• Home
  • New
  • Top Charts
  • Search

Government

  • Tạp chí Việt Nam
    Tạp chí Việt Nam

    1

    Tạp chí Việt Nam

    RFI Tiếng Việt

  • British Council Language Assistants
    British Council Language Assistants

    2

    British Council Language Assistants

    British Council

  • Inside Briefing with the Institute for Government
    Inside Briefing with the Institute for Government

    3

    Inside Briefing with the Institute for Government

    Institute for Government

  • The Interview
    The Interview

    4

    The Interview

    BBC World Service

  • The Lawfare Podcast
    The Lawfare Podcast

    5

    The Lawfare Podcast

    The Lawfare Institute

  • Irregular Warfare Podcast
    Irregular Warfare Podcast

    6

    Irregular Warfare Podcast

    Irregular Warfare Initiative

  • Southeast Asia Radio
    Southeast Asia Radio

    7

    Southeast Asia Radio

    CSIS | Center for Strategic and International Studies

  • Chiến tranh Trung Đông khiến Việt Nam phải dựa nhiều hơn vào điện than

    2 days ago

    1

    Chiến tranh Trung Đông khiến Việt Nam phải dựa nhiều hơn vào điện than

    Cũng như nhiều nước khác, trước tình hình nguồn cung dầu hỏa bị gián đoạn do chiến tranh Mỹ-Iran, để bảo đảm an ninh năng lượng, Việt Nam buộc phải dựa vào điện than nhiều hơn cho dù làm như vậy sẽ càng khó mà thực hiện các cam kết về chống biến đổi khí hậu. Theo Cơ quan Thông tin Năng lượng Mỹ (EIA), hơn 80% lượng dầu thô và khí tự nhiên hóa lỏng (LNG) đi qua eo biển Hormuz là được xuất khẩu sang châu Á. Việc tuyến hàng hải này bị phong tỏa đẩy khu vực vào tình thế vô cùng khó khăn. Đặc biệt, do nguồn cung khan hiếm, giá khí LNG đã tăng vọt ở thị trường châu Á, trong khi giá than tăng ít hơn nhiều, cho nên nhiều nước trong khu vực quay trở lại với điện than.  Trả lời RFI Việt ngữ ngày 12/05/2026, giáo sư Phạm Duy Hiển, nguyên Viện trưởng Viện nghiên cứu hạt nhân Đà Lạt, cũng ghi nhận đây là tình hình chung của các nước châu Á: “Không chỉ riêng Việt Nam mà hầu hết nhiều nước ở châu Á và các nước lớn như Trung Quốc, Ấn Độ ... đều bị tác động. Trung Quốc là một nước có rất nhiều than, cho nên có lợi thế. Bây giờ họ quay sang sử dụng than nhiều hơn trong một thời gian, tuy cũng biết làm như thế là ảnh hưởng đến lời hứa của Trung Quốc về cắt giảm khí thải gây hiệu ứng nhà kính. Các chuyên gia, các công ty về quản lý năng lượng lớn thế giới đều dự báo Trung Quốc trong 5 năm tới vẫn phải dựa vào việc mở rộng các nhà máy điện chạy than, chứ không có cách nào khác cả. Ấn Độ cũng vậy. Còn những nước như Hàn Quốc và Nhật Bản trước tình hình hiện nay đều phải cho phép nâng lên tỷ lệ điện than.”  Theo nhận định của Discovery Alert, trang thông tin chuyên về khai thác mỏ trên thế giới, trong bài viết đăng ngày 13/04/2026, “không giống như các quốc gia phát triển có các nguồn năng lượng đa dạng và dự trữ chiến lược dồi dào, các nền kinh tế nhỏ hơn như Việt Nam thường phụ thuộc nhiều vào nhiên liệu nhập khẩu và thiếu tính linh hoạt về cơ sở hạ tầng để nhanh chóng chuyển đổi giữa các nguồn năng lượng trong trường hợp khẩn cấp về nguồn cung. Hơn nữa, các quốc gia này còn đối mặt với tác động của thị trường khí hóa lỏng (LNG) và sự biến động giá dầu, làm trầm trọng thêm tính dễ bị tổn thương của kinh tế.”  Discovery Alert ghi nhận việc Việt Nam dựa vào điện than khi chiến tranh Mỹ-Iran leo thang đã trở nên rõ nét trong tháng 3/2026, khi sản lượng điện than tăng vọt, chiếm 56% tổng sản lượng điện, mức cao nhất kể từ giữa năm 2025. Giáo sư Phạm Duy Hiển cho rằng trong thời gian tới, Việt Nam sẽ phải tiếp tục dựa nhiều vào điện than, vì các nguồn điện năng khác không đủ để đáp ứng nhu cầu: “Việt Nam hiện nay đã sống với điện than. Điện than bình thường chiếm tỷ lệ gần 50% công suất phát điện, cho nên Việt Nam cũng bị ảnh hưởng. Mà về điện than, Việt Nam phải đi mua thêm than của các nước như Indonesia và Trung Quốc, cụ thể là tháng 3 vừa rồi đã nhập đến mấy triệu tấn than. Dự kiến con số đó có thể sẽ phải tăng lên. Kinh phí để nhập khẩu than cũng lớn, nhưng bây giờ dầu sao thì vẫn hơn là không có. Cho nên tạm thời trong một thời gian phải sử dụng điện than và theo tôi nghĩ Việt Nam cũng chưa có cách nào khác. Còn nếu dựa vào những nguồn năng lượng khác, thì bây giờ nguồn năng lượng tái tạo cũng đã được khai thác khá nhiều rồi và cũng có tác dụng nhất định. Nhưng nguồn năng lượng này cũng hạn chế, không thể nâng lên nhiều hơn nữa.  Gần đây nhiều người nói về điện hạt nhân. Nếu có được thì điện hạt nhân sẽ là một giải pháp tương đối lớn để giải quyết vấn đề thiếu điện thay cho than. Đó là một loại năng lượng sạch. Thế nhưng chưa biết là bao giờ mới có thể đặt bút ký với một đối tác bên ngoài để cung cấp nhà máy điện hạt nhân cho mình. Từ thời điểm đó thì sau hàng chục năm nữa may ra mới có điện. Kinh nghiệm của Bangladesh cho thấy nước này bắt đầu có kinh phí để xây dựng và có các hợp đồng liên chính phủ là vào năm 2017. Nhưng tới cuối năm 2026 thì may ra mới có thể đưa điện lên lưới được. Gần đây thế giới cũng hô hào đẩy mạnh điện hạt nhân, nhưng điện hạt nhân đâu có dễ làm đối với Việt Nam cũng như đối với những nước khác . Đó không phải là một công nghệ có sẵn như than. Nhà máy điện chạy than thì quá là cổ điển rồi, mua về là có thể lắp đặt và cho chạy được ngay. Còn điện hạt nhân thì cần bao nhiêu thứ: cơ sở hạ tầng, năng lượng, nhiên liệu, an toàn….  Bây giờ có một hy vọng là khí thiên nhiên từ các mỏ khí mới được phát hiện được, sẽ giúp giải quyết vấn đề cân bằng năng lượng ở Việt Nam." Thế nhưng vấn đề là hiện nay công suất điện khí còn khiêm tốn của Việt Nam càng làm hạn chế các giải pháp thay thế trong thời kỳ khủng hoảng. Các nhà máy điện khí chỉ sản xuất được 2,1 TWh trong tháng 3 năm 2026, chiếm khoảng 7% tổng sản lượng điện. Hạn chế về cơ sở hạ tầng này có nghĩa là khí đốt tự nhiên không thể đóng vai trò cơ chế thay thế tức thời khi giá năng lượng nhập khẩu tăng vọt, hoặc khi nguồn cung bị gián đoạn.  Việt Nam cũng đang phải sản xuất than nhiều hơn để đáp ứng cho các nhà máy nhiệt điện. Theo báo chí trong nước, ngày 15/04, bộ Nông Nghiệp và Môi Trường đã đề nghị chính phủ cho phép tăng công suất khai thác than, cụ thể là cho phép khai thác vượt không quá 15% công suất đối với các giấy phép khai thác than đang còn hiệu lực, nhằm đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia. Theo bộ này, “than trong nước tiếp tục giữ vai trò là nguồn năng lượng nền tảng và năng lực khai thác thực tế của các mỏ còn dư địa để tăng sản lượng”.  Nhà máy Nhiệt điện Vũng Áng II ở tỉnh Hà Tĩnh cũng vừa được khánh thành ngày 18/04. Đây là dự án hợp tác giữa Nhật Bản và Hàn Quốc, trong đó 60% cổ phần thuộc về các công ty Nhật Bản đứng đầu là tập đoàn Mitsubishi và 40% cổ phần thuộc về Tập đoàn Điện lực Hàn Quốc. Với tổng công suất hơn 1.300MW, Nhà máy Nhiệt điện Vũng Áng II được giới thiệu là sử dụng “công nghệ hiện đại nhất đối với các nhà máy nhiệt điện than tại Việt Nam”, làm giảm lượng tiêu hao nhiên liệu dẫn đến cắt giảm phát thải. Vấn đề đặt ra là phải làm sao hạn chế tác động của các nhà máy điện than đối với môi trường và khí hậu, bởi vì Việt Nam còn phải thực hiện những cam kết với quốc tế về chống biến đổi khí hậu. Giáo sư Phạm Duy Hiển ghi nhận: “Các nhà máy điện chạy than bây giờ cũng sử dụng những công nghệ tương đối là tiên tiến, tránh ô nhiễm môi trường. Ô nhiễm môi trường nay cũng đỡ một phần là bởi vì ngày xưa các nhà máy phát ra bừa bãi từ ống khói chứ bây giờ thì có những quy chế nhất định. Các khí thải từ nhà máy điện than thì cũng đã bắt đầu được xử lý để không gây ô nhiễm môi trường. Rồi còn phải xử lý những xỉ than. Lâu lâu thì vẫn thấy nói có ô nhiễm chỗ này chỗ khác, nhưng tôi chắc là dần dần rồi cũng phải giải quyết. Ô nhiễm ở chỗ nào thì người dân ở đó sẽ phản ảnh, các cơ quan có trách nhiệm phải giải quyết. Thực ra mà nói thì dùng điện than không chỉ làm tăng lượng khí CO2, mà còn có rất nhiều khí độc khác từ nhà máy điện than thải ra. Trung Quốc đã thành công trong vấn đề này, cho nên bắt đầu từ 2006, tức là cách đây đến 20 chục năm, họ đã có quyết định của nhà nước là bắt buộc giảm phát thải các cái khí độc từ các nhà máy điện chạy than. Và họ đã thành công nhiều, tức là giảm ô nhiễm khá nhiều. Thế thì bây giờ nếu sản lượng điện than nhiều quá, thì có lẽ cũng phải đề nghị nhà nước có một cách kiểm tra toàn diện, làm thế nào để các khí phát thải ô nhiễm, không chỉ CO2 và các khí ô nhiễm khác đều thấp, phù hợp với các tiêu chuẩn về môi trường ở Việt Nam."  Cũng theo chiều hướng đó, Việt Nam dự kiến sẽ đóng cửa các nhà máy điện than cũ trên 40 năm tuổi, nếu các nhà máy này không thể chuyển đổi sang sử dụng nhiên liệu sạch như hydrogen, amoniac xanh. Cụ thể, ngày 23/03, chính p

    2 days ago

    •
    9 min
  • Lawfare Daily: Inside the Upheaval of the Second Trump Administration with Emily Bazelon

    2 Jun

    2

    Lawfare Daily: Inside the Upheaval of the Second Trump Administration with Emily Bazelon

    On today’s episode, Lawfare Managing Editor Tyler McBrien sits down with Emily Bazelon, a staff writer at the New York Times Magazine, the Truman Capote Fellow for Creative Writing and Law at Yale Law School, and the co-host of Slate’s weekly podcast, “Political Gabfest.” They discuss three stories Bazelon and her colleagues recently published in the New York Times Magazine. For this trilogy of oral histories, they spoke with dozens of current and former government employees at the Department of Justice (“The Unraveling of the Justice Department”), FBI (“A Year Inside Kash Patel’s F.B.I.”), and Department of Homeland Security (“The View From Inside Trump’s D.H.S.”) about their experiences navigating the upheaval of the second Trump administration from the inside. To receive ad-free podcasts, become a Lawfare Material Supporter at www.patreon.com/lawfare. You can also support Lawfare by making a one-time donation at https://givebutter.com/lawfare-institute. Support this show http://supporter.acast.com/lawfare. Hosted on Acast. See acast.com/privacy for more information.

    2 Jun

    •
    41 min
  • Việt Nam : Mắt xích quan trọng trong chiến lược thay đổi quốc phòng của Nhật Bản

    15 Jun

    3

    Việt Nam : Mắt xích quan trọng trong chiến lược thay đổi quốc phòng của Nhật Bản

    Tháng 04/2026, Nhật Bản “sửa đổi ba nguyên tắc về chuyển giao các thiết bị và công nghệ quốc phòng” để xây dựng chiến lược quốc phòng mới, trong đó có mục đích mở rộng hoạt động xuất khẩu sang cả các loại vũ khí sát thương. Một cơ chế mới cũng đã được thành lập - Chương trình Hỗ trợ an ninh chính thức (OSA) - nhằm mục đích thúc đẩy hợp tác kỹ thuật và trang thiết bị quốc phòng. Và Việt Nam được Nhật Bản xác định là ứng cử viên ưu tiên trong chương trình OSA. Những thay đổi mới trong chính sách quốc phòng của Nhật Bản có tạo thêm những cơ hội mới cho hợp tác với Hà Nội trong lĩnh vực này không ? RFI Tiếng Việt phỏng vấn nghiên cứu sinh Nguyễn Thế Phương, chuyên về lĩnh vực an ninh hàng hải, Đại học New South Wales, Úc. RFI : Trả lời báo tài chính Nikkei Asia ngày 23/04/2026, ông Minoru Kihara, chánh văn phòng thủ tướng Nhật Bản, cho biết Tokyo đã cho phép “sửa đổi ba nguyên tắc về chuyển giao các thiết bị và công nghệ quốc phòng”. Nội dung chính sách mới của Nhật Bản là gì? Tại sao Tokyo lại thay đổi chính sách vào thời điểm này ? Nguyễn Thế Phương : Sau Chiến tranh Thế giới thứ hai, toàn bộ tư duy chiến lược của Nhật là tập trung vô phát triển kinh tế nội địa và tư duy chiến lược của Nhật là chủ hòa. Việc Nhật Bản thay đổi “ba nguyên tắc về chuyển giao các thiết bị quốc phòng” nằm trong sự thay đổi căn bản trong tư duy quốc phòng, văn hóa chiến lược của họ kể từ khoảng đầu thế kỷ thứ XXI với sự trỗi dậy của Trung Quốc, môi trường an ninh khu vực diễn biến ngày càng phức tạp : Sự gia tăng sức mạnh của các hoạt động đơn phương mà nhiều học giả nói là “cố tình thay đổi trạng thái trật tự” của Trung Quốc, đặc biệt là những vấn đề tranh chấp trên biển. Đối với Nhật Bản, một trong những mối nguy nữa, đó là mối đe dọa từ Bắc Triều Bắc. Cũng nói thêm một chút, nước Mỹ dưới thời Donald Trump mong muốn đồng minh, đặc biệt là những đồng minh hiệp ước của họ, có những chính sách và có tiếng nói mạnh mẽ hơn trong việc tự lực xây dựng năng lực quốc phòng, chứ không còn hoàn toàn dựa vào Mỹ với tư cách là một quốc gia bảo trợ an ninh nữa. Điểm thứ ba là điểm mà nhiều người bỏ qua, đó là Nhật Bản cần một cách tiếp cận mới hơn để làm mới ngành công nghệ quốc phòng trong nước. Bởi vì từ trước tới nay, Nhật Bản cấm xuất khẩu trang thiết bị quốc phòng và vũ khí ra nước ngoài. Toàn bộ hạn chế về mặt xuất khẩu này khiến cho ngành công nghiệp Nhật, đặc biệt là công nghiệp quốc phòng, bị hạn chế tính cạnh tranh, đặc biệt trong bối cảnh hiện nay, với những cuộc xung đột khắp nơi trên thế giới thì thị trường vũ khí bắt đầu mang lại lợi nhuận rất lớn. Và Nhật Bản dường như cũng muốn bắt đầu thay đổi cách tiếp cận và tham gia vào thị trường công nghiệp quốc phòng chủ động hơn. Đọc thêmViệt Nam, Nhật Bản "mạnh mẽ" chống lại việc làm thay đổi nguyên trạng các vùng biển trong khu vực Và cuối cùng là yếu tố nội bộ, đó là sự thay đổi về mặt tư duy của liên minh cầm quyền Nhật Bản, bắt đầu từ thời Shinzo Abe. Cách đây khoảng 10-15 năm, đảng Dân Chủ Tự Do đề xuất Chiến lược Ấn Độ-Thái Bình Dương. Việc này cho thấy rằng đảng Dân Chủ Tự Do mong muốn đưa nước Nhật ra khỏi tư duy chủ hòa và tham gia nhiều hơn về việc tái định hình cấu trúc an ninh khu vực. Đây là bốn điểm tạm gọi là “bốn nền tảng” để giải thích tại sao Nhật Bản bắt đầu phải thay đổi nguyên tắc về chuyển giao thiết bị công nghệ quốc phòng. Với việc thay đổi nguyên tắc mới, họ sẽ bắt đầu không giới hạn thiết bị chuyển giao, mà sẽ mở rộng tới những loại trang thiết bị có thể là sát thương, ví dụ vũ khí tấn công, xe tăng, máy bay và những trang bị khác. Điểm thứ hai, Nhật Bản cho phép hợp tác phát triển các loại vũ khí song phương, một ví dụ ở đây là phát triển máy bay chiến đấu thế hệ thứ năm giữa Nhật, Anh và Ý. Điểm này sẽ cho phép Nhật chủ động hơn, thích ứng linh hoạt hơn trong chính sách phát triển công nghiệp quốc phòng. RFI : Việt Nam thiết lập quan hệ đối tác chiến lược toàn diện với Nhật Bản. Việt Nam là quốc gia thứ 11 ký một thỏa thuận chuyển giao thiết bị, công nghệ quốc phòng với Nhật Bản. Cho đến nay, Tokyo hỗ trợ Hà Nội như thế nào trong khuôn khổ này ? Nguyễn Thế Phương : Trước đây, việc hỗ trợ về mặt chuyển giao thiết bị hoặc công nghệ quốc phòng song phương, chủ yếu Việt Nam sẽ là bên nhận. Những hỗ trợ này chủ yếu xoay quanh việc nâng cao năng lực nhận thức hàng hải, an ninh biển và chủ yếu liên quan đến những loại trang thiết bị vũ khí phi sát thương. Điểm nổi bật thứ nhất là việc chuyển giao tàu tuần tra và phương tiện giúp Việt Nam có thể cải thiện năng lực tuần tra hàng hải, tiêu biểu là việc Việt Nam nhận một số loại tàu cảnh sát biển loại biên của Nhật Bản. Những tàu này thực ra vẫn rất tốt và vẫn phục vụ rất hiệu quả trong quá trình Việt Nam bảo vệ lợi ích trên biển ở thời điểm hiện tại. Đây là khoản hỗ trợ lớn nhất. Đọc thêmViệt Nam, Nhật Bản đạt thỏa thuận về chuyển giao công nghệ quốc phòng Thứ hai là thiết bị giám sát công nghệ hàng hải, ví dụ radar, các thiết bị lặn, công nghệ viễn thám, thông tin liên lạc phục vụ cho quá trình tìm kiếm, cứu nạn, giám sát thực địa trên biển. Và thứ ba là đào tạo, nâng cao năng lực chuyên môn cho các lực lượng của Việt Nam, đặc biệt là lực lượng cảnh sát biển và kiểm ngư. Đây là điểm mà hai bên thường xuyên tiến hành : Trao đổi đoàn, trao đổi tàu, lực lượng Việt Nam qua Nhật Bản để tập huấn. Ở đây tập trung vào một số vấn đề phi tác chiến, ví dụ quân y, phá bom mìn, khắc phục hậu quả chiến tranh, an ninh mạng. Đối với quân đội còn có gìn giữ hòa bình. Đó là ba mảng mà Việt Nam nhận được hỗ trợ có thể nói là rõ ràng nhất từ Nhật Bản thông qua chương trình chuyển giao thiết bị và công nghệ quốc phòng. RFI : Việt Nam được Nhật Bản xác định là ứng cử viên ưu tiên cho Chương trình Hỗ trợ an ninh chính thức (OSA). Anh có thể giải thích OSA là gì ? Theo một quan chức chính phủ Nhật Bản, “quá trình này đôi khi có thể mất thời gian”. Những nước được chọn để hợp tác an ninh thông qua OSA có vai trò như thế nào trong chiến lược của Nhật Bản ? Nguyễn Thế Phương : OSA (Official Security Assistance) là hỗ trợ an ninh chính thức. Đây là một trong những chương trình rất mới, là một công cụ đối ngoại rất mới của Nhật, được thông qua trong chiến lược an ninh quốc gia cuối năm 2022. ODA, là một khái niệm mà chúng ta rất quen thuộc, chỉ giới hạn nghiêm ngặt (ở đây từ “nghiêm ngặt” là từ quan trọng) cho phát triển kinh tế-xã hội. Cho nên nếu như Nhật Bản muốn hỗ trợ về mặt an ninh quốc phòng cho các quốc gia khác thì họ phải tạo ra một cơ chế hoàn toàn mới, chứ không phải là ODA. Thì OSA chính là kết quả. Nói một cách đơn giản OSA chính là ODA nhưng chỉ được dùng cho lĩnh vực an ninh và quân sự. Quá trình này rất mất thời gian bởi vì Nhật Bản sẽ phải thiết lập quy trình khảo sát nhu cầu của bên nhận, đối chiếu nhu cầu đó với pháp luật nội bộ của Nhật, mà chúng ta biết là pháp luật của Nhật về mặt này rất khắt khe. Và nó yêu cầu cả bên cho - ở đây là Nhật - và cả bên nhận - là các quốc gia khác - phải thảo luận rất lâu và rất kỹ để có thể đưa ra được một danh sách tiếp nhận các loại hỗ trợ cho phù hợp. Đọc thêmNhật Bản và Việt Nam tăng cường hợp tác an ninh, ủng hộ thương mại tự do Danh sách các quốc gia được hỗ trợ và có tiềm năng nhận được hỗ trợ OSA từ Nhật Bản vào thời điểm hiện tại chỉ tầm 12 nước, chủ yếu là các nước ở Ấn Độ Dương, Thái Bình Dương, trong đó có 5 nước Đông Nam Á (Philippines, Indonesia, Malaysia, Việt Nam và Thái Lan). Nam Á có hai nước là Bangladesh với Sri Lanka. Ngoài ra còn một số quốc đảo Thái Bình Dương, ví dụ Papua New Guinea, Tonga. Có thể thấy rõ là có Đông Nam Á, khu vực cốt lõi tr

    15 Jun

    •
    10 min
  • Patricia Cornwell, novelist: Imagination saved me

    20 hr ago

    4

    Patricia Cornwell, novelist: Imagination saved me

    Jamie Coomarasamy speaks to Patricia Cornwell, one of the world’s best-selling crime writers, whose books have sold more than 120 million copies worldwide. She reflects on a childhood marked by trauma, instability and family mental illness, and the lasting impact those experiences have had on her life. Her imagination became a refuge during difficult years, shaping the stories and characters she would later create. The Interview brings you conversations with people shaping our world, from all over the world. The best interviews coming from the BBC, including episodes with Google CEO Sundar Pichai and and author Sir Salman Rushdie. You can listen on the BBC World Service on Mondays, Wednesdays and Fridays at 0800 GMT. Or you can listen to The Interview as a podcast, out three times a week on BBC Sounds or wherever you get your podcasts. Presenter: Jamie Coomarasamy Producer: Osman Iqbal and Nigel Doran Editor: Damon Rose Get in touch with us on email TheInterview@bbc.co.uk and use the hashtag #TheInterviewBBC on social media. (Image: Patricia Cornwell. Credit: Getty Images)

    20 hr ago

    •
    23 min
  • Iran, Ukraine, and the Future of Naval Warfare

    2 Jun

    5

    Iran, Ukraine, and the Future of Naval Warfare

    Description Episode 156 examines what the U.S.-Iran War and Russia-Ukraine War reveal about how weaker states and irregular actors contest navies, maritime commerce, and global energy flows. Summary This conversation examines naval irregular warfare in an era of drones, shadow fleets, contested chokepoints, and attacks on commercial shipping. The guests explore why the maritime domain is attractive to weaker states and irregular actors, comparing Iran’s approach in the Strait of Hormuz, Ukraine’s campaign in the Black Sea, and Houthi attacks in the Red Sea. They also discuss ghost fleets, sanctions enforcement, and the risks of mixing warfighting, law enforcement, and freedom of navigation. Throughout, they emphasize that technology matters most when paired with ingenuity, strategy, and a clear end state. Takeaways Naval irregular warfare is not new; mines, small boats, commerce raiding, deception, and coastal attacks have long been part of maritime competition. Unmanned systems, cheap sensors, long-range fires, spoofing, and commercial data add new layers to older maritime threats. The maritime domain is attractive to irregular actors because trade, energy, food, communications, ports, and undersea infrastructure are difficult to defend and easy to disrupt. Commercial shipping can be as strategically important as naval forces because disrupting trade can create economic and political effects far beyond the immediate battlefield. Chokepoints such as the Strait of Hormuz, the Red Sea, and the Suez Canal allow relatively small actions to generate disproportionate global consequences. Ukraine’s Black Sea campaign shows that a state without a conventional surface fleet can still contest the sea by integrating drones, missiles, intelligence, targeting, and adaptation. Iran’s maritime strategy relies on asymmetric tools such as small boats, mines, drones, dark shipping, proxy-enabled experimentation, and the threat of disruption in confined waters. Ghost fleets, spoofed vessel tracking, reflagging, sanctions evasion, and maritime interdiction create hard legal and operational problems for the United States and its allies. Boarding suspect vessels is not enough; policymakers need a clear legal basis, a clear “then what,” and a strategy that does not undermine freedom of navigation. U.S. and allied navies need to focus on threat tactics as much as threat technologies, especially the combined use of drones, missiles, mines, small boats, and commercial vessels. Platform flexibility, modularity, amphibious capacity, and agile force design may matter as much as any single new technology or class of unmanned system. Tactical success does not equal strategic success. Shooting down drones or destroying vessels matters only if it helps keep seas open and achieves the larger political objective. Dr. Ben Connable is the Executive Director of the Battle Research Group, an Adjunct Professor of Security Studies at Georgetown University, and an on-call principal research scientist at the Center for Naval Analyses. A retired Marine Corps intelligence and Middle East foreign area officer, he previously served as a senior political scientist at the RAND Corporation and is the author of Ground Combat: Puncturing the Myths of Modern War. Dr. Ian M. Ralby is president of Auxilium Worldwide and founder and CEO of I.R. Consilium. He is a leading expert on maritime law, maritime security, ocean governance, maritime domain awareness, hybrid aggression, lawfare, and the protection of critical maritime infrastructure. His work supports governments and international organizations confronting piracy, trafficking, smuggling, sanctions evasion, and other maritime security challenges. Kyle Atwell and Alisa Laufer are the hosts for episode 156. Please reach out to them with any questions about the episode or IWI.  The Irregular Warfare Podcast is a production of the Irregular Warfare Initiative (IWI). We are a team of volunteers dedicated to bridging the gap between scholars and practitioners to support the community of irregular warfare professionals. IWI generates written and audio content, coordinates events for the IW community, and hosts critical thinkers in the field of irregular warfare as IWI fellows. You can follow and engage with us on Facebook, Twitter, Instagram, YouTube, or LinkedIn. Subscribe to our monthly newsletter for (always free!) access to our written content, upcoming community events, and other resources. All views expressed in this episode are the personal views of the participants and do not represent those of any government agency or of the Empirical Studies of Conflict Project.  Intro music: “Unsilenced” by Ketsa Outro music: “Launch” by Ketsa Photo: AI-generated photo illustration created for the Irregular Warfare Podcast. The image is illustrative and does not depict an actual event, vessel, or operation.

    2 Jun

    •
    48 min
  • Việt Nam : Các đại dự án giúp bảo tồn mục tiêu tăng trưởng 10%?

    1 Jun

    6

    Việt Nam : Các đại dự án giúp bảo tồn mục tiêu tăng trưởng 10%?

    “Những nhà lãnh đạo ảnh hưởng nhất trong lịch sử hiện đại Việt Nam đều được nhớ đến vì đã dẫn dắt những chuyển đổi mang tính cấu trúc” (1). Chỉ riêng năm 2025, Việt Nam triển khai hơn 550 dự án cơ sở hạ tầng trị giá khoảng 200 tỉ đô la. Hàng trăm dự án khác (điện hạt nhân, đường sắt cao tốc…) chuẩn bị được thực hiện. Mục tiêu cuối cùng là đạt tăng trưởng GDP ít nhất 10% trong nhiệm kỳ 2026-2030 và đưa Việt Nam thành nước có thu nhập trung bình cao. Theo báo Vietnamnet ngày 15/04/2026, “thay vì dàn trải, nhiệm kỳ mới đang hướng tới ít dự án hơn nhưng mỗi dự án phải đủ lớn để kéo tăng trưởng, tạo việc làm và mở rộng không gian phát triển”. Liệu các đại dự án có đủ để kéo tăng trưởng lên không ? Làm thế nào để tăng trưởng đó được bền vững ? Những biến động địa-chính trị thế giới, đặc biệt là khủng hoảng dầu lửa ở Trung Đông, tác động như thế nào đến mục tiêu tăng trưởng của Việt Nam ? RFI Tiếng Việt phỏng vấn ông Éric Mottet, chuyên gia địa-chính trị Đông Nam Á và khu vực Ấn Độ-Thái Bình Dương, giám đốc nghiên cứu tại Trung Tâm Nghiên cứu về Ấn Độ - Thái Bình Dương (CREIP), Đại học Laval, Québec, Canada. RFI : Trước tiên, xin ông giải thích những yếu tố nào góp phần vào sự tăng trưởng của một quốc gia ? Éric Mottet : Theo ước tính có khoảng bảy yếu tố then chốt tác động đến tăng trưởng kinh tế, có thể hoạt động đồng thời hoặc riêng lẻ. Trước hết là lao động, bao gồm quy mô dân số trong độ tuổi lao động, tỷ lệ việc làm, trình độ học vấn, kỹ năng và chất lượng đào tạo của người lao động. Một lực lượng lao động năng động, được đào tạo tốt sẽ tạo ra của cải hiệu quả hơn. Tiếp theo là vốn vật chất và vốn con người, tức là chất lượng máy móc được sử dụng, cơ sở hạ tầng, công nghệ, kỹ năng và bí quyết. Một quốc gia càng đầu tư nhiều vào nhà máy, đường xá và máy móc, thì càng giúp tăng năng suất và sản lượng quốc gia. Yếu tố thứ ba là tiến bộ công nghệ. Quốc gia đó có đầu tư vào đổi mới, công nghệ mới, nghiên cứu và phát triển không ? Bởi vì đây là một động lực rất cần thiết cho tăng trưởng, ít nhất là trong dài hạn. Ví dụ trí tuệ nhân tạo (AI), hiện tại đã rất quan trọng và sẽ còn quan trọng hơn nữa trong tương lai. Đọc thêmDự án nhà máy hạt nhân: Nhật Bản rút đi, Việt Nam sẽ khó đạt mục tiêu về điện nguyên tử Tiếp theo, cần phải nói đến thể chế và khuôn khổ chính trị, tức là sự ổn định chính trị, tôn trọng pháp luật và quyền sở hữu nói riêng, cũng như hiệu quả quản lý nhà nước. Nói cách khác, một môi trường ổn định khuyến khích đầu tư, nhất là đầu tư nước ngoài, và tạo dựng niềm tin là điều vô cùng cần thiết để tạo ra của cải và phát triển kinh tế. Sự mở cửa kinh tế nằm trong số những tiêu chí khác cũng rất quan trọng. Thương mại quốc tế giúp tiếp cận thị trường mới, công nghệ mới và tài nguyên thiên nhiên như dầu khí, khoáng sản, đất nông nghiệp, từ đó tăng trưởng kinh tế. Tất cả những yếu tố này có thể thúc đẩy tăng trưởng, nhưng không phải là thiết yếu. Ví dụ, ở châu Á, Nhật Bản và Hàn Quốc phát triển mạnh dù nguồn tài nguyên hạn chế. Cuối cùng là nhu cầu nội địa. Mức tiêu dùng hộ gia đình, đầu tư kinh doanh, chi tiêu công của chính phủ Việt Nam như thế nào ? Nhu cầu mạnh mẽ sẽ kích thích sản xuất và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của một quốc gia. RFI : Các dự án lớn đóng vai trò như thế nào trong tăng trưởng của một quốc gia ? Chúng có góp phần duy trì tốc độ tăng trưởng không ? Éric Mottet : Có, các dự án lớn - tức là các dự án cơ sở hạ tầng, công nghiệp, năng lượng và công nghệ - đóng vai trò quan trọng trong sự tăng trưởng kinh tế của một quốc gia. Việc này diễn ra ở nhiều cấp độ. Thứ nhất, các công trình hạ tầng kích thích nền kinh tế ngắn hạn bằng cách tạo ra việc làm, tăng nhu cầu đối với vật liệu, dịch vụ và thiết bị xây dựng. Chẳng hạn, việc xây dựng đập hoặc đường cao tốc sẽ tạo ra doanh thu và hoạt động kinh tế ngay lập tức. Sau đó, năng suất được cải thiện trong dài hạn, ví dụ các cơ sở hạ tầng giao thông giúp giảm chi phí vận chuyển và thời gian di chuyển, tạo thuận lợi cho nền kinh tế phát triển. Điều này đặc biệt quan trọng ở một quốc gia như Việt Nam, vì giúp di chuyển hàng hóa và con người thuận lợi hơn, nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp và tăng khả năng cạnh tranh cả trong nước cũng như với các công ty nước ngoài. Cơ sở hạ tầng tốt cũng thu hút đầu tư nước ngoài, ví dụ việc xây dựng cảng mới, khu công nghiệp hay đặc khu kinh tế sẽ thu hút các công ty nước ngoài còn do dự. Hơn nữa, cơ sở hạ tầng chất lượng cao còn thúc đẩy tiến bộ công nghệ ; các dự án năng lượng tái tạo và thành phố thông minh kích thích đổi mới sáng tạo trên toàn quốc. Đọc thêmViệt Nam muốn thành “cứ điểm” sản xuất thế giới nhưng thiếu cơ sở hạ tầng Một yếu tố quan trọng khác là giảm bất bình đẳng lãnh thổ. Việc xây dựng cơ sở hạ tầng chất lượng trên toàn quốc có thể giúp kết nối các vùng xa xôi, nâng cao khả năng tiếp cận dịch vụ giáo dục, y tế và việc làm. Một tuyến đường bộ hay đường sắt có thể thay đổi đáng kể một khu vực nông thôn hoặc vùng sâu, vùng xa. Tuy nhiên, các dự án cơ sở hạ tầng quy mô lớn cũng có những hạn chế. Nhìn chung chúng có chi phí rất cao, có thể dẫn đến rủi ro nợ nần đáng kể cho một nước và cũng có thể gây ra nhiều vấn đề nếu bị quản lý kém hoặc có tham nhũng. Các dự án này cũng có thể gây tác động xấu đến môi trường. Theo tôi, tất cả các dự án cơ sở hạ tầng lớn đều không bảo đảm tăng trưởng nếu bị quy hoạch kém. Do đó, chúng phải được quy hoạch tốt, có hệ thống quản lý hiệu quả và thiết kế bền vững ngay từ đầu. RFI : Trong nhiệm kỳ 5 năm (2026-2030), Việt Nam sẽ triển khai nhiều dự án cơ sở hạ tầng quy mô lớn (đường sắt cao tốc, nhà máy điện hạt nhân, sân bay Long Thành, mạng lưới đường sắt đô thị tại Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh). Những dự án này có ý nghĩa và vai trò như thế nào  trong việc đạt được mục tiêu tăng trưởng ít nhất 10% do đảng và Quốc Hội Việt Nam đề ra cho nhiệm kỳ này ? Éric Mottet : Đúng là các dự án hạ tầng lớn trong kế hoạch 5 năm đến năm 2030 là trụ cột chiến lược và trọng tâm phát triển. Chúng là đòn bẩy quan trọng giúp nền kinh tế hướng tới mục tiêu tăng trưởng bình quân 10%, tương tự những gì Trung Quốc đã trải qua trong những năm 1990-2000, thậm chí là cả thập niên 2010. Các dự án này là động lực mạnh mẽ cho tăng trưởng ngắn hạn, như đã nói ở trên, vì sẽ huy động đầu tư công và tư nhân, tạo việc làm, thúc đẩy các ngành liên quan như xi măng, thép và logistics. Nhờ đó, chúng trở thành chất xúc tác mạnh, thúc đẩy kinh tế tức thời, và theo tôi, sẽ làm góp phần tăng GDP ngay khi được triển khai. Hơn nữa, các dự án hạ tầng lớn còn cho phép cải thiện cấu trúc năng suất của một quốc gia như Việt Nam. Khi hệ thống hạ tầng được nâng cấp, chi phí logistics giảm, thời gian vận chuyển được rút ngắn và độ tin cậy tăng lên, từ đó tạo điều kiện thuận lợi cho lưu thông hàng hóa và kết nối thương mại giữa các vùng. Chẳng hạn, tuyến đường sắt cao tốc Hà Nội - TP. HCM sẽ rút ngắn khoảng cách địa lý, tăng cường liên kết kinh tế Bắc - Nam, đồng thời góp phần củng cố sự gắn kết quốc gia. Và như vậy sẽ nâng cao sức thu hút của Việt Nam. Đọc thêmChuyển toàn bộ chuyến bay quốc tế về Long Thành: Giới chuyên gia Việt Nam quan ngại Bên cạnh đó, các dự án như sân bay Long Thành hay việc phát triển các đô thị hiện đại sẽ nâng cao vị thế của Việt Nam trong mạng lưới giao thông và thương mại quốc tế, cả về du lịch lẫn kinh tế. Những công trình này còn cho phép một thành phố lớn như TP. HCM cạnh tranh với những trung tâm logistics hàng đầu khu vực như Bangkok, Singapore hay Hồng Kông. Nhờ vậy, mô hình tăng trưởng cũng có cơ hội chuyển d

    1 Jun

    •
    12 min
  • Prime Minister's Questions - 24 June 2026

    6 hr ago

    7

    Prime Minister's Questions - 24 June 2026

    Prime Minister's Question Time, also referred to as PMQs, takes place every Wednesday the House of Commons sits. It gives MPs the chance to put questions to the Prime Minister, Sir Keir Starmer MP, or a nominated minister.

    6 hr ago

    •
    41 min
  • The Sunday Feature: Secret Police Files Opened Up in Albania

    22/10/2017

    8

    The Sunday Feature: Secret Police Files Opened Up in Albania

    In Albania, attempts are now being made to discover the fate of about 6,000 people who went missing during 40 years of Communism. Andrew Hoskens in Tirana speaks to one man whose Catholic priest uncle fell foul of Enver Hoxha's regime. (Photo: Nikolin Kurti at the site of the mass grave he exhumed in 2009. Credit: Andrew Hoskens/BBC)

    22/10/2017

    •
    9 min
  • Công ước Hà Nội và phòng chống tội phạm mạng ở Việt Nam

    8 Jun

    9

    Công ước Hà Nội và phòng chống tội phạm mạng ở Việt Nam

    Ngày 07/04/2026, tổng bí thư Đảng kiêm chủ tịch nước Tô Lâm đã ký quyết định phê chuẩn Công ước của Liên Hiệp Quốc về chống tội phạm mạng (Công ước Hà Nội), đưa Việt Nam trở thành quốc gia đầu tiên ở Đông Nam Á và là nước thứ hai trên thế giới chính thức phê chuẩn Công ước này. Công ước mang tên Hà Nội là vì lễ ký Công ước của Liên Hiệp Quốc về chống tội phạm mạng đã được tổ chức tại Hà Nội vào tháng 10/2025. Cho tới nay đã có 75 quốc gia ký công ước này. Tuy nhiên, Công ước Hà Nội sẽ chỉ có hiệu lực một khi có đủ 40 quốc gia chính thức phê chuẩn để trở thành thành viên chính thức.  Đông Nam Á nói chung và Việt Nam nói riêng đang ngày càng trở thành một trong những trung tâm của tội phạm mạng trên thế giới. Trong một bài viết đăng trên mạng ngày 09/03/2026, công ty Okta, chuyên về quản lý danh tính ( Identity Management ), cho biết: “Một hệ sinh thái tội phạm mạng rộng lớn bắt nguồn từ Việt Nam đã được liên kết với các chiến dịch đăng ký tài khoản giả mạo quy mô lớn nhắm vào các nhà cung cấp dịch vụ và nền tảng trực tuyến trên toàn thế giới. Các nhà nghiên cứu đã truy tìm hoạt động này đến một cụm cơ sở hạ tầng được đặt tên nội bộ là O-UNC-036, sử dụng địa chỉ email dùng một lần và bot tự động để tạo ra các danh tính kỹ thuật số giả mạo ở quy mô đáng báo động.” Theo công ty này, các tội phạm sử dụng những tài khoản trực tuyến gian lận như một cánh cửa để thực hiện các hoạt động tội phạm tài chính, từ thư rác và lừa đảo trực tuyến đến các vụ lừa đảo cá nhân. Các tổ chức tội phạm có tổ chức ở Đông Nam Á, đặc biệt là ở khu vực gần biên giới Trung Quốc, Miến Điện, Thái Lan và Cam Bốt dùng những thủ đoạn này để dụ dỗ nạn nhân vào các vụ lừa đảo tiền điện tử, lừa đảo tình cảm và tống tiền tình dục,... Các nhà phân tích của Okta đã xác định được một lượng lớn các đăng ký tài khoản đáng ngờ liên kết với nhiều tên miền email dùng một lần, trở thành sợi dây liên kết quan trọng giữa hoạt động này với một thị trường lừa đảo rộng lớn hơn có trụ sở tại Việt Nam. Thiệt hại về tài chính từ hoạt động này là rất lớn. Trong một báo cáo tháng 4/2025, Văn phòng Liên Hiệp Quốc về Ma túy và Tội phạm (UNODC) đã chỉ ra rằng thị trường ngầm này hiện có những người chuyên buôn bán bộ công cụ lừa đảo, dữ liệu bị đánh cắp, phần mềm độc hại, công cụ dựa trên trí tuệ nhân tạo (AI) và dịch vụ rửa tiền được sử dụng để nhắm mục tiêu vào các nạn nhân trên toàn cầu. Chính là để phòng chống những hoạt động lừa đảo trực tuyến như trên mà Công ước Hà Nội thiết lập một khuôn khổ pháp lý quốc tế toàn diện về phòng ngừa, phát hiện, điều tra, truy tố và hợp tác quốc tế trong xử lý tội phạm mạng. Trả lời RFI Việt ngữ ngày 22/05/2026, nhà tội phạm học Lương Thanh Hải, giảng viên Trường Tư pháp hình sự và tội phạm học Griffith, Úc và là chủ tịch Hội đồng nghiên cứu về tội phạm ma túy tại châu Á của Viện nghiên cứu AICS (Hoa Kỳ), cho biết Việt Nam đã chuẩn bị như thế nào cho việc tham gia Công ước Hà Nội : "Thứ nhất là Việt Nam đã hoàn thiện khung pháp lý nội địa, đặc biệt là trong các lĩnh vực an ninh mạng, bảo vệ dữ liệu và xử lý chứng cứ điện tử. Có thể nói rằng trong những năm trở lại đây, Quốc Hội của Việt Nam và các cơ quan, trong đó có vai trò rất là lớn bộ Công An Việt Nam, đã điều chỉnh, bổ sung và ban hành các luật, khung pháp lý nội địa rất  kịp thời trong lĩnh vực an ninh mạng và xử lý điện tử, chứng cứ điện tử. Thứ hai là Việt Nam đã chuẩn bị khá kỹ trong việc nâng cao năng lực thực thi pháp luật, đặc biệt là đào tạo chuyên sâu cho các lực lượng điều tra tội phạm công nghệ cao. Song song với đó, đầu tư vào các hệ thống cơ sở hạ tầng số cũng rất là ổn định để kịp thời trước lúc tham gia Công ước Hà Nội. Thứ ba là tăng cường hợp tác quốc tế thông qua các cơ chế song phương, đa phương mà Việt Nam đã tham gia. Việt Nam không tham gia Công ước Hà Nội một cách hình thức mà đang từng bước thích nghi với các chuẩn mực toàn cầu về quản trị an ninh mạng và phòng chống tội phạm công nghệ cao." Công ước Hà Nội quy định đầy đủ các vấn đề từ hình sự hóa hành vi phạm tội, thẩm quyền điều tra, dẫn độ, tương trợ tư pháp, đến bảo vệ dữ liệu cá nhân. Các hành vi như truy cập trái phép, đánh cắp dữ liệu, gian lận điện tử, tấn công cơ sở hạ tầng trọng yếu, sử dụng không gian mạng để tài trợ khủng bố hay rửa tiền bằng tài sản số đều được định danh rõ ràng. Quan trọng hơn, Công ước tạo ra “chuẩn mực pháp lý chung”, giúp các quốc gia phối hợp hiệu quả trong xử lý các vụ án xuyên biên giới. Việc tham gia Công ước giúp Việt Nam có thêm công cụ pháp lý quan trọng để nâng cao hiệu quả phòng ngừa, phát hiện, điều tra và xử lý tội phạm mạng. Trả lời RFI Việt ngữ, nhà tội phạm học Lương Thanh Hải giải thích: "Công ước Hà Nội quy định rất toàn diện các vấn đề về hình sự hóa tội phạm mạng, thẩm quyền điều tra, hợp tác quốc tế, dẫn độ, hỗ trợ tư pháp và bảo vệ dữ liệu và cá nhân. Công ước mang lại cho Việt Nam một số công cụ pháp lý rất quan trọng, đáng chú ý ở đây là chia sẻ thông tin và chứng cứ điện tử nhanh hơn giữa các quốc gia. Có thể nói đây là một trong những    yếu tố then chốt trong điều tra tội phạm mạng xuyên biên giới. Ngoài ra, Công ước Hà Nội còn hỗ trợ cho phía Việt Nam và các cơ quan tư pháp hình sự của Việt Nam hài hòa các định nghĩa, các cách tiếp cận về pháp lý liên quan đến tội phạm mạng giữa các quốc gia. Thứ hai là tăng cường cơ chế tương trợ tư pháp và dẫn độ khi triển khai Công ước Hà Nội. Thứ ba là Công ước này sẽ hỗ trợ trực tiếp các cuộc điều tra chung. Khi được thông qua, Công ước Hà Nội sẽ có thêm cơ sở pháp lý, hành lang pháp lý cụ thể và chính thống để tiến hành các cuộc điều tra chung, thành lập các đội điều tra chung ( investigation teams ) giữa các nước trong khu vực và thế giới, khi phát sinh các yếu tố liên quan đến phòng chống tội phạm mạng, đặc biệt là trong các vụ lừa đảo xuyên quốc gia và rửa tiền kỹ thuật số. Điều này giúp đáng kể khoảng trống pháp lý mà tội phạm mạng thường lợi dụng. Hiện nay không gian mạng rất khó kiểm soát và không có biên giới." Những công cụ mới mà Công ước Hà Nội mang lại sẽ tác động như thế nào đến việc phòng chống tội phạm mạng ở Việt Nam, nhà tội phạm học Lương Thanh Hải dự báo: "Ở đây ta có thể tiếp cận từ hai góc độ. Góc độ thứ nhất là tác động của Công ước Hà Nội đối với Việt Nam. Góc độ thứ hai là tác động của Công ước Hà Nội đối với các đối tác của Việt Nam trong khu vực và trên thế giới. Đầu tiên là trong nước, Công ước Hà Nội sẽ giúp cho Việt Nam, cụ thể là các cơ quan chức năng như bộ Công An hoặc bộ Thông Tin Truyền Thông, chuẩn hóa quy trình điều tra và xử lý tội phạm mạng, vừa bám theo Công ước Hà Nội, vừa nội hóa các luật nội địa Việt Nam đã ban hành, ví dụ như Luật an ninh mạng và gần đây nhất là luật về trí tuệ nhân tạo AI. Nó sẽ giúp chuẩn hóa quy trình điều tra và xử lý tội phạm liên quan đến không gian mạng, đồng thời nâng cao tính minh bạch và hiệu quả trong thu thập chứng cứ điện tử, thúc đẩy cách tiếp cận dựa trên dữ liệu và bằng chứng trong thực thi pháp luật của các cơ quan ở Việt Nam.  Cấp độ thứ hai là với các đối tác của Việt Nam trong khu vực ASEAN, cũng như các nước ngoài ASEAN, trong đó có Úc, Châu Âu, hay Mỹ. Ở cấp độ xuyên quốc gia, tác động sẽ rõ nét hơn. Công ước tạo nền tảng cho việc phối hợp hành động nhanh hơn giữa các quốc gia, đặc biệt là trong việc truy xét dòng tiền, xác định máy chủ và triệt phá các mạng lưới tội phạm hoạt động ở nhiều quốc gia cùng một lúc trên không gian mạng. Tuy nhiên ở đây tôi cũng cần lưu ý rằng hiệu quả thực sự sẽ phụ thuộc rất nhiều vào mức

    8 Jun

    •
    10 min
  • 2025 on The Interview

    24/12/2025

    10

    2025 on The Interview

    2025 on The Interview A special episode from The Interview, featuring three of the most compelling conversations from 2025. US President Donald Trump spoke to the BBC’s Chief North America correspondent Gary O’Donoghue in July, in a wide-ranging and frank telephone conversation from the Oval Office. President Trump reflects on the assassination attempt that took place a year previously, and also expresses his frustration at the slow pace of attempts to bring peace to Ukraine. British royal Prince Harry was born into one of the world’s most famous families, and grew up in the public eye. In May, he lost a final court appeal to reverse the downgrading of security protection for him and his family since stepping down from royal duties. He gave his reaction to BBC correspondent Nada Tawfik in an emotional and deeply personal conversation. The Pakistani education activist Malala Yousafzai is known worldwide as the spirited girl who took on the Taliban and nearly lost her life, then went on to win the Nobel Prize and advocate for girls everywhere to go to school. But, as she explains to BBC presenter Madina Maishanu, although her public life defined her to the world, she did not know who she was. Thank you to the all the teams across the BBC who have helped us make The Interview throughout 2025. The Interview brings you conversations with people shaping our world, from all over the world. The best interviews from the BBC. You can listen on the BBC World Service on Mondays, Wednesdays and Fridays at 0800 GMT. Or you can listen to The Interview as a podcast, out three times a week on BBC Sounds or wherever you get your podcasts. Presenter: Farhana Haider Producers: Ben Cooper, Clare Williamson, Farhana Haider, Lucy Sheppard Editors: Justine Lang and Nick Holland Get in touch with us on email TheInterview@bbc.co.uk and use the hashtag #TheInterviewBBC on social media.

    24/12/2025

    •
    23 min

New Shows

  • COSMOS, Le Podcast
    Sport
    Sport

    Every two months

  • プチ鹿島 赤坂タイムス
    Government
    Government

    Updated weekly

  • The Observing Japan Podcast
    News
    News

    Updated weekly

  • Let storytelling become your constant companion
    Government
    Government

    Updated 26 Mar

  • The Blueprint with Jen Psaki
    News
    News

    Complete series

  • The Brownstone Show
    Society & Culture
    Society & Culture

    Updated 15 Jun

  • American Power
    Government
    Government

    Updated weekly

  • Tiếng Việt
Select a country or region

Africa, Middle East, and India

  • Algeria
  • Angola
  • Armenia
  • Azerbaijan
  • Bahrain
  • Benin
  • Botswana
  • Burkina Faso
  • Cameroun
  • Cape Verde
  • Chad
  • Côte d’Ivoire
  • Congo, The Democratic Republic Of The
  • Egypt
  • Eswatini
  • Gabon
  • Gambia
  • Ghana
  • Guinea-Bissau
  • India
  • Iraq
  • Israel
  • Jordan
  • Kenya
  • Kuwait
  • Lebanon
  • Liberia
  • Libya
  • Madagascar
  • Malawi
  • Mali
  • Mauritania
  • Mauritius
  • Morocco
  • Mozambique
  • Namibia
  • Niger (English)
  • Nigeria
  • Oman
  • Qatar
  • Congo, Republic of
  • Rwanda
  • São Tomé and Príncipe
  • Saudi Arabia
  • Senegal
  • Seychelles
  • Sierra Leone
  • South Africa
  • Sri Lanka
  • Tajikistan
  • Tanzania, United Republic Of
  • Tunisia
  • Turkmenistan
  • United Arab Emirates
  • Uganda
  • Yemen
  • Zambia
  • Zimbabwe

Asia Pacific

  • Afghanistan
  • Australia
  • Bhutan
  • Brunei Darussalam
  • Cambodia
  • 中国大陆
  • Fiji
  • 香港
  • Indonesia (English)
  • 日本
  • Kazakhstan
  • 대한민국
  • Kyrgyzstan
  • Lao People's Democratic Republic
  • 澳門
  • Malaysia (English)
  • Maldives
  • Micronesia, Federated States of
  • Mongolia
  • Myanmar
  • Nauru
  • Nepal
  • New Zealand
  • Pakistan
  • Palau
  • Papua New Guinea
  • Philippines
  • Singapore
  • Solomon Islands
  • 台灣
  • Thailand
  • Tonga
  • Turkmenistan
  • Uzbekistan
  • Vanuatu
  • Vietnam

Europe

  • Albania
  • Armenia
  • Österreich
  • Belarus
  • Belgium
  • Bosnia and Herzegovina
  • Bulgaria
  • Croatia
  • Cyprus
  • Czechia
  • Denmark
  • Estonia
  • Finland
  • France (Français)
  • Georgia
  • Deutschland
  • Greece
  • Hungary
  • Iceland
  • Ireland
  • Italia
  • Kosovo
  • Latvia
  • Lithuania
  • Luxembourg (English)
  • Malta
  • Moldova, Republic Of
  • Montenegro
  • Nederland
  • North Macedonia
  • Norway
  • Poland
  • Portugal (Português)
  • Romania
  • Россия
  • Serbia
  • Slovakia
  • Slovenia
  • España
  • Sverige
  • Schweiz
  • Türkiye (English)
  • Ukraine
  • United Kingdom

Latin America and the Caribbean

  • Anguilla
  • Antigua and Barbuda
  • Argentina (Español)
  • Bahamas
  • Barbados
  • Belize
  • Bermuda
  • Bolivia (Español)
  • Brasil
  • Virgin Islands, British
  • Cayman Islands
  • Chile (Español)
  • Colombia (Español)
  • Costa Rica (Español)
  • Dominica
  • República Dominicana
  • Ecuador (Español)
  • El Salvador (Español)
  • Grenada
  • Guatemala (Español)
  • Guyana
  • Honduras (Español)
  • Jamaica
  • México
  • Montserrat
  • Nicaragua (Español)
  • Panamá
  • Paraguay (Español)
  • Perú
  • St. Kitts and Nevis
  • Saint Lucia
  • St. Vincent and The Grenadines
  • Suriname
  • Trinidad and Tobago
  • Turks and Caicos
  • Uruguay (English)
  • Venezuela (Español)

The United States and Canada

  • Canada (English)
  • Canada (Français)
  • United States
  • Estados Unidos (Español México)
  • الولايات المتحدة
  • США
  • 美国 (简体中文)
  • États-Unis (Français France)
  • 미국
  • Estados Unidos (Português Brasil)
  • Hoa Kỳ
  • 美國 (繁體中文台灣)

Copyright © 2026 Apple Inc. All rights reserved.

  • Internet Service Terms
  • Apple Podcasts web player & Privacy
  • Cookie Warning
  • Support
  • Feedback

To listen to explicit episodes, sign in.

Apple Podcasts

Stay up to date with this show

Sign in or sign up to follow shows, save episodes and get the latest updates.

Select a country or region

Africa, Middle East, and India

  • Algeria
  • Angola
  • Armenia
  • Azerbaijan
  • Bahrain
  • Benin
  • Botswana
  • Burkina Faso
  • Cameroun
  • Cape Verde
  • Chad
  • Côte d’Ivoire
  • Congo, The Democratic Republic Of The
  • Egypt
  • Eswatini
  • Gabon
  • Gambia
  • Ghana
  • Guinea-Bissau
  • India
  • Iraq
  • Israel
  • Jordan
  • Kenya
  • Kuwait
  • Lebanon
  • Liberia
  • Libya
  • Madagascar
  • Malawi
  • Mali
  • Mauritania
  • Mauritius
  • Morocco
  • Mozambique
  • Namibia
  • Niger (English)
  • Nigeria
  • Oman
  • Qatar
  • Congo, Republic of
  • Rwanda
  • São Tomé and Príncipe
  • Saudi Arabia
  • Senegal
  • Seychelles
  • Sierra Leone
  • South Africa
  • Sri Lanka
  • Tajikistan
  • Tanzania, United Republic Of
  • Tunisia
  • Turkmenistan
  • United Arab Emirates
  • Uganda
  • Yemen
  • Zambia
  • Zimbabwe

Asia Pacific

  • Afghanistan
  • Australia
  • Bhutan
  • Brunei Darussalam
  • Cambodia
  • 中国大陆
  • Fiji
  • 香港
  • Indonesia (English)
  • 日本
  • Kazakhstan
  • 대한민국
  • Kyrgyzstan
  • Lao People's Democratic Republic
  • 澳門
  • Malaysia (English)
  • Maldives
  • Micronesia, Federated States of
  • Mongolia
  • Myanmar
  • Nauru
  • Nepal
  • New Zealand
  • Pakistan
  • Palau
  • Papua New Guinea
  • Philippines
  • Singapore
  • Solomon Islands
  • 台灣
  • Thailand
  • Tonga
  • Turkmenistan
  • Uzbekistan
  • Vanuatu
  • Vietnam

Europe

  • Albania
  • Armenia
  • Österreich
  • Belarus
  • Belgium
  • Bosnia and Herzegovina
  • Bulgaria
  • Croatia
  • Cyprus
  • Czechia
  • Denmark
  • Estonia
  • Finland
  • France (Français)
  • Georgia
  • Deutschland
  • Greece
  • Hungary
  • Iceland
  • Ireland
  • Italia
  • Kosovo
  • Latvia
  • Lithuania
  • Luxembourg (English)
  • Malta
  • Moldova, Republic Of
  • Montenegro
  • Nederland
  • North Macedonia
  • Norway
  • Poland
  • Portugal (Português)
  • Romania
  • Россия
  • Serbia
  • Slovakia
  • Slovenia
  • España
  • Sverige
  • Schweiz
  • Türkiye (English)
  • Ukraine
  • United Kingdom

Latin America and the Caribbean

  • Anguilla
  • Antigua and Barbuda
  • Argentina (Español)
  • Bahamas
  • Barbados
  • Belize
  • Bermuda
  • Bolivia (Español)
  • Brasil
  • Virgin Islands, British
  • Cayman Islands
  • Chile (Español)
  • Colombia (Español)
  • Costa Rica (Español)
  • Dominica
  • República Dominicana
  • Ecuador (Español)
  • El Salvador (Español)
  • Grenada
  • Guatemala (Español)
  • Guyana
  • Honduras (Español)
  • Jamaica
  • México
  • Montserrat
  • Nicaragua (Español)
  • Panamá
  • Paraguay (Español)
  • Perú
  • St. Kitts and Nevis
  • Saint Lucia
  • St. Vincent and The Grenadines
  • Suriname
  • Trinidad and Tobago
  • Turks and Caicos
  • Uruguay (English)
  • Venezuela (Español)

The United States and Canada

  • Canada (English)
  • Canada (Français)
  • United States
  • Estados Unidos (Español México)
  • الولايات المتحدة
  • США
  • 美国 (简体中文)
  • États-Unis (Français France)
  • 미국
  • Estados Unidos (Português Brasil)
  • Hoa Kỳ
  • 美國 (繁體中文台灣)