Tạp chí xã hội

Những vấn đề xã hội Việt Nam và trên thế giới qua lăng kính RFI

  1. 3d ago

    Con nuôi người Hàn ở Mỹ : Những đứa trẻ sống kiếp không quê hương

    Từ sau Chiến tranh Triều Tiên, hàng trăm nghìn trẻ em Hàn Quốc đã được đưa ra nước ngoài làm con nuôi và Mỹ là điểm đến lớn nhất. Với nhiều gia đình phương Tây, đây từng được xem là hành động nhân đạo: cứu giúp những đứa trẻ mồ côi, nghèo đói, không có tương lai trong một đất nước vừa  ra khỏi chiến tranh. Nhưng sau hơn 70 năm, những câu chuyện được kể lại từ chính người con nuôi Hàn Quốc cho thấy một mặt khác của lịch sử: hồ sơ bị làm sai lệch, trẻ em bị tách khỏi gia đình ruột, quốc tịch không được bảo đảm, khủng hoảng bản sắc kéo dài và nỗi đau tìm lại cội nguồn không dễ chữa lành. Không chỉ là câu chuyện của những đứa trẻ được đưa tới một gia đình mới, đó còn là câu chuyện của chiến tranh, nghèo đói, kỳ thị xã hội, chủ nghĩa dân tộc huyết thống, nhu cầu gia đình của phương Tây, tôn giáo, thị trường nhận con nuôi và trách nhiệm chưa hoàn tất của cả quốc gia gửi con lẫn quốc gia nhận con. Lịch sử nhận con nuôi Hàn - Mỹ  Theo Namu-Wiki, chuyên trang bách khoa toàn thư phiên bản Hàn Quốc, lịch sử nhận con nuôi Hàn – Mỹ bắt đầu trong bối cảnh Hàn Quốc kiệt quệ sau Chiến tranh Triều Tiên. Đất nước bị tàn phá, nhiều gia đình ly tán, trẻ em mồ côi và trẻ bị bỏ rơi xuất hiện khắp nơi, trong khi hệ thống phúc lợi trẻ em gần như không đủ sức bảo vệ những nhóm yếu thế nhất. Đặc biệt, trẻ lai giữa binh sĩ Mỹ và phụ nữ Hàn Quốc trở thành một trong những nhóm đầu tiên bị đẩy ra khỏi xã hội Hàn Quốc thời hậu chiến. Những đứa trẻ này thường bị kỳ thị kép: vừa là con của phụ nữ nghèo hoặc bị xã hội phán xét, vừa bị xem là đe dọa đối với quan niệm “dân tộc thuần chủng”. Trong xã hội Hàn Quốc lúc bấy giờ, huyết thống và gia đình phụ hệ giữ vai trò rất lớn, trẻ lai gần như không có vị trí rõ ràng. Đưa các em sang Mỹ vì thế được trình bày như một giải pháp nhân đạo, nhưng cũng đồng thời là cách Hàn Quốc loại bỏ một nhóm trẻ mà xã hội không muốn nhìn nhận. Ở phía Mỹ, phong trào nhận nuôi trẻ em Hàn Quốc được thúc đẩy bởi truyền thông chiến tranh, các tổ chức Cơ Đốc giáo và bối cảnh Chiến tranh Lạnh. Hình ảnh trẻ em Hàn Quốc nghèo đói, mồ côi và cần được cứu giúp xuất hiện trong các chiến dịch bảo trợ, tờ rơi, ảnh chụp và phim tài liệu, tạo nên một làn sóng cảm thương trong công chúng Mỹ. Các tổ chức như World Vision và Everett Swanson Evangelistic Association, tiền thân của Compassion International, góp phần biến trẻ em Hàn Quốc thành đối tượng của các chương trình bảo trợ từ xa, rồi từ đó mở đường cho nhận con nuôi thực sự. Theo báo Christian Today, năm 1955, vợ chồng Harry và Bertha Holt, một cặp vợ chồng Tin Lành ở bang Oregon, nhận nuôi 8 trẻ em Hàn Quốc. Đây trở thành dấu mốc quan trọng trong lịch sử nhận con nuôi Hàn – Mỹ. Từ sự kiện này, chương trình Holt Adoption Program ra đời và về sau phát triển thành một trong những tổ chức nhận con nuôi quốc tế nổi bật nhất. Theo tài liệu về lịch sử Cơ Đốc giáo trong nhận con nuôi Hàn – Mỹ, trong giai đoạn 1953–2018, khoảng 170.000 trẻ em Hàn Quốc được nhận nuôi tại hơn 29 quốc gia, trong đó Mỹ nhận hơn hai phần ba, tương đương 114.117 trẻ. Ban đầu, câu chuyện được kể bằng ngôn ngữ của lòng nhân đạo: trẻ em nghèo được cứu giúp, trẻ mồ côi có gia đình, những đứa trẻ không tương lai được đưa đến một đất nước giàu có hơn. Nhưng theo thời gian, khi số lượng trẻ được đưa ra nước ngoài ngày càng lớn, hệ thống ấy bắt đầu bộc lộ một bản chất phức tạp hơn nhiều. Con nuôi người Hàn dần bị coi như món hàng công nghiệp  Khi việc nhận con nuôi được đưa vào một hệ thống có nhu cầu, có tổ chức, có phí, có hồ sơ và có quy trình vận chuyển, trẻ em dần bị nhìn theo một cách khác. Các em không còn là những đứa trẻ cần được bảo vệ, mà trở thành đối tượng trong một chuỗi cung ứng xuyên quốc gia: được chọn, kiểm tra sức khỏe, lập hồ sơ, chuyển giao và đưa sang nước ngoài. Nghiên cứu của giáo sư Kim thuộc đại học Suwon về nhận con nuôi xuyên quốc gia cho rằng không thể chỉ nhìn hiện tượng này như một hành động nhân đạo. Ở tầng sâu hơn, đây là dòng chảy một chiều: trẻ em từ các quốc gia nghèo, hậu chiến, thiếu hệ thống phúc lợi được đưa sang các quốc gia giàu hơn, phần lớn là vào các gia đình da trắng trung lưu. Dòng chảy ấy phản ánh sự chênh lệch quyền lực giữa nước gửi con và nước nhận con, giữa gia đình nghèo không có khả năng giữ con và gia đình giàu có nhu cầu nhận con nuôi. Ở phía Hàn Quốc, nhận con nuôi quốc tế dần trở thành một cách xử lý những vấn đề xã hội mà nhà nước chưa đủ năng lực hoặc chưa muốn giải quyết: trẻ mồ côi, trẻ lai, trẻ bị bỏ rơi, con của phụ nữ chưa kết hôn và trẻ em từ các gia đình nghèo. Thay vì xây dựng một mạng lưới phúc lợi đủ mạnh để hỗ trợ mẹ đơn thân, phụ nữ nghèo hoặc gia đình yếu thế tiếp tục nuôi con, hệ thống lại lựa chọn con đường đưa trẻ ra nước ngoài. Ở phía Mỹ và các nước phương Tây, nhu cầu nhận con nuôi cũng rất lớn. Một số gia đình không thể sinh con hoặc khó nhận trẻ trong nước, trong khi trẻ em Hàn Quốc được xem là “dễ thích nghi”. Hình ảnh người châu Á chăm chỉ, ngoan ngoãn, ít gây xung đột và có thể hòa nhập tốt vào xã hội phương Tây đã được chiếu lên chính những đứa trẻ Hàn Quốc. Trong mắt một số cơ quan và gia đình nhận nuôi, trẻ Hàn Quốc trở thành nhóm “an toàn”: có hồ sơ tương đối rõ, sức khỏe được kiểm tra, quy trình xuất cảnh ổn định và ít nguy cơ tranh chấp từ cha mẹ ruột. Chính từ đây, ranh giới giữa “cứu giúp trẻ em” và “đáp ứng nhu cầu của người lớn” trở nên mờ nhạt. Khi trẻ em bị đánh giá qua độ tuổi, giới tính, ngoại hình, tình trạng sức khỏe, hồ sơ và khả năng thích nghi, nhận con nuôi không còn thuần túy là hoạt động bảo vệ trẻ em. Nó bắt đầu mang dáng dấp của một thị trường. Điều đau đớn là trong thị trường đó, một số đứa trẻ bị tước đi những thứ căn bản nhất: tên thật, ngày sinh thật, thông tin cha mẹ ruột, ngôn ngữ mẹ đẻ và quyền được biết vì sao mình bị đưa đi. Sự hỗn loạn trong hệ thống nhận con nuôi  Khi trẻ em bị đặt vào logic của quy trình và thị trường, sai lệch hồ sơ không còn là lỗi hành chính nhỏ. Nó có thể trở thành vết nứt đi theo một con người suốt đời. Một trong những ví dụ tiêu biểu là câu chuyện của đạo diễn tài liệu người Mỹ gốc Hàn Deann Borshay Liem, theo Yonhap. Bà sinh ra với tên Kang Ok-jin, nhưng được đưa sang Mỹ năm 1966 dưới cái tên Cha Jung Hee. Khi đó, một gia đình Mỹ đã hoàn tất thủ tục để nhận nuôi một bé gái tên Cha Jung Hee tại một cô nhi viện ở Jeonju. Nhưng chỉ vài ngày trước khi cha mẹ nuôi đến Hàn Quốc, cha ruột của Cha Jung Hee xuất hiện và đưa con gái về nhà. Trước tình huống khó xử, cô nhi viện đã chọn một bé gái khác có độ tuổi và ngoại hình tương tự, tên thật là Kang Ok-jin, rồi đưa em sang Mỹ dưới danh tính Cha Jung Hee. Trên hộ chiếu và giấy tờ xuất cảnh, đứa trẻ ấy trở thành Cha Jung Hee. Khi sang Mỹ, bà có tên mới là Deann Borshay Liem, nhưng trong nhiều giấy tờ pháp lý, dấu vết của cái tên Cha Jung Hee vẫn tiếp tục tồn tại. Với Liem, vấn đề không chỉ là bị đổi tên. Đó là cảm giác sống trong thân phận của một người khác. Bà từng nói mình như đang đi trong đôi giày của Cha Jung Hee, sống một cuộc đời đáng lẽ thuộc về người khác. Hành trình đi tìm “Cha Jung Hee thật” sau này trở thành nội dung bộ phim tài liệu In the Matter of Cha Jung Hee, được PBS phát sóng tại Mỹ. Bộ phim không chỉ kể về một cuộc tìm kiếm cá nhân, mà còn đặt câu hỏi lớn hơn: bao nhiêu đứa trẻ Hàn Quốc đã bị đổi tên, đổi tuổi, đổi hồ sơ để phù hợp với quá trình nhận con nuôi? Năm 2025, Ủy ban Sự thật và Hòa giải Hàn Quốc kết luận rằng trong nhiều vụ nhận con nuôi quốc tế từ năm 1964 đến 1999, đã có các vi phạm nhân quyền như ghi trẻ còn cha mẹ thành trẻ mồ côi, làm giả tài liệu và thậm chí thay trẻ khác trong trường h

  2. Jul 29

    Bỉ chuẩn bị và diễn tập đối phó với những cuộc khủng hoảng

    Khác với triết lý “chiến tranh nhân dân”, nơi mỗi người dân là một người lính và mọi người đều được tuyên truyền sẵn sàng chiến đấu bảo vệ Tổ quốc, nước Bỉ nói riêng và Âu châu nói chung hình như đã quên đi mối đe dọa của chiến tranh, nhất là sau khi chiến tranh lạnh chấm dứt với sự sụp đổ của bức tường Berlin và do vậy quên cả việc thao dượt những kỹ năng căn bản cho người dân của mình để đối phó với những cuộc khủng hoảng . Khi cuộc chiến giữa Ukraina và Nga ngày càng có nguy cơ mở rộng và kéo dài, cộng thêm việc Hoa Kỳ rút lại hỗ trợ quốc phòng cho châu Âu từ đầu năm nay, các nước Tây Âu mới nhận ra những thiếu sót cho sự chuẩn bị và những bất cập khi phải nhanh chóng lấp vào lỗ hổng của Mỹ. Vậy Bỉ đã có những chuẩn bị như thế nào để đối phó với những tình huống khẩn cấp ?  Từ cấp vĩ mô Vương quốc Bỉ là một nước nhỏ nằm giữa Đức và Pháp, giáp với Hà Lan. Là thành viên của NATO, Bỉ đã phải tăng ngân sách quốc phòng theo yêu cầu, cũng như có chính sách gia tăng và cải tổ lực lượng quân đội. Bỉ không có chế độ nghĩa vụ quân sự bắt buộc, nên quân đội phải có những đợt quảng bá tuyển quân phục vụ tự nguyện nhằm đáp ứng cho những đòi hỏi ngày càng cao của quân đội. Về mặt vật chất, ngân sách quân sự của Bỉ trong năm nay được ưu tiên giành để mua các chiến đấu cơ F35 từ Hoa Kỳ. Việc mua các máy bay này không chỉ tiêu tốn nhiều tiền mà còn đòi hỏi phải có cả đội ngũ từ phi công cho đến các nhân viên bảo trì và chuyên viên về vũ khí. Cho đến phần của mỗi công dân Do nguy cơ chiến tranh có thể lan rộng bất cứ lúc nào và bất cứ nơi nào trên nước Bỉ, người dân được khuyến khích tự đối phó trong tình trạng khủng hoảng mà không trông chờ vào các cơ quan khẩn cấp của chính phủ. Dĩ nhiên là không có những khóa tập dượt trong các khu phố hay những khẩu hiệu, loa phóng thanh tuyên truyền ra rả để người dân nghi nhớ, mà thay vào đó là những clip video ngắn, vui nhộn được tung ra trên các phương tiện truyền thông và mạng xã hội. Chương trình này được chính cựu ngoại trưởng Bỉ Hadja Lahbib điều hành ở cấp độ châu Âu. Không biết chương trình này có giáo dục người dân ý thức được việc mình phải làm và chuẩn bị trong tình huống cụ thể ? “Bộ dụng cụ căn bản” hay “Bộ dụng cụ sinh tồn” ? Từ mùa xuân năm nay, hệ thống siêu thị Colruyt cho ra mắt bộ dụng cụ căn bản giá 29,99 euro, với lời hứa đơn giản là bạn có thể tự túc trong vòng 24 giờ. Bộ dụng cụ căn bản này gồm một món ăn sáng, món hầm kiểu kebab, mỳ Ý hương vị BBQ, ba thanh năng lượng, một gói bột pha nước uống, ba gói cà phê hòa tan, sáu miếng kẹo cao su, khăn giấy, một cái thìa và một dụng cụ nấu ăn không cần lửa. Theo siêu thị, đây là phản hồi trước yêu cầu từ chính quyền về khả năng “tự cung tự cấp trong vài ngày” trong trường hợp xảy ra khủng hoảng lớn, như mất điện, mất khí đốt, thậm chí là lũ lụt. Điều này đã xảy ra hồi mùa đông năm nay, khi cả thành phố Mons mất điện gần 2 tuần và trận lụt lịch sử gây ra nhiều thiệt hại cho vùng Wallonie mùa hè năm 2021. Tuy chưa được phổ biến rộng rãi, « bộ dụng cụ căn bản » này đã có hai luồng ý kiến. Theo thăm dò, nhiều người, rút kinh nghiệm sau dịch Covid-19, đã thường xuyên tích trữ nước uống, mỳ Ý và giấy vệ sinh trong nhà. Những người ủng hộ thì cho rằng túi đồ khẩn cấp này tiện lợi để xoay sở trong 24 giờ trong khi chờ tiếp cứu. Những người chống thì cho rằng túi đồ này chỉ toàn đồ ăn trong khi nhu cầu trong vòng 24 giờ thì đa dạng hơn ! Từ năm 2025, Trung tâm Khủng hoảng Quốc gia của Bỉ đã đề xuất một danh sách những thứ cần thiết theo tiêu chuẩn của Liên Hiệp Châu Âu, để mỗi người có thể tự chuẩn bị cho riêng mình và có thể tự xử lý trong vòng 72 giờ khi có khủng hoảng xảy ra.  Bộ sơ cứu bao gồm băng gạc, kéo, thuốc sát trùng, thuốc giảm đau, v.v. ; Một chiếc radio chạy bằng pin (kèm pin dự phòng) để được thông báo về các chỉ thị từ chính quyền và diễn biến tình hình mà không cần điện ; Đèn pin hoặc đèn chiếu sáng có pin dự phòng hoặc, nếu có thể, loại có tay quay, nến, bật lửa, diêm ; Một chiếc dao đa năng kiểu Thụy Sĩ để có một vài công cụ cơ bản. Điện thoại di động kèm bộ sạc và/hoặc pin dự phòng ; Kính mắt thường dùng và một cặp kính dự phòng ; Tiền mặt để tự chi trả trong trường hợp máy ATM ngừng hoạt động ; Nước đóng chai (khoảng 6 lít/người), thực phẩm không dễ hỏng, không cần nấu chín (thanh ngũ cốc, đồ hộp, thực phẩm sấy khô, v.v.) ; Bản sao các giấy tờ quan trọng (thẻ căn cước, hợp đồng bảo hiểm, đơn thuốc, v.v.). Quần áo ấm và chăn mền (ví dụ: chăn mền sinh tồn) ; Trò chơi giúp bạn giải trí và quên đi những lo lắng ; Danh sách kiểm tra đồ dùng cá nhân trong trường hợp sơ tán. Sau khi đã chuẩn bị xong bộ dụng cụ sinh tồn, bạn nên đặt nó ở nơi dễ tiếp cận. Điều quan trọng nữa là kiểm tra nội dung bộ dụng cụ ít nhất một lần mỗi năm, chủ yếu để kiểm tra hạn sử dụng của thuốc và thực phẩm, và thay pin. Như vậy nhìn vào danh sách khuyến cáo của Trung tâm giải quyết khủng hoảng ta có thể đặt câu hỏi: Đây là những dụng cụ giúp ta “sống sót” hay là những vật dụng căn bản cần phải có trong trường hợp khẩn cấp ? Vì có những thứ ta cần mà người khác lại không. Chẳng hạn, trò chơi giải trí cần cho trẻ nhỏ ngồi yên nhưng không cần cho người lớn. Hoặc máy thu thanh radio có lẽ trong tương lai gần cũng không còn hiện diện vì các đài phát thanh theo truyền thống đang lần lượt bị đóng cửa. Mà thay vào đó, chiếc điện thoại thông minh tích hợp tất cả mọi chức năng liên lạc. Và với một nước sản xuất bia, thì có lẽ đem theo một ít bia cũng là điều hợp lý vì như Bộ trưởng quốc phòng Bỉ đã kêu gọi người dân uống bia giải khát trong những ngày nắng nóng của mùa hè.  Luyện tập tại các trung tâm y tế Ngày nay, việc luyện tập phòng cháy tại các cao ốc, những nơi tập trung đông người đã trở nên thường xuyên. Có lẽ ai cũng quen với việc vào ngày giờ ấn định trong tháng, khi nghe tiếng còi báo cháy, mọi người tự động rời chỗ làm đi thang bộ xuống tập trung tại một địa điểm nào đó. Điều này tạo thói quen phản xạ khi xảy ra hỏa hoạn mà không dẫn đến hỗn loạn mất trật tự khi sơ tán.  Khi xảy ra các khủng hoảng như khủng bố, hỏa hoạn, chiến tranh, v.v… các trung tâm y tế là những nơi đầu tiên đón nhận hệ quả. Số lượng người nhập viện tăng cao đột biến đòi hỏi sự đáp ứng kịp thời. Do đó, việc luyện tập thường xuyên của các đội ngũ nhân viên y tế nhằm đạt hiệu quả trong việc phối hợp nhịp nhàng giữa các cá nhân và các khoa chuyên môn và ngay cả giữa các cơ sở điều trị. Chẳng hạn, tại tỉnh Liège, có ba trung tâm y tế chính là CHU (Bệnh viện Đại học), Citadelle (Bệnh viện của Vùng) và CHC (Bệnh viện công giáo) có đủ các khoa chuyên môn. Bên cạnh đó là các bệnh viện vệ tinh của các trung tâm này nơi tiếp nhận các bệnh nhân và chuyển tiếp lên các trung tâm hay tiếp nhận trở lại những bệnh nhân sau khi được can thiệp tại các trung tâm và được chăm sóc phục hồi. Nhưng trong trường hợp khủng hoảng xảy ra, khi một lượng lớn bệnh nhân được nhập viện, chắc chắn phải có sự phối hợp hài hòa giữa các khoa để không có sự chồng chéo hay dẫm chân lên nhau. Chẳng hạn như ban tuyên úy của Bệnh viện CHC Mont Légia nơi chúng tôi làm việc. Ban tuyên úy là những người lo chăm sóc các bệnh nhân về mặt tinh thần và tôn giáo. Như vậy, chúng tôi sẽ phải phối hợp với các bác sỹ tâm lý để chăm sóc cho những bệnh nhân và người nhà bệnh nhân. Chúng tôi đã có những buổi huấn luyện, trong đó khi xảy ra chiến tranh hay bệnh viện phải đón nhận một lượng lớn bệnh nhân một cách bất thường. Vào ngày huấn luyện, nếu có mặt ở bệnh viện, chúng tôi sẽ đi thang bộ lên lầu 5 nơi có căng-tin của bệnh viện và không gian lớn đồng thời cũng tách biệt để

  3. Jul 22

    Smartphone: Hàn Quốc thay đổi cách bảo vệ trẻ em trong thời đại công nghệ số

    Trong bối cảnh nhiều quốc gia đang siết chặt việc trẻ vị thành niên sử dụng mạng xã hội và thiết bị số, tại Hàn Quốc, vấn đề quản lý điện thoại thông minh của trẻ em cũng đang trở thành một chủ đề xã hội được quan tâm mạnh mẽ. Một khảo sát gần đây cho thấy phần lớn phụ huynh Hàn Quốc không còn xem smartphone đơn thuần là công cụ tiện lợi, mà là thiết bị cần được kiểm soát chặt chẽ trong quá trình nuôi dạy trẻ. Theo kết quả khảo sát do nghị sĩ Kim Young-ho, chủ tịch Ủy ban Giáo dục Quốc Hội Hàn Quốc, thực hiện với hơn 52.000 phụ huynh có con đang học tiểu học, trung học cơ sở và trung học phổ thông tại Seoul, Incheon và tỉnh Gyeongnam, có tới 98,1% người tham gia cho rằng “cần có mức hạn chế nhất định đối với việc sử dụng điện thoại thông minh của trẻ vị thành niên”. Những lo ngại của phụ huynh tập trung vào nhiều khía cạnh. Có 97,5% cho rằng smartphone làm tăng nguy cơ trẻ tiếp xúc với nội dung độc hại hoặc thông tin không phù hợp; 96% nhận định thiết bị này có thể cản trở sự tập trung trong học tập; 93,9% cho rằng trẻ khó tự kiểm soát thời gian sử dụng; và 90,4% cho biết việc dùng điện thoại cũng có thể trở thành nguyên nhân gây mâu thuẫn trong gia đình. Nghịch lý smartphone của các gia đình Điều đáng chú ý là dù nhận thức rõ các nguy cơ, nhiều phụ huynh vẫn cho con tiếp xúc với điện thoại từ rất sớm. Theo khảo sát năm 2023 của Quỹ Báo chí Hàn Quốc, 29,9% trẻ em Hàn Quốc đã sử dụng smartphone lần đầu trước 24 tháng tuổi, còn tỷ lệ tiếp xúc trước 5 tuổi lên tới 71,5%. Về thời điểm sở hữu điện thoại cá nhân, 15,9% trẻ có điện thoại trước khi vào tiểu học và 44,3% có điện thoại khi học lớp 1 hoặc lớp 2. Thực tế này phản ánh một nghịch lý trong các gia đình hiện đại: cha mẹ lo ngại tác hại của smartphone nhưng vẫn khó từ chối thiết bị này vì nhu cầu liên lạc, an toàn, học tập và sinh hoạt hằng ngày của con. Nghị sĩ Kim Young-ho cho rằng kết quả khảo sát cho thấy rõ tình thế khó xử của phụ huynh. Họ hiểu điện thoại thông minh có thể gây rủi ro, nhưng vẫn buộc phải trao cho con vì lý do an toàn và đời sống học đường. Từ thực tế đó, ông Kim đề xuất phổ biến một thiết bị thay thế gọi là “Edu Ansim Phone” – điện thoại an toàn dành cho học sinh. Thiết bị này sẽ duy trì các chức năng cần thiết như nghe gọi, định vị, ứng dụng an toàn, đồng thời hạn chế các tính năng có nguy cơ gây nghiện hoặc tiềm ẩn rủi ro cao như video ngắn, mạng xã hội, trò chơi trực tuyến và trò chuyện ẩn danh. Theo ông Kim, việc phát triển thiết bị thay thế không chỉ nhằm đáp ứng nhu cầu liên lạc giữa cha mẹ và con cái, mà còn tạo ra một lựa chọn trung gian giữa “cấm hoàn toàn” và “cho trẻ dùng smartphone đầy đủ chức năng”. Đây có thể là hướng đi giúp phụ huynh bảo vệ con khỏi nội dung độc hại, giảm nguy cơ lệ thuộc vào thiết bị số, nhưng vẫn bảo đảm yếu tố an toàn trong sinh hoạt hằng ngày. Trẻ nhỏ cần được bảo vệ đặc biệt trước màn hình  Các chuyên gia cho rằng việc quản lý smartphone không thể chỉ dừng ở việc thay đổi thiết bị, mà cần bắt đầu từ nhận thức đúng về quá trình phát triển của trẻ. Theo Ủy ban Phát triển thuộc Hội Nhi khoa và Thanh thiếu niên Hàn Quốc, việc cho trẻ tiếp xúc với điện thoại thông minh, máy tính bảng hoặc TV từ quá sớm là xu hướng đáng lo ngại. Giai đoạn đầu đời là thời kỳ trẻ cần tương tác trực tiếp với con người, đồ vật thật và môi trường xung quanh, thay vì tiếp nhận các kích thích một chiều từ màn hình. Trẻ nhỏ dễ bị smartphone thu hút bởi hình ảnh chuyển động nhanh, màu sắc rực rỡ, âm thanh liên tục và các nhân vật bắt mắt. Những kích thích mạnh này khiến trẻ nhanh chóng bị cuốn vào màn hình, đồng thời dần cảm thấy các hoạt động thông thường như đọc sách, chơi đồ chơi, vận động, quan sát thiên nhiên hoặc trò chuyện với cha mẹ trở nên kém hấp dẫn hơn. Khi não bộ quen với nhịp kích thích nhanh và mạnh, trẻ cũng có thể khó thích nghi với các hoạt động cần sự kiên nhẫn, tập trung và suy nghĩ chậm. Vấn đề lớn nhất là màn hình thường chỉ tạo ra trải nghiệm một chiều. Trong khi não bộ của trẻ cần được phát triển thông qua các tương tác đa giác quan như nhìn, nghe, chạm, vận động, phản hồi cảm xúc và giao tiếp qua lại, smartphone lại giới hạn trải nghiệm trong hình ảnh và âm thanh trên mặt phẳng hai chiều. Điều này có thể ảnh hưởng đến khả năng tự kiểm soát cảm xúc, hành vi, sự tập trung, trí tưởng tượng, ngôn ngữ và kỹ năng xã hội của trẻ. Đặc biệt, trẻ nhỏ vốn chưa hoàn thiện năng lực chờ đợi, kiềm chế ham muốn hay chuyển từ hoạt động này sang hoạt động khác. Nếu thường xuyên tiếp xúc với thiết bị số, trẻ có thể dễ cáu gắt, phản ứng mạnh khi bị yêu cầu dừng xem, khó tập trung vào các hoạt động chậm hơn và phụ thuộc vào màn hình để giải tỏa cảm xúc. Thiết bị di động cũng có thể làm giảm chất lượng gắn bó giữa cha mẹ và con cái. Trẻ nhỏ, nhất là trẻ dưới 3 tuổi, cần được cha mẹ nhìn, nghe, ôm ấp, đáp lại cảm xúc và cùng tham gia các hoạt động thường ngày. Nếu thời gian này bị thay thế bằng màn hình, hoặc nếu cha mẹ thường xuyên dùng điện thoại khi ở bên con, sự tương tác trực tiếp trong gia đình sẽ bị suy giảm. Trong khi đó, mối gắn bó an toàn với cha mẹ là nền tảng quan trọng giúp trẻ ổn định cảm xúc, tự tin khám phá thế giới và phát triển quan hệ xã hội sau này. Tác động tới ngôn ngữ cũng là điểm cần lưu ý. Trẻ học nói hiệu quả nhất thông qua giao tiếp hai chiều: cha mẹ nói chuyện, trẻ phản ứng, người lớn đáp lại và tiếp tục mở rộng cuộc trò chuyện. Smartphone hoặc TV không thể thay thế quá trình này. Vì vậy, hạn chế smartphone ở trẻ nhỏ không chỉ là giảm thời gian giải trí, mà còn là biện pháp bảo vệ sự phát triển não bộ, cảm xúc, ngôn ngữ, khả năng tập trung và kỹ năng xã hội. Trong những năm đầu đời, điều trẻ cần nhất không phải là làm quen sớm với màn hình, mà là được chơi, được chạm, được vận động, được trò chuyện và được kết nối trực tiếp với cha mẹ cũng như thế giới thật xung quanh. Vì sao cần can thiệp sớm? Các chuyên gia Hàn Quốc đặc biệt nhấn mạnh lợi ích của can thiệp sớm. Nếu cha mẹ chỉ bắt đầu hạn chế khi trẻ đã hình thành thói quen phụ thuộc vào điện thoại, quá trình điều chỉnh sẽ khó khăn hơn và dễ dẫn đến xung đột trong gia đình. Ngược lại, nếu quy tắc được đặt ra từ khi trẻ còn nhỏ, trẻ sẽ dễ tiếp nhận hơn, ít phản kháng hơn và có cơ hội hình thành thói quen sinh hoạt lành mạnh trước khi bước vào độ tuổi đi học. Can thiệp sớm không chỉ nhằm giảm thời gian nhìn màn hình, mà còn bảo vệ những giai đoạn phát triển quan trọng của não bộ, cảm xúc và quan hệ xã hội. Khi trẻ có thêm thời gian đọc truyện tranh, vận động ngoài trời, chơi trò chơi cảm giác, khám phá thiên nhiên, học nhạc, vẽ tranh hoặc chơi thể thao, trẻ sẽ có nhiều nguồn kích thích lành mạnh hơn, thay vì chỉ tìm kiếm sự thỏa mãn từ thiết bị số. Nói cách khác, quản lý smartphone ở trẻ nhỏ không nên được hiểu đơn giản là cấm đoán, mà là một hình thức can thiệp sớm nhằm giúp trẻ phát triển khả năng tập trung, tự điều chỉnh cảm xúc, giao tiếp xã hội và xây dựng thói quen sống cân bằng. Không chỉ cấm, mà phải giúp trẻ học cách tự kiểm soát Ở góc độ sức khỏe tâm thần trẻ em, Giáo sư Lee Young-sik, Khoa Tâm thần học, Bệnh viện Đại học Chung-Ang, cho rằng không thể đánh giá tình trạng “nghiện smartphone” chỉ bằng số giờ sử dụng mỗi ngày. Điều quan trọng hơn là trẻ có còn khả năng tự kiểm soát ham muốn sử dụng thiết bị hay không. Vì vậy, giải pháp không nên chỉ là cấm tuyệt đối, mà cần giúp trẻ hình thành năng lực tự điều chỉnh và tự kiềm chế. Theo Giáo sư Lee, bước đầu tiên trong quản lý smartphone là khôi phục và củng cố quan hệ gia đình. Khi cha mẹ và con cái có đủ thời gian giao tiếp tích cực, trẻ cảm nhận được sự quan tâm thay vì chỉ bị ki

  4. Jul 15

    Lịch sử 80 năm di dân Ý ở Bỉ: Từ thế hệ "charbonnage" đến làn sóng nhập cư lậu

    “Chúng tôi không đến đây để hưởng nắng vàng và trời xanh”. Cách nay 80 năm, vào ngày 23/06/1946, Bỉ và Ý đã ký một thỏa thuận lịch sử : Đổi người lấy than đá. Từ đợt di dân này, những làn sóng nối tiếp đã hình thành nên một phần di sản Ý ngay giữa lòng Vương quốc Bỉ. Từ thế hệ “charbonnage” Từ charbonnage trong tiếng Pháp có nghĩa là những đường hầm sâu hoắm trong lòng đất để khai thác than đá. Nhưng ở Bỉ, từ này dùng để chỉ thế hệ những người Ý di dân đến làm việc trong các vùng có mỏ than ở Bỉ. Từ này mang tính chất miệt thị, coi thường những người Ý đến làm việc trong các mỏ than. Ngày nay, khi nói chuyện với những người Ý, nhắc đến từ này giống như gợi lại nơi họ ký ức sống động về một thời lao nhọc của những người phu mỏ. Ngày 23/06/1946, trong bối cảnh một châu Âu bị tàn phá bởi chiến tranh, Bỉ và Ý đã ký kết một hiệp ước độc đáo. Bỉ cần nhân lực để khởi động lại những mỏ than sau 5 năm bị Đức chiếm đóng. Ý, một quốc gia bại trận, đang tìm cách bảo đảm nguồn cung nguyên liệu giá rẻ. Để cân bằng phương trình này, 50.000 người đàn ông đang trong độ tuổi lao động đã rời bỏ những bờ biển đầy nắng ở Apulia, Abruzzo, Basilicata, Sicilia và Friuli của nước Ý để bước xuống những đường hầm tăm tối ở Liège, Charleroi và Borinage nơi nước Bỉ xa xôi. Đổi lại, Ý được quyền nhận 200kg than mỗi thợ mỏ mỗi ngày. Họ đến đây một mình, đôi khi cùng với gia đình, có cả trẻ nhỏ. Họ được bố trí ở tạm trong các doanh trại, nơi mà chỉ vài tháng trước còn là nơi giam giữ tù binh Đức. Điều kiện sống khắc nghiệt, cú sốc văn hóa hoàn toàn. Tuy nhiên, khi kết thúc hợp đồng 5 năm, phần lớn trong số họ đã không trở về mà đã ở lại và xây dựng cuộc sống, gia đình. Một bản sắc mới. Một bầu trời Bỉ mà bất chấp tất cả sẽ luôn “xanh” hơn sắc thiên thanh ở Ý. Tuy nhiên, ngày 08/08/1956, thảm họa ập xuống mỏ than Bois du Cazier ở Marcinelle làm 262 thợ mỏ thiệt mạng, trong đó có 136 người Ý. Thảm họa dẫn đến việc chấm dứt thỏa thuận trao đổi giữa hai nước, nhưng lại mở ra một làn sóng người Ý “nhập cư lậu”. Thế hệ chạy trốn ? Cách nay 5 năm, đại sứ Ý tại Bỉ, Francesco Genuardi, đã giải thích tại lễ tưởng niệm các thợ mỏ người Ý tại Bỉ trong thảm họa này : "Chúng ta không ăn mừng Hiệp định Than đá - Con người; chúng ta đang tưởng niệm, với lòng kính trọng, một bước đi khó khăn và đau đớn, nhưng là một bước khởi đầu cho sự hội nhập của người Ý tại Bỉ." Việc đến Bỉ năm 1946 là “một sự thất vọng lớn đối với người Ý.” Tuy nhiên, ngày nay, do tình hình kinh tế khó khăn, tỷ lệ thất nghiệp cao và môi trường không thuận lợi, nhiều người Ý đang rời bỏ quê hương để tìm kiếm một tương lai tốt đẹp hơn. Đôi khi, họ chọn Bỉ làm điểm đến. Điều này đặc biệt đúng với nghệ sĩ saxophone Angelo Gregorio, chơi trong một nhóm nhạc jazz. Anh đã rời Ý mười năm trước : “Bruxelles thực sự đã chiều chuộng tôi và cho tôi rất nhiều cơ hội. Đối với tôi, Bỉ giống như nước Mỹ đối với những người đã di cư đến đó từ lâu.” Laura, một nữ phục vụ bàn đã làm việc được hai năm, là một ví dụ điển hình. Người phụ nữ gốc Napoli này đã rời bỏ một thành phố đầy nắng, nơi khai sinh ra bánh pizza và phô mai mozzarella, nhưng “không có việc làm" : "Bạn có thể tìm việc ở đó, nhưng chỉ được trả 100 euro một tuần cho những ngày làm việc 10 hoặc 12 tiếng. Ví dụ, anh trai tôi làm việc ở sân bay, đã đóng cửa tám tháng nay. Anh ấy không được hưởng trợ cấp thất nghiệp. Anh ấy chỉ ở nhà, mặc dù đã làm việc ở đó 13 năm. Rõ ràng là điều này có liên quan đến khủng hoảng, nhưng làm sao bạn có thể kiếm đủ sống khi phải nuôi cả nhà ?" Nhiều người nhìn nhận vấn đề theo cách này. Giáo sư xã hội học tại Đại học Liège, Marco Martiniello, đã xác nhận: "Có một cảm giác rằng Ý là một quốc gia của quá khứ, nơi mọi thứ đều bị đình trệ và không có tương lai. Có một cảm giác trì trệ trong xã hội Ý." Một ký ức sống động được truyền qua các thế hệ Một thực tế ít được biết đến: người Ý hiện chiếm hơn 2% dân số của Vương Quốc Bỉ, cộng đồng nhập cư đông thứ hai tại nước này, sau Maroc. Họ hiện diện trong các lĩnh vực giáo dục, xây dựng, công nghiệp, ngân hàng, nhà hàng và garage. Họ đã định hình sâu sắc trong cấu trúc kinh tế và xã hội của Bỉ. Tám mươi năm sau, cuộc sống lưu vong vẫn hằn sâu trong tâm thức của những người Ý này. Nó sống mãi trong tận sâu thẳm tâm hồn con cháu của họ. Tiếng Ý và các phương ngữ vùng miền của nước Ý, tình cảm gia đình sâu đậm, tinh thần liên đới, ý chí chiến đấu v.v… tất cả đều là những dấu vết không phai nhạt của một lịch sử chung. Những tấm biển ghi dòng chữ “Không cho phép chó hoặc người Ý vào” ở những cửa hiệu, quán cà phê, v.v… vẫn chưa cất khỏi quá khứ, mà như động lực gắn vào những hoạt động chính trị và tinh thần đoàn kết của các thế hệ người Ý. Và trên hết, ẩm thực là sợi dây liên kết đích thực của một bản sắc văn hóa được gìn giữ bất chấp thời gian và biên giới. Ngày nay, họ có thể chia sẻ với các sắc dân khác cách thức uống cà phê Italia, ăn bánh pizza, mì pasta hay xúc xích prosciutto, salami, hay làm bếp với các hương liệu từ hương thảo cho đến nước sốt cà chua. Và cùng thưởng thức âm nhạc bên ly rượu mùi limocello làm từ chanh. Trong số những thợ mỏ ngày đó, có không ít những người biết ca hát và chơi các loại nhạc cụ. Và nhất là tinh thần văn nghệ đã ăn sâu trong máu của người Ý. Theo nhà xã hội học Marco Martiniello, những người Ý đầu tiên đang mang theo văn hóa âm nhạc: “Ngay từ khi đặt chân đến đây, năm 1946, trong số những công nhân, nhiều người là nhạc sĩ, người yêu âm nhạc, và thường thì họ chỉ có đài phát thanh. Đài phát thanh dành cho doanh trại, và chúng tôi nghe những bài hát từ đất nước mà chúng tôi vừa rời đi, và một số người là nhạc sĩ, ví dụ như người chơi đàn accordion, guitar". Marco Martiniello thuộc thế hệ thứ hai của các gia đình nhập cư người Ý. Sự truyền tải này phản ánh lịch sử chính gia đình của ông : "Đối với cha tôi, đó là cây đàn môi (guimbarde), bởi vì khi còn nhỏ, trong các bài hát, ông ấy đã chơi đàn môi. Và cây đàn môi này thực sự tượng trưng cho mối liên hệ của ông ấy với đất nước mà ông ấy đã rời đi. Và rồi nó phát triển cho đến khi đạt đến những ngôi sao gốc Ý mà chúng ta biết, và cả những ngôi sao ít nổi tiếng hơn, những người cực kỳ năng động trong làng nhạc ở Bỉ, với nhiều phong cách âm nhạc khác nhau.” Kinh nghiệm nhập cư từ Ý có phải là một mô hình hội nhập? 80 năm sau, liệu câu chuyện di cư này là một thành công ? Đối với nhà xã hội học Marco Martiniello, người Ý và con cháu của họ là một phần không thể thiếu của nước Bỉ, ngay cả khi ông bác bỏ thuật ngữ "hội nhập thành công". Ông giải thích : "Đây là một câu chuyện về sự di cư với tất cả những điều mơ hồ, phức tạp và khó khăn. Tôi tin rằng thế hệ này, nếu hiện đang dần biến mất, có lẽ đã thành công thông qua một số hậu duệ của họ. Nhưng tôi có phần phản đối quan niệm về sự hội nhập hoàn hảo, mô hình mà những người khác nên lựa chọn. Tôi nghĩ đó là một điều hơi hư cấu. Đã có nhiều khó khăn, nhưng rõ ràng là họ đã có chỗ đứng vững chắc trong xã hội Bỉ. Ngày nay, không ai ở Bỉ tin rằng người Ý có thể biến mất một ngày nào đó. Họ là một phần của cảnh quan Bỉ. Trên thực tế, nhiều mối liên kết đã được hình thành từ rất sớm: hôn nhân hỗn hợp, tình bạn, các dự án nghệ thuật chung, tình liên đới trong các mỏ than. Nhưng họ cũng phải chịu đựng sự suy thoái công nghiệp vì hầu hết họ sống ở các khu công nghiệp. Họ phải đối mặt với những vấn đề tương tự như giai cấp công nhân Bỉ.” Vấn đề lao động và nhập cư luôn là thời sự. Bỉ và châu Âu hiện vẫn đang phải đau đầu tìm kiếm giải pháp cho việc cân bằng gi

  5. Jul 8

    Từ chiến tranh Việt Nam đến Ukraina : “Lính đánh thuê” Hàn Quốc trong hình thái mới

    Rồng Xanh, Mãnh Hổ, Bạch Mã là những cái tên từng để lại ký ức nặng nề trong tâm trí nhiều người Việt Nam trong chiến tranh Việt Nam. Về pháp lý, họ là binh sĩ chính quy được chính phủ Hàn Quốc phái sang miền Nam Việt Nam trong khuôn khổ liên minh với Mỹ. Họ là những người lính Hàn Quốc rời quê hương nghèo khó, đổi sinh mạng trên một chiến trường xa lạ để lấy tiền gửi về cho gia đình, đồng thời giúp đất nước tích lũy ngoại tệ và nhận viện trợ từ Washington. Nhưng trong cách nhìn của không ít người Việt, họ thường được nhớ đến như những “lính đánh thuê”. Hơn nửa thế kỷ sau, Hàn Quốc đã trở thành một quốc gia giàu mạnh, có một công nghiệp quốc phòng phát triển và vị thế quốc tế ngày càng cao. Quân đội chính quy Hàn Quốc hiện vẫn hiện diện ở một số khu vực như Liban, Nam Sudan, vùng biển Somalia và Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất, nhưng đó không còn là nhiệm vụ với mục đích mang ngoại tệ và viện trợ về nước, mà là những nhiệm vụ mang tính chất gìn giữ hòa bình, tái thiết, hộ tống hàng hải, hợp tác huấn luyện hoặc bảo vệ công dân trong khuôn khổ nhà nước. Những lực lượng này không được xem là “lính đánh thuê”, bởi họ là binh sĩ chính quy, được Seoul chính thức phái đi và đặt dưới hệ thống chỉ huy hợp pháp. Một câu hỏi được đặt ra : nếu các đơn vị chính quy Hàn Quốc ở nước ngoài không phải là lính đánh thuê, thì “lính đánh thuê Hàn Quốc hiện đại” là ai? Câu trả lời nằm trong vùng xám giữa các công ty quân sự tư nhân, bảo vệ có vũ trang, bảo vệ yếu nhân, an ninh hàng hải, hỗ trợ hậu cần và đào tạo an ninh ở nước ngoài. Dưới những tên gọi đầy tính chuyên môn như thế, hình ảnh người Hàn Quốc trong các vùng xung đột không biến mất, mà chuyển sang hình thái mới : từ cựu đặc nhiệm bảo vệ doanh nghiệp tại Trung Đông, châu Phi, đến những cá nhân tự ý sang Ukraina tham chiến dưới danh nghĩa “tình nguyện”, hiện tượng này phản ánh mặt khuất của chiến tranh toàn cầu hóa : việc làm sau xuất ngũ, sức hút của tiền lương cao, lý tưởng cá nhân và rủi ro pháp lý ngày càng đan xen. PMC Hàn Quốc : Không phải “quân đội tư nhân” theo nghĩa truyền thống Các công ty quân sự tư nhân, hay PMC, tại Hàn Quốc được chú ý nhiều hơn từ đầu thập niên 2010, đặc biệt sau các vụ cướp biển Somalia và nhu cầu bảo vệ tàu thương mại, công trình xây dựng, nhân sự doanh nghiệp Hàn Quốc tại Trung Đông - châu Phi. Những cái tên như Shield Consulting, Aegis International, Hatch Global hay Bullet-K từng được nhắc tới như các ví dụ tiêu biểu của thị trường này. Tuy nhiên, phần lớn các công ty quân sự tư nhân Hàn Quốc không hoạt động như lực lượng chiến đấu tư nhân trực tiếp tham chiến thay cho một bên xung đột. Hoạt động chính của họ thường là bảo vệ tàu hàng đi qua vùng biển nguy hiểm, bảo vệ công trình ở Irak, Afghanistan, Libya hoặc Trung Đông, hộ tống yếu nhân, bảo vệ cơ sở, hỗ trợ logistics, đào tạo an ninh và tư vấn chiến thuật. Nói cách khác, mô hình này gần với doanh nghiệp an ninh chuyên nghiệp hơn là “lính đánh thuê” theo nghĩa truyền thống. Điểm đáng chú ý là các công ty này tận dụng nhiều nhân sự từng phục vụ trong lực lượng đặc nhiệm, thủy quân lục chiến, UDT (đặc nhiệm người nhái), cảnh sát hoặc lực lượng bảo vệ. Với họ, PMC là một lối đi sau khi xuất ngũ: dùng kỹ năng quân sự để tham gia thị trường an ninh quốc tế. Có thời điểm xuất hiện thông tin và đồn đoán rằng nhân sự làm việc ở nước ngoài có thể nhận thu nhập khoảng 100 triệu won mỗi năm, thậm chí cao hơn nếu đảm nhận nhiệm vụ tại Trung Đông, châu Phi hoặc các tuyến hàng hải nguy hiểm. Chính yếu tố tiền bạc khiến nghề này vừa được xem là cơ hội việc làm hấp dẫn, vừa đặt ra câu hỏi về việc đánh đổi an toàn cá nhân để lấy thu nhập. Vùng xám giữa bảo vệ, tư vấn và “đánh thuê” Cần phân biệt rõ giữa PMC - các công ty quân sự tư nhân, nhân viên an ninh tư nhân và lính đánh thuê. Một đội bảo vệ công trình ở Irak, một nhóm bảo vệ tàu hàng qua vùng biển có nguy cơ cướp biển, một chuyên gia huấn luyện an ninh cho cảnh sát nước ngoài, một nhân viên an ninh mạng bảo vệ hệ thống của tập đoàn đa quốc gia và một cá nhân trực tiếp tham chiến ở Ukraina, là những hiện tượng khác nhau về pháp lý, nhiệm vụ và mức độ rủi ro ngoại giao. Ban đầu, các công ty này không tự giới thiệu là “lính đánh thuê”, mà thường được mô tả như doanh nghiệp quản trị rủi ro, bảo vệ vũ trang, an ninh hàng hải, bảo vệ công trình, tư vấn chiến thuật hoặc hỗ trợ hậu cần. Ngày nay, phạm vi an ninh tư nhân còn mở rộng sang cả “mặt trận số”, khi doanh nghiệp thuê ngoài dịch vụ bảo vệ dữ liệu, giám sát hệ thống, ứng phó tấn công mạng, chống gián điệp công nghiệp và bảo vệ hạ tầng vận hành. Chính sự mở rộng này tạo nên vùng xám của “lính đánh thuê Hàn Quốc hiện đại”. Nó không còn giống hình ảnh binh sĩ Hàn Quốc trong chiến tranh Việt Nam, cũng không hoàn toàn giống các tập đoàn quân sự tư nhân lớn của Mỹ, Anh hay Nga. Thay vào đó, nó nằm giữa bảo vệ doanh nghiệp, an ninh hàng hải, an ninh mạng, huấn luyện, tư vấn chiến thuật, việc làm cho cựu quân nhân và nhu cầu quản trị rủi ro của các tập đoàn Hàn Quốc trên thị trường toàn cầu. Rắc rối pháp lý quanh vũ khí Một điểm khiến hoạt động của các công ty quân sự tư nhân Hàn Quốc trở nên đặc biệt nhạy cảm là vấn đề vũ khí. Khác với quân đội chính quy, nhân viên các công ty tư nhân không thể tự do mang súng, đạn, bom khói hay trang bị sát thương từ Hàn Quốc ra nước ngoài. Khi làm nhiệm vụ tại các khu vực rủi ro cao, họ thường phải được trang bị sau khi đến quốc gia sở tại, thông qua giấy phép địa phương hoặc đối tác an ninh tại chỗ. Điều này tạo ra nhiều câu hỏi pháp lý phức tạp: vũ khí đó do ai sở hữu, ai cấp phép, ai sử dụng, có hợp pháp tại nước sở tại hay không, và có đã từng bị dùng trong hoạt động bất hợp pháp nào trước đó hay chưa? Khi xảy ra nổ súng, thương vong hoặc tranh chấp, vấn đề không còn là chuyện nội bộ của một công ty an ninh, mà có thể kéo theo trách nhiệm lãnh sự, phản ứng ngoại giao và áp lực xử lý từ bộ Ngoại Giao Hàn Quốc. Vì vậy, rủi ro của các công ty quân sự tư nhân không chỉ nằm ở chiến trường hay mức lương cao, mà còn ở khoảng trống kiểm soát vũ khí. Một nhân viên an ninh tư nhân có thể được thuê để bảo vệ doanh nghiệp, nhưng khi người đó sử dụng vũ khí ở nước ngoài, câu hỏi lập tức trở thành: đó là phòng vệ hợp pháp, bạo lực tư nhân, hay một tình huống vượt khỏi khả năng kiểm soát của nhà nước? Đào tạo công khai : PMC trở thành một hướng nghề nghiệp Một dấu hiệu cho thấy các công ty quân sự tư nhân PMC đã trở thành một lĩnh vực được công khai hóa tại Hàn Quốc là sự xuất hiện của các khóa đào tạo nhân sự PMC trong hệ thống giáo dục nghề nghiệp. Một số trường nghề, tiêu biểu như các chương trình thuộc khối an ninh - hàng không, quảng cáo công khai “khóa các công ty quân sự tư nhân - bảo vệ yếu nhân”, với mục tiêu đào tạo nhân lực cho các công ty quân sự tư nhân trong và ngoài nước. Theo phần giới thiệu khóa học, chương trình không chỉ đào tạo bảo vệ cá nhân thông thường mà còn hướng tới các nhiệm vụ thường được gắn với các công ty quân sự tư nhân như bảo vệ yếu nhân, bảo vệ cơ sở, an ninh hàng không, quản trị rủi ro, ứng phó tình huống khẩn cấp, ngoại ngữ chuyên ngành và kỹ năng làm việc trong môi trường quốc tế. Nội dung quảng bá cũng nhấn mạnh liên kết với doanh nghiệp PMC, cơ hội tuyển dụng, chứng chỉ nghề nghiệp và đội ngũ giảng viên từng có kinh nghiệm trong cơ quan chính phủ hoặc lực lượng đặc nhiệm. Việc những khóa học như vậy được quảng cáo công khai cho thấy thị trường các công ty quân sự tư nhân ở Hàn Quốc đã có một lớp hạ tầng nhân lực riêng. Nếu trong giai đoạn đầu, các công ty như Bullet-K, Shield Consulting, Aegis International hay Hatch Global chủ yếu tuyển dụng cựu đặc nhiệm, thủy quâ

  6. Jul 1

    Môi trường : Không khí ở Paris trong lành, « dễ thở » hơn so với hồi năm 2010

    Theo một nghiên cứu mà Airparif, tổ chức quan trắc và giám sát chất lượng không khí tại vùng Île-de-France (Paris và vùng phụ cận), được công bố hồi cuối năm 2025, trong những năm qua, không khí ở thủ đô Pháp đã « dễ thở » hơn. Nồng độ một số chất gây ô nhiễm không khí và hâm nóng Trái đất đã giảm. Để hiểu thêm về kết quả của việc cải thiện chất lượng không khí ở Paris, RFI tiếng Việt hôm 20/03/2026 đã phỏng vấn kỹ sư Pierre Pernot, phụ trách quan hệ đối tác và truyền thông của Airparif. RFI : Chất lượng không khí ở Paris hiện nay thực sự như thế nào ? Có đúng là người dân vùng Paris đang được hít thở không khí trong sạch hơn so với cách nay 10-15 năm ? Pierre Pernot : Đúng vậy, chúng ta đang hít thở không khí trong lành hơn so với 10, 15, hoặc thậm chí 20 năm trước. Chúng tôi ghi nhận những cải thiện về nồng độ các chất gây ô nhiễm chính. Nồng độ khí nitơ dioxide đã giảm 40%. Nitơ dioxide là một chất gây ô nhiễm chủ yếu được phát thải từ giao thông đường bộ và đã ảnh hưởng đến sức khỏe đường hô hấp của chúng ta. Trong 10 năm qua, nồng độ khí này đã giảm 40%. Một chất gây ô nhiễm khác là bụi mịn, tức là các hạt bụi li ti, có kích thước dưới 2,5 micron, cũng đã giảm. Chất gây ô nhiễm này được phát thải từ nhiều nguồn khác nhau, bao gồm hệ thống sưởi ấm và giao thông đường bộ. Bụi mịn đã giảm khoảng 30% trong 10 năm qua, điều này rất quan trọng bởi vì bụi mịn ảnh hưởng đến sức khỏe tim mạch của chúng ta. RFI : Những nguồn chính gây ô nhiễm không khí ở Paris là gì ? Đó là do khí thải từ giao thông đường bộ, hệ thống sưởi, công nghiệp hay còn có những nguyên nhân nào khác ? Pierre Pernot : Đây là một câu hỏi thú vị vì nó làm nổi bật sự phức tạp của vấn đề ô nhiễm không khí. Điều quan trọng nhất là chúng ta cần hiểu rằng trên thực tế không khí ô nhiễm do nhiều chất gây ô nhiễm khác nhau, và các chất gây ô nhiễm này có thể được phát thải ở các mức độ khác nhau và từ các nguồn khác nhau. Tôi xin lấy một ví dụ : Đối với khí nitơ dioxide, hơn một nửa lượng khí này được phát thải từ giao thông đường bộ, đặc biệt là từ các xe động cơ đốt trong, nhất là xe chạy bằng dầu diesel. Còn đối với bụi mịn, khoảng một nửa lượng khí này được phát thải từ việc sưởi ấm, đặc biệt là đốt củi, khoảng 20,5% đến từ giao thông đường bộ, phần còn lại là từ các nguồn khác, chẳng hạn như các công trường xây dựng. RFI : Liệu có những khu dân cư hoặc cộng đồng dân cư tại Paris phải tiếp xúc với không khí bị ô nhiễm nhiều hơn những khu vực còn lại hay không ? Pierre Pernot : Đúng là như vậy, bởi vì nhìn chung, ai càng ở gần nguồn gây ô nhiễm không khí thì càng phải tiếp xúc nhiều hơn với các chất này. Ở một thành phố như Paris, những người dân phải tiếp xúc nhiều nhất với các chất gây ô nhiễm không khí thường là những người sống gần các tuyến đường giao thông chính của Paris hoặc đường vành đai. Và đó cũng là nơi nồng độ nitơ dioxide được đo đạc. Ở đây, chúng ta đang nói về sự tiếp xúc trực tiếp với không khí bị ô nhiễm. Thế nhưng, chúng ta cũng cần biết là có những nhóm dân cư có thể ít nhiều dễ bị tổn thương hơn từ không khí bị ô nhiễm. Điều này đặc biệt đúng đối với các nhóm dân cư không mấy khá giả. Họ là nhóm người ít được tiếp cận với hệ thống chăm sóc sức khỏe, ít có khả năng chuyển nhà khỏi các khu vực bị ô nhiễm không khí. Không những vậy, họ còn phải tiếp xúc với các nguồn gây ô nhiễm môi trường khác, chẳng hạn như tiếng ồn, chất lượng không khí trong nhà và tình trạng nhà ở không đạt tiêu chuẩn. Đây là những nguồn bổ sung có thể khiến sức khỏe của họ thêm suy giảm. RFI : Theo ý kiến ​​của ông, đâu là các chính sách môi trường của chính quyền Paris đã giúp cải thiện chất lượng không khí ? Pierre Pernot : Chúng ta nên biết là những kết quả đạt được về chất lượng không khí, dù là giảm mức độ nitơ dioxide hay giảm mức độ bụi mịn, đều là kết quả của nhiều chính sách được thực hiện ở các cấp khác nhau. Đã có những thay đổi quan trọng về các quy định ở cả cấp độ châu Âu và trên quy mô quốc gia, đặc biệt là liên quan đến việc áp dụng các tiêu chuẩn mà Liên Hiệp Châu Âu đề ra, nhờ đó mà các phương tiện giao thông hiện đang lưu thông trên đường ít gây ô nhiễm hơn so với những phương tiện trước kia. Ngoài những nỗ lực này, thì còn có nhiều hành động mang tính ​​địa phương hơn, nhất là để hạn chế giao thông đường bộ, và đặc biệt là hạn chế sự lưu thông của các phương tiện gây ô nhiễm nhất, như chúng ta thấy là Paris có quy định về các khu vực phát thải thấp (Zone à Faibles Émissions). Chính sự kết hợp của tất cả các chính sách này đã giúp cải thiện chất lượng không khí. Tại Paris, mới đây chúng tôi đã tiến hành một nghiên cứu để tìm hiểu xem tất cả các chính sách này đã góp phần vào sự cải thiện chất lượng không khí như thế nào. Nếu lấy khí nitơ dioxide làm ví dụ, chúng ta có thể thấy mức giảm 55% nồng độ nitơ dioxide có được là nhờ hiện đại hóa các xe tham gia giao thông. Điều này có nghĩa là các phương tiện hiện đang lưu thông ít gây ô nhiễm hơn so với những phương tiện trước đây. Đây không phải là sự trùng hợp ngẫu nhiên, mà là kết quả đạt được từ các quy định của châu Âu, của nước Pháp, và cả việc quy định khu vực phát thải thấp ở cấp địa phương (tức là Paris). Các chính sách được thực hiện để hạn chế không gian dành cho ô tô trong thành phố đã góp phần làm giảm 1/4 nồng độ khí nitơ dioxide. 20% còn lại thực chất là liên quan các nguồn ô nhiễm khác ở cấp địa phương, tức là tại Paris, và các biện pháp ở Paris cũng như cấp vùng Paris đã góp phần làm giảm ô nhiễm. RFI : Liệu các biện pháp như quy định về khu vực phát thải thấp hoặc giảm lưu lượng giao thông có thực sự hiệu quả trong việc cải thiện chất lượng không khí ở Paris ? Pierre Pernot : Vâng, các biện pháp này có đóng góp vào hiệu quả, nhưng không phải là « cây đũa thần ». Điều tôi muốn nói là chính sự kết hợp của nhiều biện pháp mới dẫn đến cải thiện chất lượng không khí. Tuy nhiên, chúng ta vẫn có thể định lượng được mức đóng góp của các biện pháp, ví dụ việc triển khai quy định về khu vực phát thải thấp góp phần giảm 14% lượng khí thải gây ô nhiễm, theo ghi nhận ở khu vực đô thị Đại Paris (Grand Paris) kể từ khi biện pháp này được thực hiện vào năm 2017. RFI : Mặc dù chất lượng không khí ở Paris đã được cải thiện, ô nhiễm đã giảm bớt, nhưng mức độ ô nhiễm không khí ở Paris dường như vẫn cao hơn khuyến cáo của Tổ Chức Y Tế Thế Giới. Theo ông thì tại sao ? Pierre Pernot : Vâng, đó là bởi vì xuất phát điểm của chúng ta rất thấp. Chúng ta đã bắt đầu với mức ô nhiễm không khí nghiêm trọng. Sau đó thì mới có các khuyến nghị của Tổ Chức Y Tế Thế Giới, được cập nhật cách đây 4 năm, bởi khi đó các kiến ​​thức khoa học đã được cải thiện và người ta nhận thức được rằng tác động đến sức khỏe con người bắt đầu từ mức ô nhiễm không khí thấp so với suy nghĩ trước đây. Thế nên, chúng ta cần tiếp tục cải thiện chất lượng không khí để một ngày nào đó đáp ứng được các khuyến nghị của Tổ Chức Y Tế Thế Giới. Việc duy trì đà tiến này thực sự quan trọng, ngay cả khi tạm thời ở cả Paris và khu vực phụ cận chúng ta vẫn chưa đạt đến mức các khuyến nghị của Tổ Chức Y Tế Thế Giới về tất cả các chất gây ô nhiễm không khí. RFI : Pierre Pernot, ông là kỹ sư của tổ chức quan trắc và giám sát chất lượng không khí tại vùng Île-de-France của Pháp. Nếu phải nêu lên vài biện pháp cần ưu tiên thực hiện để có thể nhanh chóng cải thiện chất lượng không khí Paris thì ông sẽ hướng đến những biện pháp nào ? Pierre Pernot : Chúng ta hãy trở lại với điều đã được nói tới ở trên. Hai nguồn ô nhiễm không khí chính ở Paris là giao thông đường bộ và hệ thống sư

  7. Jun 17

    Nghệ thuật - Liều thuốc “chữa lành” cảnh lưu đày của cựu hoàng Hàm Nghi

    Triển lãm mang tên Hàm Nghi và “Liều thuốc” “chữa” cảnh lưu đày, là một trong những điểm nhấn tại bảo tàng Cernuschi ở Paris, Pháp, mùa hè này, diễn ra từ ngày 19/05 đến ngày 06/09/2026. Từ bức chân dung tự họa đến những cảnh xế chiều hoàng hôn, vị vua của nước An Nam bị lưu đày đến Algérie và không bao giờ trở lại quê hương đã biến nghệ thuật thành nơi trú ẩn, nơi duy nhất mà ông cảm thấy “tự do”. RFI Tiếng Việt đã phỏng vấn bà Anne Fort, giám tuyển của bảo tàng nghệ thuật châu Á ở Paris, Cernuschi, để hiểu thêm về những tác phẩm của vị vua với tư tưởng chống Pháp dưới thời thuộc địa. Những tác phẩm của ông chỉ mới được phát hiện và công bố cách nay chưa đến chục năm, hơn 80 năm sau khi ông qua đời vì bệnh dạ dày tại Algérie. Qua các tác phẩm của Hàm Nghi, liệu người ta có thể thấy được, hiểu được tình cảnh lưu đày của ông hay không ?Tại sao lại nói nghệ thuật là liều thuốc của Hàm Nghi ? Anne Fort : Trong triển lãm này, chúng tôi cho rằng việc khai thác ý niệm về tự do của Hàm Nghi là một lối tiếp cận khá thú vị, và cả cách mà ông thực hành nghệ thuật dù ông không bị bắt buộc. Ông không phải vẽ tranh để bán, để kiếm tiền.Ông được hưởng một chế độ đãi ngộ, được chính quyền Pháp chu cấp tiền bạc đều đặn, có biệt thự, có sân vườn, có thể nói là một cuộc sống khá nhàn nhã và tiện nghi. Thế nhưng, về bản chất, ông vẫn là một tù nhân chính trị bị quản thúc tại nơi cư trú, với toàn bộ thư từ đều bị bóc mở kiểm tra cho đến tận cuối đời. Cũng chính vì vậy mà cảnh lưu đầy, nỗi cô đơn có thể cảm nhận được qua phần lớn các tác phẩm của ông. Trong tất cả những bức họa tại triển lãm này, không hề xuất hiện một bóng hình nhân ảnh nào. Các bức họa phong cảnh hoàn toàn trống trải. Nhưng dấu vết của con người không biến mất hoàn toàn và vẫn thấy thấp thoáng đâu đó bóng dáng của những ngôi nhà, những hàng cây được trồng ngay ngắn, hay bờ biển với ngọn hải đăng... Tuy nhiên, tuyệt nhiên không có một bóng người nào đang sinh hoạt hay lao động thường nhật ở đó. Đây thực sự là một đặc trưng mang trong hội họa của Hàm Nghi. Phải chăng, qua những bức họa này, ông đang tự phơi trải nỗi cô đơn sâu thẳm trong tâm hồn mình? Hàm Nghi hoàn toàn không mang tư duy của một nghệ sĩ phải cống hiến hay mang lại điều gì đó cho xã hội hay cho thế giới nghệ thuật. Với ông, việc vẽ tranh là toàn tự do, là chút tự do mà ông có. Tranh của Hàm Nghi có gì đặc sắc ? Anne Fort : Hàm Nghi học vẽ từ họa sĩ Marius Renoir, nhưng các tác phẩm của ông không có nhiều dấu ấn từ họa sĩ người Pháp, với phong cách lý tưởng hóa những cảnh non nước nơi thuộc địa, như một thông điệp chính trị. Trong khi đó các tác phẩm của Hàm Nghi lại đậm dấu ấn cá nhân, chỉ riêng ông biết.   Điều thực sự cuốn hút Hàm Nghi là việc nắm bắt một cảm xúc, một rung động tại một thời khắc nhất định. Chính vì lẽ đó, ông đã tiến rất gần đến tinh thần của trường phái Ấn tượng. Tuy nhiên, ông cũng không hoàn toàn thuộc về trường phái này, bởi các họa sĩ Ấn tượng thường vẽ về cuộc sống hiện đại, vẽ những thú vui ngày Chủ nhật, những quán rượu bên sông,…, nhưng Hàm Nghi không đi theo khuynh hướng đó. Ông chỉ quan tâm đến những lát cắt của thiên nhiên, những khoảng không gian như chìm vào tĩnh lặng, nơi người ta ngỡ như chỉ còn nghe thấy tiếng chim hót líu lo lúc cuối ngày khi ánh dương dần khuất. Đó thực sự là một thế giới nghệ thuật đầy khiêm nhường và mang tính riêng tư tuyệt đối. Đọc thêm: Vua Hàm Nghi và mối duyên với thành phố Vichy, Pháp Ông cũng dành sự quan tâm đặc biệt cho những cảnh hoàng hôn, thời khắc khi trời nhập nhoạng tối. Một ngày sắp kết thúc, nhưng cũng có nghĩa là ngày mai sắp đến. Đó là khoảnh khắc đầy nỗi hoài niệm u sầu. Và điều này khiến người xem thấy chạnh lòng khi nghĩ về thân phận của Hàm Nghi, một vị cựu hoàng, bị đưa khỏi xứ sở và ở đó cho đến cuối đời, dù được bao bọc trong nhung lụa, cuộc sống thượng lưu ở Algerie. Trong triển lãm này, có tác phẩm nào đáng chú ý ? Anne Fort :Theo tôi, đó là bức vẽ cảnh hoàng hôn tại căn biệt thự Mustapha ở Alger nhìn từ xa. Đó là nơi ông sống suốt cuộc đời lưu vong. Cảnh hoàng hôn thật ấn tượng. Ông chọn kỹ thuật vẽ phấn khô (pastel sec), sử dụng giấy có màu xám xanh nhạt, và kỹ thuật này cho phép ông vẽ rất nhanh vì khoảnh khắc trong ngày vô cùng thoáng qua. Do đó, ông có thể đạt được hiệu ứng tương tự như tranh sơn dầu, nhưng cực kỳ nhanh chóng, vì ông có thể chồng các lớp màu lên nhau mà không cần chờ lớp màu bên dưới khô. Chúng ta có thể cảm nhận được rằng ông đã lấy cảm hứng từ các họa sĩ Nabi, những người chịu ảnh hưởng từ Paul Gauguin (hậu ấn tượng). Điều làm nên sự khác biệt trong tác phẩm này là ông vẫn giữ phong cách cực kỳ đơn giản trong cách thể hiện, nhưng các mảng bóng râm được làm nổi bật bằng những nét vẽ màu xanh lam đậm, ngả sang sắc tím, vô cùng mãnh liệt. Ông tạo điểm nhấn vào cỏ để tạo ra một loại chuyển động, như một làn gió nhẹ làm lay động ngọn cỏ. Ông ấy cũng nhấn thêm những đường nét gián đoạn, tạo ra một loại rung động trong bóng tối và trên cỏ, khiến mắt người xem gần như lấp lánh, giống như khi mặt trời lặn và ta không còn phân biệt rõ ràng các đường nét của vạn vật nữa. Hàm Nghi có thể được xếp vào đâu trong bản đồ lịch sử nghệ thuật Việt Nam? Anne Fort : Để định vị Hàm Nghi trong bản đồ lịch sử nghệ thuật Việt Nam quả thực là bài toán khó. Các tác phẩm của ông chỉ được công chúng biết đến cách nay vài năm nhờ các nghiên cứu của hậu duệ đời thứ Năm của ông tiến sĩ lịch sử Amandine Dabat. Ông rời Việt Nam khi 18 tuổi và ở Việt Nam, người ta biết đến ông với tư cách là một vị hoàng đế yêu nước đã phất cờ khởi nghĩa chống thực dân Pháp. Nhưng công chúng không mấy ai tường tận về chương cuối cuộc đời ông, và càng ít người biết rằng ông từng vẽ tranh, từng tạc tượng. Chính vì thế, chỉ trong vài năm trở lại đây, các tác phẩm của ông được biết đến nhiều hơn, và hiện đang nhận được sự quan tâm và mến mộ rất lớn tại Việt Nam. Để trả lời cho câu hỏi nhằm định vị lại Hàm Nghi trong dòng chảy lịch sử mỹ thuật Việt Nam, thì đó là việc mà chúng tôi đang làm ngay vào lúc này. Liệu các tác phẩm nghệ thuật của ông có còn vang vọng cho đến ngày nay ? Anne Fort :Tôi tin rằng nghệ thuật của Hàm Nghi vẫn mang tính thời đại, bởi lẽ từng nét cọ đều thấm đẫm một tính cá nhân, phơi bày trọn vẹn những xúc cảm nội tại của người nghệ sĩ, khai thác đề tài vô cùng giản dị, nhưng đều có thể thể chạm đến trái tim của bất kỳ ai. Vì vậy, tôi nghĩ di sản mà ông để lại mang tính phổ quát rất cao. Bối cảnh ra đời của những bức họa này cũng lay động người xem, cho thấy sợi dây kết nối giữa hai đất nước Pháp và Việt Nam. Nó buộc chúng ta phải ngoảnh lại nhìn một giai đoạn lịch sử vô cùng đau thương, thời kỳ mà nước Pháp đã đóng một “vai phản diện” khi phế truất ông và dấn sâu vào cuộc xâm lược Việt Nam. Bởi vậy, tôi nghĩ đó là ký ức mà chúng ta có trách nhiệm phải khắc ghi. Và biết đâu, ngay cả khi đã khuất bóng, cựu hoàng Hàm Nghi vẫn đang tiếp tục cống hiến cho lý tưởng ấy, để nỗ lực vun đắp và thúc đẩy hòa bình giữa hai quốc gia.

  8. Jun 10

    Anh Quốc điều tra tình trạng cho vay nặng lãi đối với sinh viên

    Quy chế cho sinh viên vay tiền để đóng học phí và trang trải các khoản ăn ở trong ba năm đại học đang gặp khủng hoảng vì tiền nợ của hàng triệu cựu sinh viên nay lên tới con số nhiều tỷ bảng. Quốc hội Anh đã phải mở cuộc điều tra để xem các công ty tín dụng học phí (student loan companies) có thu lãi suất quá cao từ người tốt nghiệp đại học phải trả góp hay không. Thông tín viên Nguyễn Giang, hiện là nghiên cứu sinh ở ĐH City St George’s, University of London theo dõi chủ đề này đã lâu, trước hết, điểm sơ qua tình trạng cho vay tiền để trả học phí, rồi trả nợ dần sau khi có bằng cử nhân ở Anh hiện nay ra sao: TT.  Nguyễn Giang: Báo chí Anh vào tuần thứ nhì của tháng 3/2026 đã đồng loạt đưa tin về một số liệu được công bố nói rằng có tới 2,8 triệu cựu sinh viên tại Anh (đại học, thạc sĩ) đã nợ chừng £50.000 mỗi người, với một cá nhân nợ kỷ lục, 314.256 bảng Anh tương đương 421 nghìn USD. Trên cả nước, thống kê Quốc hội nêu ra cho thấy núi nợ tiền cho sinh viên vay, còn gọi là “student loan”, đã lên tới gần 300 tỷ bảng sau nhiều thập niên. Điều đáng nói, đây là các khoản chưa trả được. Số tiền lãi họ phải trả đã lên tới 15 tỷ bảng. Quốc hội Anh đang điều tra xem hệ thống cho sinh viên vay tiền như hiện nay, so với ý tưởng ban đầu, hơn 20 năm trước, có bị biến tướng đi hay không. Các báo nói, hồi tiền học chỉ có 1-3 nghìn bảng/năm thì tiền cho vay hay trợ cấp không đáng bao nhiêu, nhưng nay thì nó đã thành một loại tiền cho vay nặng lãi. Anh có thể nhắc đôi nét về quy chế cho vay để người trẻ ở Anh có thể học đại học được hình thành ra sao? Vì sao đến nay lại là vấn đề? Nói về nguồn gốc của hệ thống này thì từ thời Tony Blair làm thủ tướng Anh, đảng Lao động, với các khẩu hiệu cấp tiến, đề cao bình đẳng cơ hội, đã quyết định mở rộng quyền nhận tiền vay của chính phủ để sinh viên có thể trả học phí. Khi đó, sáng kiến này nhắm tới mục tiêu cao hơn là phổ cập đại học ở Anh. Cùng lúc, Anh quốc muốn thị trường hóa hệ thống đại học để tăng tính cạnh tranh. Đây là hai tiêu chí ban đầu tưởng là phù hợp, không đối chọi nhau, nhưng tới này thì mới rõ là có mâu thuẫn. Cụ thể hơn, trên thực tế, trước đó, từ năm 1990 công ty “Student Loan”đã được lập ra và được Chính phủ Anh bảo trợ, để cấp trợ cấp sinh hoạt cho sinh viên ở Anh. Chỉ những em nào không có tiền trợ cấp từ gia đình (vì thu nhập thấp) thì mới được nhận. Đến năm 1998 thì Luật Giáo dục Đại học cho phép các đại học thu phí 1000 bảng Anh/năm với mỗi sinh viên và bỏ các khoản trợ cấp (grant). Thay vào đó, sinh viên được quyền vay tiền trả góp, hệt như mua bất động sản, để trả học phí. Tới năm 2006, học phí ở Anh tăng lên 3.000 bảng/năm/một sinh viên. Và để điều chỉnh lại thì người ta bỏ quy chế tiền cho vay “như vay tín dụng địa ốc” (mortgage) mà chuyển thành một hệ thống phức tạp hơn, có chọn lọc. Tùy vào thu nhập của cha mẹ mà con cái họ là sinh viên sẽ được nhận tiền vay để chi vào: học phí, tiền ăn ở hoặc cả hai. Câu chuyện ở đây là giá sinh hoạt tăng nhanh ở Anh, nay lên tới chừng 6000 bảng/năm, và học phí cũng năm nay lên tới gần 10 nghìn bảng/năm. Vì thế, các khoản cho vay này cộng lại cho một năm học, với sinh viên nội địa Anh cũng khoảng 15-16 nghìn bảng, tương đương 20 nghìn USD. Ba năm học để lấy tấm bằng cử nhân là 60 nghìn USD. Sau khi tốt nghiệp, các em phải trả cả gốc lẫn lãi, mà lãi suất thì từ 6-9%/năm, cao hơn cả tiền vay mua nhà trả góp. Tạo ra các khoảng nợ lớn cho mỗi cá nhân. Với cả nước thì một thống kê của Quốc hội Anh năm 2025 cho thấy con số tổng nợ của nhiều thế hệ sinh viên ở Anh là 292 tỷ bảng, tương đương 389 tỷ USD, cao hơn GDP của một số nước. Tác động kinh tế-xã hội của các khoản ‘nợ học phí’ này ra sao với nước Anh? Đầu tiên, mức nợ này là gánh nặng cho nhà nước vì Chính phủ Anh là bên bảo đảm cho các khoản nợ đó. Sinh viên ra trường không có việc làm hoặc làm chưa đủ lương ở mức nhất định thì họ chưa phải trả nợ. Sau 30 năm mà vẫn không trả nợ được thì chính quyền sẽ xóa nợ cho họ. Vấn đề là khi đó, việc xóa nợ chính là làm thâm hụt ngân sách nhà nước chứ không đơn giản là muốn xóa thì xóa. Thứ hai, từ góc độ sinh viên mới ra trường thì thị trường việc làm ở Anh ngày càng khó khăn. Thống kê quý III/2025 cho thấy số thất nghiệp trong giới trẻ dưới 24 tuổi đang ở mức cao, 15,9%. Kể cả khi tiền học phí (tuition) không tăng nữa do bị ấn định bởi chính phủ ở mức gần 10 nghìn bảng cho sinh viên nội địa những năm qua), chi phí ăn ở (maintenance loan) tăng lên quá 6 nghìn/năm, tiền đi lại tàu xe cũng tăng. Nên dù chỉ vay các khoản đó cộng lại, các em sẽ vẫn mắc nợ lớn sau khi tốt nghiệp. Thế nhưng nếu bỏ quy chế cho vay tiền trả góp để học đại học thì hàng trăm nghìn công dân Anh trẻ tuổi sẽ không có cơ hội học đại học. Vì vấn đề mang tính cấu trúc của hệ thống giáo dục - học phí đại học ở Anh cao hơn nhiều so với ở các nước thuộc Liên minh châu Âu, nên ai vay thì sẽ mắc nợ lớn và gần như suốt đời. Đang có một thế hệ không thể mua nhà. Các số liệu tháng 3/2026 nói trước đây, tuổi ở Anh của người mua căn hộ, ngôi nhà đầu tiên (bằng tiền vay trả góp) là 29. Tức là sau khi có bằng cử nhân, đi làm 6-7 năm là có thể mua nhà. Còn nay, tuổi đó đẩy lên 34, tức là ai may mắn có việc làm thì 10-11 năm sau mới có thể tiết kiệm đủ khoản tiền thế chấp và có hợp đồng lao động tốt để mua nhà. Tiền nợ “student loan” đóng vai trò quan trọng trong việc trả vốn lẫn lãi hàng tháng, người trẻ có việc làm, có còn bao nhiêu để tiết kiệm rồi mua nhà hay không? Chính phủ Anh có biện pháp gì chưa ? Quốc hội vừa mở cuộc điều tra. Vào ngày 12/03/2026, Chủ tịch Ủy ban Ngân khố (Treasury Committee) của Hạ viện, bà Meg Hillier, cho biết: "Cuộc điều tra là để tìm hiểu xem các mục tiêu của quy chế cho vay này có công bằng (fairness) hay không, hay là nó đang bất công bằng cách nào đó đối với người đã tốt nghiệp đại học". Một trong những đối tượng của cuộc điều tra là tiền cho vay gọi là Plan 2 (Kế hoạch số 2), áp dụng vào giai đoạn 2012 và 2023, với số sinh viên, cựu sinh viên nay mắc nợ là 5,8 triệu người. Bộ trưởng Tài chính Rachel Reeves nêu ra một số điều chỉnh như đóng băng ngưỡng lương mà người học xong đại học có được khi đi làm ở mức thấp £29.385 bảng/năm từ năm 2027. Nhưng điều này cũng bị chỉ trích. Các vấn đề khác liên quan? Cũng nhân việc này, báo chí nói về nạn người nước ngoài như công dân Rumani định cư ở Anh sau Brexit bị cho là chiếm đa số trong số “vụ lừa đảo vay tiền ‘student loan’ rồi trốn, không học và cũng không ở lại Anh nữa”. Số liệu từ báo chí nói trong giai đoạn 2019/2020 có chừng 25 nghìn công dân Rumani vay tiền học đại học, thì điều này khá bình thường, tương đương chừng 19 nghìn công dân Ba Lan ở Anh vay tiền học. Vì họ là công dân EU có thẻ định cư ở Anh thì được tính như sinh viên nội địa. Nhưng giai đoạn 2023/24 đột nhiên có tới 78.325 người Rumani vay tiền học, và cuộc điều tra của báo Telegraph nói có khá nhiều trường hợp họ ghi danh vào một trường nào đó, nhận tiền nhà nước cho vay, rồi bỏ học hoặc về nước của họ sống. Đây là vấn đề mang tính hình sự, nhưng nó cũng nói lên một thực tế là việc cho vay quá dễ dãi, kiểm soát nhiều lỗ hổng. Vì sao người nước ngoài ở Anh vẫn có thể vay tiền để học đại học? Người Việt Nam có quyền đó không? Không phải tất cả các công dân ngoại quốc ở Anh có quyền đó, chỉ có công dân khối EU đã định cư ở Anh và phải sống ở Anh tối thiểu là 3 năm trước khi nộp đơn xin vay tiền học phí. Đây là ưu tiên cho công dân EU sau Hiệp định Brexit (2021). Những công dân EU khác không đạt được tiêu chuẩn này thì không được. Công dân các nước ngoài EU như Việt Nam thì lại càng không được, trừ khi họ có thẻ định cư ở Anh. Tôi xin nói tiếp về câu chuyện hi

About

Những vấn đề xã hội Việt Nam và trên thế giới qua lăng kính RFI

More From RFI Tiếng Việt

You Might Also Like