liên Hiệp Châu Âu, Khu vực Kinh tế Châu Âu, Thụy Sĩ, Andorra hoặc không cư trú tại Québec (Canada). Ngoài ra, một số trường hợp đặc biệt như sinh viên có học bổng ; sinh viên có thẻ cư trú 10 năm hoặc sinh viên đã khai báo thuế ở Pháp trong hơn 2 năm cũng sẽ được miễn trừ khỏi mức tăng này.  Theo bộ trưởng Giáo dục Đại học Pháp Philippe Baptiste, trong vòng hai đến ba năm, biện pháp này có thể tạo ra khoảng 250 triệu euro ngân sách mỗi năm cho các trường đại học. Cần phải nhắc lại rằng kể từ năm 2019, chính phủ Pháp đã đưa ra kế hoạch điều chỉnh tăng học phí cho sinh viên ngoài EU.  Tuy nhiên, đa số các trường khi đó đã phản đối, coi đây là biện pháp phân biệt đối xử và không áp dụng mức học phí mới này với các sinh viên nước ngoài. Các cơ sở giáo dục tại Pháp cũng lo ngại rằng việc tăng học phí sẽ làm giảm mức hấp dẫn của trường trong mắt các sinh viên quốc tế. Do vậy mà theo bộ trưởng Baptiste, sau bảy năm kế hoạch được đưa ra, tính đến nay chỉ có 10% sinh viên quốc tế phải chịu mức học phí khác với sinh viên châu Âu. Trong bối cảnh đó, ông Baptiste, trong cuộc phỏng vấn với tờ Le Parisien hôm 20/04, khẳng định sẽ chấm dứt tình trạng này.  Vậy việc tăng học phí này ảnh hưởng ra sao đến các sinh viên Việt Nam tại Pháp ? Dự định theo học thạc sĩ trong tương lai, bạn Nam cho biết mức học phí mới khiến bạn khá hoang mang khi sẽ phải vừa đi học vừa đi làm để giảm sức ép tài chính cho gia đình. Trả lời phỏng vấn RFI Việt Ngữ, bạn Nam nói : "Đối với chương trình cử nhân trước của mình thì lịch học thay đổi mỗi tuần nên không thể làm cố định được chỗ nào. Còn về chương trình dự bị tiếng của mình thì mình học ít tín chỉ hơn nên vẫn có thể đi làm được. Nhưng trong tương lai với chương trình học thạc sĩ thì thời gian học sẽ nhiều hơn và cần nhiều nỗ lực hơn cho việc học nên mình khá đắn đo về việc làm thêm." Tuy nhiên điều này không ngăn cản việc bạn tiếp tục muốn theo học bậc thạc sĩ tại Pháp. Bạn Nam chia sẻ : "Bởi vì mình đã theo Pháp từ đầu và đây cũng là thông tin mới nên mình cũng chưa nghĩ tới việc thay đổi quá nhiều. Việc theo học ở nước ngoài (nước không phải Pháp) thì mình cũng thấy đó cũng là một lựa chọn hay, nhưng mình thấy đang quen môi trường ở đây rồi nên không muốn thay đổi nhiều. Theo mình được biết thì một số nước xung quanh đây như Đức và Ý cũng có mức học phí khá là thấp và cũng có quyền lợi cho sinh viên khá là tốt. Nhưng chắc mình sẽ suy nghĩ thêm vì mình đã theo học Pháp rồi nên không muốn thay đổi nữa. Còn nếu tình hình (tài chính) không cho phép thì mình sẽ về Việt Nam." Nhưng bỏ trợ cấp cho sinh viên  Từ lâu nay, các sinh viên đến Pháp nếu phải thuê chỗ ở để đi học đều được Quỹ Trợ Cấp Gia Đình (CAF) hỗ trợ tiền thuê nhà, có khi lên tới 50% số tiền phải trả hàng tháng. Tuy nhiên, chính phủ Pháp thông báo kể từ ngày 01/07 năm nay, các sinh viên quốc tế ngoài EU sẽ không còn được nhận khoản trợ cấp nhà ở này nữa. Chỉ những sinh viên có học bổng, có hợp đồng lao động, hợp đồng học nghề hoặc hợp đồng đào tạo nghề, cũng như sinh viên tị nạn mới được tiếp tục nhận trợ cấp này. Khi được hỏi việc Pháp cắt trợ cấp nhà ở ảnh hưởng thế nào đến cuộc sống, bạn Linh cho biết : "Nếu không có CAF thì tiền nhà của mình đã khoảng 500-600, nghĩa là khá là khó để mà chi trả được các khoản tiền cả cho việc học và việc sinh hoạt. Mình nghĩ sẽ phải thắt lưng buộc bụng, không đi đâu hết. Tuy nhiên vẫn sẽ có những khoản mà mình không dự trù được, những lúc như thế thì mình vẫn cần sự giúp đỡ của gia đình. Mình còn được gia đình hỗ trợ khá nhiều. Trong khi đó bạn cùng nhà của mình còn không nhận được nhiều hỗ trợ từ gia đ

  7. Sep 23

    Từ vườn rau đến bàn ăn Michelin: Làn sóng nông sản châu Á được sản xuất tại Pháp

    Những cọng rau muống, trái khổ qua hay củ gừng mang hương vị châu Á được trồng tại Pháp đang dần tìm được vị trí trong bức tranh ẩm thực đa dạng tại Pháp. Tại Blois, trại rau nông sản hữu cơ "Made in France" của Masato Fujisaki không chỉ phục vụ người dân địa phương, mà còn trở thành cảm hứng sáng tạo cho nhà hàng đạt sao Michelin. Với khoảng 1500m2 nhà kính và hơn 7500 m2 đất hoa màu, nông trại của Masato trồng hàng chục rau củ quả các loại, và được biết đến với những hương vị từ châu Á, từ rau húng quế phảng phất vị thơm mát đến khóm gừng cay nồng chờ ra củ, và cả thửa rau mồng tơi cần thu hoạch. Mỗi vụ, Masato đều thử trồng thêm một loại rau củ mới, giới thiệu cho người tiêu dùng tại Pháp. Năm nay, anh thử dựng những giàn gỗ trồng khổ qua. Anh nói : « Hiện mới là đầu mùa thu hoạch. Khổ qua khá được ưa chuộng ở Nhật Bản. Tôi cũng biết nhiều khách hàng Trung Quốc và Việt Nam ưa thích. Nhưng hiện là đầu mùa, cây vẫn chưa cho ra nhiều trái. Trong khi giàn dưa chuột Nhật Bản ngay bên cạnh đã cho nhiều quả. Tôi cũng chưa có kỹ thuật nữa. Còn ở phía bên kia là giống dưa gang của châu Á, vẫn cần phải đợi thêm thời gian vì tôi mới trồng thử năm đầu tiên ». Từng là kỹ sư thiết kế cảnh quan, Masato Fujisaki đã quyết định chuyển nghề sang trồng rau, sau chuyến thực tập 6 tháng tại một trang trại ở Nhật Bản, quê hương của cha anh. Từ năm 2019, với sự hỗ trợ từ thành phố Blois và quyên góp của nhiều nhà hảo tâm, dự án xây nhà kính, trồng rau sạch, rau châu Á của Masato đã được khởi xướng, đưa những loại rau châu Á, vốn thường được gắn mác nhập khẩu vào các khu chợ của thành phố vùng Loir-et-Cher. Trả lời RFI Tiếng Việt, anh giải thích : « Trong chuyến thực tập ở Nhật Bản, tôi phát hiện ra rằng rau củ quả của châu Á rất đa dạng và có hương vị riêng. Ví dụ như dưa chuột của Nhật Bản có mùi hương thơm hơn, giòn hơn. Cà tím cũng có vỏ mỏng hơn, phần ruột mềm hơn do đó chế biến cũng dễ hơn. Vì vậy tôi nhận thấy rằng nếu trồng được chúng ở Pháp thì sẽ rất thú vị, vì có thể tiêu dùng sản phẩm được sản xuất tại Pháp, và là những rau củ quả sạch, hữu cơ. Tôi cũng đã gặp gỡ nhiều người trồng rau châu Á, họ đã trồng thành công những loại cây này ở Pháp và tôi cũng muốn thử sức. Như vậy, tôi cũng sẽ tạo ra được sự khác biệt cho các sản phẩm tôi trồng so với đồ bán ở trong các chuỗi siêu thị. Mục tiêu của tôi là thu hút khách hàng bằng những loại rau củ độc đáo và thú vị hơn về mặt hương vị. Điều quan trọng là những loại rau tươi, được thu hoạch và bán ngay trong ngày”. Trong khu chợ bán đồ hữu cơ (bio) tại thành phố Blois, mỗi chiều thứ Sáu, nhiều người đã xếp hàng mua rau ngay sau khi xe tải chở rau đến, chủ yếu là những khách quen. Masato không chỉ bán rau, mà đôi khi bán cả công thức nấu ăn, giới thiệu về các loại rau củ của vườn, đặc biệt là các loại rau không được nhiều người Pháp biết đến, ví dụ như rau mồng tơi. Anh chia sẻ : “Tôi đã rất bất ngờ, vì ban đầu bán loại rau này không dễ, nó có nhựa rất dính, nhưng hoá ra nhiều người lại thích rau này và trở thành khách quen. Có những người biết đến rau này là nhờ sạp hàng của tôi. Tôi cũng rất ngạc nhiên khi thấy rau mùi bán rất chạy. Trong khi cách nay 20 năm, loại rau thơm này không được biết đến nhiều ở Pháp. Có lẽ rau muống hay rau mồng tơi, một ngày nào đó sẽ trở nên phổ biến hơn, nhất là với những mùa hè ngày càng nóng nực.” Rau muống được đưa vào bàn ăn đạt sao Michelin Ngoài việc thu hoạch rau củ đem bán ở các khu chợ địa phương, Masato cũng có những khách hàng quen thuộc, đến mua rau tận vườn. Hàng tuần, thậm chí là hàng ngày, bếp trưởng Anthony Maubert đến nông trại của Masato, tự tay chọn lựa các loại rau cho thực đơn của nhà hàng ASSA. Trong phòng lạnh tại nhà kho cạnh vườn rau, Masato giới thiệu cho ông Maubert những loại rau củ mới vừa được thu hoạch. « Bây giờ bắt đầu mùa thu hoạch khổ qua, có ít gai nhọn hơn », Masato nói. Ông Anathony hỏi : « Còn chỗ cà trắng này thì sao ? » « Tôi thử trồng loại cà này, nhưng tôi sẽ không trồng tiếp vì cây cho ra rất ít trái, chỉ vài quả một tuần », Masato giải thích. Nằm cạnh bờ sông Loire, nhà hàng được Michelin trao tặng 1 sao và vừa giành giải Gault & Millau Vàng hồi đầu năm nay, vinh danh những ẩm thực địa phương độc đáo, sáng tạo nhất với các món ăn kết hợp mỹ vị đông tây và chủ yếu lấy cảm hứng từ ẩm thực Nhật Bản. Thực đơn được thay đổi hàng ngày, dựa trên các sản phẩm rau rủ có sẵn tại nông trang của Masato hoặc các thực phẩm từ các nhà cung cấp khác. Vị đầu bếp người Pháp giải thích : « Bởi vì chúng tôi luôn thích ứng với những gì có trong vườn của Masato, nếu trái chưa chín thì chúng tôi không lấy. Chúng tôi thích ứng với tự nhiên, có gì thì nấu ấy, và đó cũng là tiêu chí được viết trong menu của chúng tôi. Ngay cả với cá cũng vậy, tôi không đặt hàng cá nào mà xem họ đánh được loại cá nào thì tôi chế biến cá đó. Do đó nhà hàng của chúng tôi giống như là tập thể thao hàng ngày để làm việc tốt nhất có thể với các sản phẩm khác nhau mỗi ngày ». Trong căn bếp của nhà hàng, tất cả đều đến từ vườn rau của Masato, từ củ tỏi cho đến trái ớt, bí ngòi, cà chua hay các hương liệu khác. « Rau củ quả trong vườn của Masato là nền tảng trong cách nấu ăn của tôi », ông Anthony khẳng định. Điều đặc biệt là dưới bàn tay tài ba của vị đầu bếp người Pháp, rau muống, một loại rau quen thuộc trong các bữa ăn hàng ngày tại các gia đình Việt Nam cũng như nhiều nước Đông Nam Á, trở thành một loại bánh đậm vị. Vẫn với sắc xanh tự nhiên, nhưng rau muống được xay nhuyễn và kết hợp với nhiều hương liệu khác, được đưa vào thực đơn khai vị của nhà hàng vào mùa hè, với cách bày trí sang trọng, mãn nhãn thực khách. Đầu bếp giải thích : « Chúng tôi cố gắng tôn trọng sản phẩm và làm gia tăng giá trị của chúng và nhất là không khiến các thực khách bị sốc. Ví dụ rau muống, tôi không đem xào với tỏi, mà chúng tôi muốn ‘bứt phá giới hạn’, chế biến ra món ăn ở tầm cao hơn. Tôi không nấu món Á, tôi chỉ thể hiện nó theo cách của riêng mình. Tôi nghĩ mình vẫn giữ trọn cốt cách của ẩm thực Pháp, thông qua khẩu vị và cảm nhận của cá nhân. Với thực khách người Pháp, họ sẽ cảm thấy một chút lạ lẫm, ngỡ ngàng bởi các hương vị phương Đông, còn với thực khách châu Á, họ lại tìm thấy những hương vị quen thuộc, nhưng rồi cũng đầy bất ngờ khi chúng lại được đặt trọn trong một kết cấu ẩm thực Pháp. Mục đích của tôi là tạo ra sự bất ngờ cho thực khách và đưa họ vào một chuyến hành trình vị giác, kể cả với những người dân địa phương, vốn là nhóm khách hàng cốt lõi của chúng tôi. » Xu hướng đồ Made in France và thách thức khí hậu Tại Pháp, số lượng nhà hàng ẩm thực châu Á chiếm khoảng 13 % thị trường, với mức tăng trưởng 25% trong vòng 5 năm qua, với khoảng 20 000 cơ sở trên khắp cả nước. Các nhà kinh doanh ẩm thực cũng ngày càng đa dạng, chiến lược hơn, chọn phục vụ các món ăn theo vùng miền, ví dụ như có nhà hàng chuyên phục vụ món Tứ Xuyên, Mãn Châu, hay chuyên về bánh bao như chuỗi nhà hàng Bao Family. Nhà bình luận ẩm thực, sáng lập bảng xếp hạng Foodie, ông Emmanuel Rubin, từng nhận định với RFI Tiếng Việt : “Tôi cho rằng thế kỷ 21, với quá trình toàn cầu hoá, tác động nhiều đến nền ẩm thực. Nhiều đầu bếp Pháp cũng quan tâm đến ẩm thực, cách chế biến và nguyên liệu từ châu Á. Những đời sau, thế hệ thứ 2 thứ 3 của những người nhập cư châu Á, muốn kể một câu chuyện ẩm thực độc đáo, chân thật và minh bạch hơn. Phải nói rằng là ngày nay, các quán ăn châu Á phục vụ đồ ngon hơn rất nhiều so với cách đây 30 năm, vốn không đầu tư vào cách phục vụ cũng như trang trí mà chỉ chủ yếu phục vụ kiều bào.” Mạng xã hội cũng góp phần đưa các món ăn châu Á phổ biến hơn. Ví dụ influencer có ảnh hưởng như Impératrice Wu

  8. Sep 16

    « Viện Quý tộc » : Cuộc cải tổ kết thúc chế độ quý tộc cha truyền con nối trong Thượng Viện Anh

    Trong tháng 5/2026, chính phủ Anh thực hiện nốt cuộc cải cách Viện Quý tộc (House of Lords), đưa hết các nhà quý tộc có quyền kế vị ra khỏi cơ quan lập pháp tương đương Thượng nghị viện, chấm dứt bảy thế kỷ truyền thống chính trị - văn hóa Anh. Câu chuyện này có ý nghĩa ra sao và cuộc cải cách do đảng Lao động Anh thực hiện có thực sự dân chủ hóa hệ thống lập pháp ở Vương quốc Anh ? Mời quý vị theo dõi phần giải thích từ thông tín viên Nguyễn Giang tại Luân Đôn. ----- ***** ----- RFI Tiếng Việt : Thân chào anh Nguyễn Gianh. Đầu tiên xin anh cho biết dự án « Cải tổ Viện Quý tộc Vương quốc Anh » gồm những nét chính nào ? TTV. Nguyễn Giang : Vâng, đầu tiên tôi xin nói đây là cuộc cải tổ lần thứ 2 mà bộ máy chính trị Anh thực hiện để xóa dần đi di sản thời phong kiến có từ năm 1066 ở Anh. Cả hai lần đều là sáng kiến của đảng Lao động Anh (Labour). Lần trước sau khi ông Tony Blair lên làm thủ tướng nhờ phe Lao động thắng cử năm 1997, thì tới năm 1999, chính phủ và Hạ viện Anh đã thông qua Luật Cải tổ House of Lords lần một, đuổi ra khỏi Viện Quý tộc 759 vị quý tộc có quyền kế vị nhiều đời và chỉ giữ lại 92 vị. Nói ngắn gọn thì họ thuộc về 600 dòng họ quý tộc thực thụ còn lại ở Anh. Đây là nhóm có quyền kế vị (hereditary nobility), tức là đời cha chết đi thì các tước như công tước, hầu tước, bá tước, nam tước, đi kèm lâu đài, điền sản họ sở hữu từ nhiều thế kỷ được truyền lại cho con trai cả (theo luật ưu tiên trưởng nam-primogeniture), và những người kế vị này sẽ bầu chọn lẫn nhau để nghiễm nhiên thừa hưởng ghế trong The House of Lords, như một đặc quyền. Năm nay, chính phủ của đảng Lao động do Sir Keir Starmer làm thủ tướng, thực hiện cam kết tranh cử là cải tổ Viện Quý tộc. Hạ viện Anh đã thông qua luật hồi tháng Ba, xóa vĩnh viễn quyền kế vị các ghế dành cho quý tộc trong House of Lords. Thế nhưng, để xoa dịu sự phản đối của 92 vị còn lại, thì Văn phòng Phủ Thủ tướng đồng ý để 26 người quay lại giữ ghế trong Viện Quý tộc nhưng phải đổi áo, nhận bổ nhiệm là Lord một đời, do các đảng chính trị bổ nhiệm vào. Họ sẽ ở đó cho tới cuối đời và sau đó thì chỉ có các Thượng nghị sĩ (life peers) còn hoạt động trong Viện Quý tộc. Hiện con số những người không phải quý tộc có quyền kế vị là chừng 800, cũng rất đông. Dư luận Anh lâu nay ủng hộ việc cả tổ House of Lords. Một khảo sát do Đại học University College London (UCL) thực hiện giữa năm 2025 cho thấy 60% người dân muốn loại các vị quý tộc cha truyền con nối ra khỏi cơ quan này và chỉ có 22% không ủng hộ cải cách. Điều đáng nói nữa là 79% ủng hộ việc tước quyền của Thủ tướng Anh bổ nhiệm người thân tín vào House of Lords. Ví dụ như Lord Peter Mandelson, được đảng Lao Động và thủ tướng Keir Starmer đề cử, và có tước quý tộc một đời. Nay ông ta dính vào tai tiếng Epstein ở Mỹ, và bị cảnh sát điều tra, nhưng tước Lordship của ông ta vẫn còn đó.  Những chuyện như vậy khiến dư luận bất bình. Những người chỉ trích nói đây là một dạng đặc quyền, đặc lợi được trao tặng trọn đời nhờ thân quen. Anh có thể giải thích thêm về hai loại quý tộc, nhóm có quyền kế vị (hereditary peers) và nhóm chỉ nhận tước phong một đời (life peers) được không ? Cho tới nay chế độ phong kiến ở Anh để lại chừng 600 gia đình nhà quý tộc thực thụ, sở hữu chừng 800 tước hiệu, công tước, hầu tước, bá tước, nam tước. Số gia tộc ít hơn số tước hiệu vì một số nhà sở hữu cả tước công và tước hầu, tước bá, theo lãnh địa mà họ làm chủ. Ví dụ Công tước xứ Norfolk (Edward Fitzalan-Howard) đồng thời là bá tước xứ Surrey (Earl of Surrey). Hai vùng đất này ở hai chỗ khác nhau. Số quý tộc này không tăng, không giảm trong nhiều thế kỷ qua vì được truyền từ đời này sang đời kia, và theo nguyên tắc ưu tiên trưởng nam, nên con trai cả sẽ thừa hưởng tước vị đó chứ tước vị không được chia ra cho các con. Riêng quý tộc Scotland trong một số trường hợp được truyền lại tước vị cho con gái cả, nếu nhà quý tộc chết đi mà không có con trai. Hàng năm Hoàng gia phong tặng chừng 2000 huân huy chương, tước vị khác nhau, từ huy chương Thành viên Đế quốc Anh (MBE-Member of the British Empire), danh hiệu Sĩ quan Đế quốc Anh (OBE-Officer of the British Empire), cao nhất trong nhóm này là Chỉ huy của Đế quốc Anh (CBE-Commnader of the British Empire), cho tới danh hiệu Hiệp sĩ (Knight) như cầu thủ David Beckham, ca sĩ Elton John được trao. Nam tước là cấp thấp nhất trong 5 tước quý tộc Anh và mỗi năm có khoảng 25-50 người được Hoàng gia phong tặng. Nam tước (baron) hoặc nữ nam tước (baroness) thường được chọn nhờ công trạng hoặc do Thủ tướng chỉ định. Họ được quyền ngồi vào House of Lords. Vì sao Anh quốc phải cải cách Viện Quý tộc vào lúc này ? Nguồn gốc của Viện Quý tộc có từ Thế kỷ 11 khi Hội đồng Phụ chính Đại thần (Curia Regis) được Vua « William – Nhà chinh phạt » thành lập để tư vấn cho vua. Xin nhắc đây là vị vua từ Pháp sang chiếm đảo Anh và ngai vàng Anh nên ông ấy áp dụng các cơ chế phong kiến từ Pháp, xóa đi các hội đồng quý tộc nhỏ lẻ theo vùng miền của người Anglo-Saxon, và cho một nhóm nhỏ gồm các nam tước (barons) và các lãnh đạo giáo hội cấp cao (giám mục) vào hội đồng này. Họ đóng vai trò cố vấn cho nhà vua về việc thu thuế và ban hành luật pháp. Đây chính là "hạt giống" đầu tiên của Thượng viện. Từ thế kỷ 13, khi Bản Hiến chương Tự do (Magna Carta) được ký kế năm 1215, buộc nhà vua phải tham vấn ý kiến của các quý tộc trước khi thu thuế vì Hội đồng này mở rộng cho đại diện các gia tộc hùng mạnh, giàu có nhất của nước Anh, gồm các công tước, bá tước, hầu tước...vào ngồi. Đến năm 1295, Vua Edward I triệu tập ‘Model Parliament’ (Nghị viện Kiểu mẫu). Lần đầu tiên, ngoài các quý tộc và giới tăng lữ còn có đại diện của quý tộc-quân sự thấp hơn (hiệp sĩ- knights) và và thị dân tham dự. Nghị viện Anh như thế có cả hai nhóm, cao thấp khác nhau. Sang thế kỷ 14, vào khoảng năm 1341 thì viện này tách ra làm hai : House of Lords tập trung các đại quý tộc, tăng lữ và House of Commons còn gọi là Viện Thứ dân, gồm các hiệp sĩ (giới võ sĩ có ngựa chiến, gươm kiếm đánh thuê cho đại quý tộc) và là đại diện dân địa phương các quận hạt, đa số là thị dân. Nhu cầu cải tổ Viện Quý tộc để biến nó thành Thượng Nghị Viện (Senate) như ở Pháp, Mỹ và nhiều nước châu Âu khác đã được bàn đến hơn 30 năm qua. Lý do là một nền dân chủ thì không thể nào duy trì cơ chế cho ai đó hưởng đặc quyền làm nhà lập pháp cao cấp (tương đương chức Thượng nghị sĩ) theo kiểu cha truyền con nối, mà phải được bầu cử, hoặc ít ra là bổ nhiệm nhờ công trạng, thành tích cá nhân với quốc gia. Như vậy, so với các nước châu Âu khác thì Anh Quốc là quốc gia duy nhất có Viện Quý tộc vẫn tồn tại ? Đúng vậy, chúng ta phải nhắc rằng đây là một di sản lâu đời, có ít nhất gần 1000 năm tuổi, nhưng là di sản đem từ Pháp sang. Mà nước Pháp sau Cách mạng 1789 đã xóa sổ hoàn toàn tầng lớp quý tộc. Nước Đức từng là đế chế mà cũng xóa danh hiệu quý tộc, từ đầu thế kỷ 20. Nên ngày nay ai có nhận danh xưng nam tước, bá tước, ví dụ ‘Graf von’ gì đó thì phải gắn vào họ, và để xưng hô mang tính cá nhân, còn về mặt pháp lý, không có ai là bá tước, công tước gì ở Đức nữa cả. Ngay cả các nước Bắc Âu có vua nhưng cũng không còn tầng lớp quý tộc được quyền chính trị như ở Anh. Các nước Đông Âu một thời theo ý thức hệ công nông, xã hội chủ nghĩa thì đã xóa hẳn chức danh quý tộc từ lâu rồi. Chỉ riêng Anh quốc vẫn có Hoàng gia và các tước quý tộc kế vị, cùng quý tộc phong tặng. Anh có thể giải thích thêm là Anh quốc muốn cải tổ Viện Quý tộc thì mục đích cuối cùng của họ là gì ? Mục tiêu sẽ là dần dần biến House of Lords thành một thượng viện thực thụ như ở các nước khác. Tức là trong hệ thống dân chủ đại nghị thì thượng viện thường ít quyền hơn hạ viện nhưng

About

Những vấn đề xã hội Việt Nam và trên thế giới qua lăng kính RFI

More From RFI Tiếng Việt

You Might Also Like