Tạp chí văn hóa

Sinh hoạt văn hóa, nghệ thuật, đặc biệt là tại Pháp và Việt Nam

  1. 2 days ago

    Nhạc Nhật lời Việt : Thời kỳ huy hoàng của giọng ca Đặng Lệ Quân

    Nhạc phẩm "Tsugunai" (hiểu theo nghĩa chuộc lỗi) là ca khúc chủ đề album phòng thu tiếng Nhật thứ 13 của Đặng Lệ Quân. Được phát hành vào đầu năm 1984, album này đánh dấu ngày diva Đài Loan xuất hiện trở lại trên thị trường Nhật Bản sau một thời gian vắng bóng. Trong tiếng Việt Tsugunai từng được đặt lời thành nhạc phẩm "Ước hẹn".  Có thể nói, album Tsugunai đã mở ra giai đoạn thành công thứ nhì của Đặng Lệ Quân tại xứ hoa anh đào. Cho dù khi mới được phát hành vào đầu năm 1984, đĩa hát này không nhận được sự hưởng ứng nhiệt tình của công chúng, nhưng nhờ được quảng bá rộng rãi trên làn sóng phát thanh và truyền hình, cho nên đến cuối năm 1984, đĩa hát này đạt kỷ lục doanh thu, bán được hơn một triệu bản. Ca khúc chủ đề album giành lấy hạng nhất nhân kỳ trao Giải thưởng Truyền hình cáp Nhật Bản (Japan Cable Award) , trong khi diva người Đài Loan nhận danh hiệu Ca sĩ xuất sắc nhất trong năm. Nhờ vậy, Tsugunai đã trụ vững trên bảng xếp hạng Oricon của thị trường Nhật Bản (tương đương với Billboard của Mỹ) trong gần một năm. Ngoài bản phóng tác "Ước hẹn" của tác giả Lữ Liên, giai điệu này còn được tác giả Khúc Lan chuyển sang lời Việt thành nhạc phẩm "Tình chỉ là giấc mơ" (Tình như giấc mơ). Trên đà thành công, Đặng Lệ Quân cho ra mắt vào đầu năm 1985 album phòng thu kế tiếp với tựa đề  "Aijin" (Người tình) cũng được  tác giả Lữ Liên chuyển sang lời Việt thành nhạc phẩm "Tan tác". Ca khúc chủ đề album cùng tên giành lấy hạng nhất bảng xếp hạng Oricon ngay trong tuần lễ đầu tiên phát hành. Bài hát sau đó giữ vị trí quán quân trong 14 tuần liên tục và bán được hơn 1,5 triệu bản. Với nhạc phẩm "Aijin" (Tan tác), Đặng Lệ Quân đã giành được danh hiệu Ca sĩ xuất sắc nhất trong năm lần thứ nhì.  Đặng Lệ Quân trở thành nghệ sĩ đầu tiên giành được ba lần liên tiếp Giải thưởng Truyền hình cáp Nhật Bản và cũng là nghệ sĩ nước ngoài duy nhất được mời biểu diễn nhiều lần trong show truyền hình đón năm mới Kōhaku Uta Gassen, một vinh dự cao quý chỉ dành cho những nghệ sĩ tài ba hàng đầu trong làng nhạc Nhật Bản. Thành công nói trên giúp phá vỡ mọi kỷ lục do chính Đặng Lệ Quân lập ra trong giai đoạn đầu sự nghiệp tại Nhật Bản (1974-1979). Ngoài chất giọng đầy ma lực quyến rũ, nhẹ như tiếng khóc thầm nhưng làm phiêu hồn người nghe, Đặng Lệ Quân còn thành công nhờ hợp tác với các nhà soạn nhạc hàng đầu. Cặp bài trùng  Miki Takashi và Akari Toyohisa đã đồng sáng tác những giai điệu đo ni đóng giày, giúp Đặng Lệ Quân chinh phục bảng xếp hạng thị trường Nhật Bản rồi sau đó nữa thành công tại các nước châu Á. Trong số các tác phẩm nổi tiếng của hai tác giả này có Toki no Nagare niMio Makase trong nguyên tác tiếng Nhật có nghĩa là "Xuôi theo dòng thời gian" còn trong tiếng Việt là giai điệu "Đời như một dòng sông" (ca sĩ Hồng Hạnh đặt lời và ghi âm). Ngoài ra, trong thời kỳ huy hoàng những năm 1980 của Đặng Lệ Quân còn có hai nhạc phẩm để đời Aijin (Tan tác) và nhất là Tsugunai (Ước hẹn). Căn phòng còn vương vấn, nụ hôn đầy hơi ấm, nghe hôn gọi trống vắng, tên người lặng dư âm. Giữ điếu thuốc trong tay, sao khói thuốc không bay, quá khứ nào thức dậy, cho đắm chìm men say. Đừng tưởng ở bên nhau, sẽ bù đắp thương đau, nợ tình chưa hiểu thấu, trói buộc nhau từ đầu. Mai này rồi đôi ta, trở thành người xa lạ, kiếp này xin hoàn trả, đền nợ tình xót xa.

  2. 3 days ago

    20 năm bảo tàng Quai Branly - Jacques Chirac : Đối thoại với sự đa dạng văn hóa của nhân loại

    Sau 2 thập niên hoạt động, với khoảng 25 triệu lượt khách, tổ chức 161 cuộc triển lãm và sở hữu một bộ sưu tập hơn 360.000 tác phẩm, bảo tàng Quai Branly - Jacques Chirac đã trở thành một địa chỉ văn hóa đặc biệt tại « kinh đô ánh sáng » Paris, chuyên giới thiệu và tôn vinh sự đa dạng của các nền văn hóa ngoài châu Âu. Nhưng vai trò của bảo tàng Quai Branly không chỉ dừng ở việc bảo tồn và trưng bày các di sản văn hóa. Hai thập niên qua cũng đặt bảo tàng vào vị trí trung tâm của những cuộc thảo luận về lịch sử thuộc địa, việc hoàn trả các hiện vật và cách thức đối thoại giữa các nền văn hóa. Nhân dịp kỷ niệm 20 năm thành lập bảo tàng, RFI tiếng Việt đã phỏng vấn ông Emmanuel Kasarhérou, chủ tịch bảo tàng Quai Branly - Jacques Chirac, về những dấu ấn của bảo tàng trong 20 năm qua, vị trí của Việt Nam trong các bộ sưu tập và hoạt động hợp tác của bảo tàng, cũng như những thách thức phía trước trong một thế giới đang có nhiều biến động. RFI : Năm nay - 2026 - là tròn 20 năm kể từ khi bảo tàng được thành lập. Điều gì tạo nên sự khác biệt cho Quai Branly - Jacques Chirac so với các bảo tàng lớn khác ở Paris, ở Pháp và trên thế giới ? Emmanuel Kasarhérou : Điểm khác biệt nằm ở chính nội dung văn hóa của bảo tàng. Đó là giới thiệu các nền văn hóa, sự đa dạng của các nền văn hóa nhân loại đến từ bốn châu lục bên ngoài châu Âu. Đây là một nét rất đặc biệt, bởi chúng tôi là một trong số ít bảo tàng ở Paris thực hiện công việc này với quy mô rộng lớn đến như vậy. Có thể kể đến bảo tàng quốc gia về nghệ thuật châu Á Guimet, nhưng bảo tàng này thì tập trung vào châu Á. RFI : Vậy theo ông, đóng góp quan trọng nhất của bảo tàng là gì ? Ông nhìn nhận thế nào về chặng đường 20 năm mà bảo tàng đã trải qua ? Emmanuel Kasarhérou : Theo tôi, đóng góp của bảo tàng này là tạo điều kiện để khách tham quan khi có cơ hội đến đây có thể bước vào những cách nhìn khác về thế giới, những cách cảm nhận khác về thế giới, và khám phá những thế giới thẩm mỹ và tinh thần, đôi khi rất khác với những gì mà người châu Âu, và đặc biệt là người Pháp, vốn quen thuộc. Qua đó, chúng ta thử nhìn nhận thế giới theo một cách khác, và bằng cách ấy, có thể bắt đầu hiểu hơn về sự đa dạng văn hóa của nhân loại, đồng thời thiết lập một mối quan hệ với sự đa dạng ấy. Bảo tàng này thực sự được tổng thống Pháp, khi đó là Jacques Chirac, quyết định cho xây dựng, với mong muốn góp phần giúp con người hiểu về sự đa dạng văn hóa của nhân loại. Không phải coi đó là một điều cần phải xóa bỏ hay đồng nhất hóa, mà ngược lại, coi đó là một trong những động lực thiết yếu của lịch sử văn hóa nhân loại, kể từ thuở sơ khai của lịch sử nhân loại. RFI : Bảo tàng Quai Branly - Jacques Chirac được xây dựng như một không gian đối thoại giữa các nền văn hóa. Sứ mệnh này đã được thể hiện cụ thể như thế nào trong 20 năm qua ? Emmanuel Kasarhérou : Đối thoại giữa các nền văn hóa không phải là điều có thể được áp đặt hay quyết định bằng một mệnh lệnh. Đó là điều phải được thực hiện và trải nghiệm thông qua nhiều hình thức khác nhau. Và điều đầu tiên, trước hết, là phải biết lắng nghe. Và để lắng nghe những nền văn hóa khác nhau, chúng tôi đã cố gắng thiết lập mối liên hệ với các cộng đồng, các quốc gia, các nhóm văn hóa được đại diện trong những bộ sưu tập của bảo tàng. Tất nhiên, chúng tôi không thể làm điều đó với tất cả mọi người cùng một lúc, nhưng chúng tôi thực hiện từng bước, theo thời gian. Mục đích là vừa thu thập thêm thông tin, vừa tạo ra một cuộc đối thoại : cùng nhau nhìn lại một di sản đang được lưu giữ tại đây, với những tác phẩm có từ quá khứ ; đồng thời có được góc nhìn lịch sử mà chúng tôi có được từ những tư liệu đã đi cùng với các tác phẩm đó trong suốt quá trình tồn tại của chúng tại các bảo tàng của Pháp. Nhưng đồng thời, điều quan trọng là phải có được cách nhìn, cảm nhận và góc nhìn của những người kế thừa các nền văn hóa ấy : ngày nay họ nhìn nhận những nền văn hóa đó như thế nào, họ muốn chúng ta nói về những nền văn hóa đó ra sao, và chúng ta phải làm sao để có thể lắng nghe, thấu hiểu cách nhìn nhận của họ. Vì vậy, mục đích không phải là thay thế một cách nhìn này bằng một cách nhìn khác, mà là tạo ra một sự qua lại - tức là một cuộc đối thoại giữa việc lắng nghe, những lời trao đổi, và sau đó là những thông tin được truyền tải tới công chúng. RFI : Vậy bảo tàng đóng góp như thế nào để giúp công chúng Pháp và quốc tế biết đến sự phong phú và đa dạng của văn hóa Việt Nam ? Trong những năm gần đây, bảo tàng có những cuộc triển lãm, các mối quan hệ hợp tác hoặc dự án nghiên cứu đặc biệt nào đáng chú ý và liên quan đến Việt Nam ? Emmanuel Kasarhérou : Chúng tôi có may mắn được thừa hưởng những bộ sưu tập, đặc biệt là các bộ sưu tập dân tộc học, được hình thành trong hơn một thế kỷ qua tại khu vực này trên thế giới, và đặc biệt là ở Việt Nam. Một trong những cuộc triển lãm đầu tiên được tổ chức tại bảo tàng có tên “Chúng tôi đã ăn rừng – Georges Condominas ở Việt Nam” (Nous avons mangé la forêt – Georges Condominas au Vietnam). “Chúng tôi đã ăn rừng” là tựa đề một trong những cuốn sách của Georges Condominas, một nhà nhân học nổi tiếng, người Pháp gốc Việt. Ông đã nghiên cứu các vùng cao nguyên, đặc biệt là các cộng đồng ở các làng Sar Luk. Cuộc triển lãm này được tổ chức tại bảo tàng vào năm 2007-2008. Sau đó, chúng tôi có một người cũng đã làm việc rất nhiều với phía Việt Nam, đó là Christine Hemmet, một chuyên gia về Việt Nam và từng phụ trách các bộ sưu tập châu Á của bảo tàng. Năm 2014, bà đã đề xuất một cuộc triển lãm mang tên “Cổ động - Phụ nữ trong cách mạng” (Propaganda – Les femmes dans la révolution). Đó là một loạt áp-phích rất nhiều màu sắc, rất bắt mắt, có tính thẩm mỹ cao, phong cách hiện đại, có thể nói là rất đẹp và hấp dẫn. Những áp-phích này được giới thiệu trong một cuộc triển lãm tại bảo tàng, với sự hỗ trợ của Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam, bởi vì Christine Hemmet đã có nhiều năm làm việc với bảo tàng này của Việt Nam. Tiếp theo, vào năm 2022, chúng tôi tổ chức một cuộc triển lãm của nghệ sĩ Dinh Q. Lê (tức Lê Quang Đỉnh). Ông là một nghệ sĩ Mỹ gốc Việt. Ông trải qua thời thơ ấu ở Việt Nam, sau đó sinh sống tại Hoa Kỳ. Triển lãm có tên gọi "Sợi đan ký ức" và nhiều bức ảnh khác. Ông là một nghệ sĩ đặc biệt quan tâm đến ký ức, nhất là những ký ức đôi khi rất đau đớn mà Cam Bốt, và đặc biệt là Việt Nam, đã trải qua trong các cuộc chiến tranh giải phóng. Đó là một công trình thực sự rất đáng chú ý. Trong các tác phẩm của mình, ông đã sử dụng kỹ thuật đan, kết hợp những bức ảnh cũ với những bức ảnh gần đây, qua đó cho thấy cách chúng ta nhìn thế giới ngày nay vẫn mang dấu ấn của một dạng “lưu ảnh” trên võng mạc, của những ký ức về những gì từng xảy ra trong quá khứ. Đó là một triển lãm rất đẹp. Đáng tiếc là nghệ sĩ Lê Quang Đỉnh đã qua đời cách nay không lâu, và tôi chỉ có thể bày tỏ lòng tri ân đối với công trình tuyệt vời của ông. Và gần đây nhất, vào tháng 04 năm 2026, chúng tôi rất vui mừng vì bảo tàng đã ký được một thỏa thuận hợp tác với tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là TP.Huế). Thỏa thuận này nhằm cung cấp cho phía Việt Nam khoảng 100 bức ảnh về Hoàng thành Huế trước khi bị tàn phá nặng nề vào năm 1947, cùng khoảng 40 bản khắc và tranh vẽ về chính quần thể cung điện này. Mục đích là hỗ trợ dự án do tỉnh và thành phố thực hiện, nhằm phục dựng toàn bộ hoặc một phần quần thể kiến trúc tuyệt đẹp này, đáng tiếc đã bị tàn phá trong các cuộc chiến.  Đó là những hoạt động mà chúng tôi đã thực hiện với Việt Nam, và chúng tôi rất mong muốn tiếp tục cuộc đối thoại văn hóa này. Dù thế nào thì chúng tôi cũng đặc biệt vui mừng

  3. 12 Sept

    Raviolivre : Quyển sách sưu tầm cách làm món hấp ravioli trên thế giới

    Ravioli là món ăn truyền thống nổi tiếng của Ý, làm bằng bột mì cán mỏng có nhân bánh đa dạng như thịt, nấm, phô mai, tôm cá, rau củ thái nhỏ. Về hình dáng và cách làm, Ravioli rất giống bánh tai, bánh gối, hoành thánh hay sủi cảo của châu Á. Cùng với mì sợi, ravioli là món ăn khá phổ biến ở khắp nơi, khác hay chăng là thành phần chế biến và cách dùng tên gọi. Trong vòng nhiều năm, nhà báo người Pháp Emmanuel Guillemain d'Echon đã đến nhiều nước trên thế giới, để sưu tầm và ghi chép công thức của mỗi kiểu ravioli của từng nơi. Kết quả là một quyển sách dạy nấu ăn dày gần 600 trang mang tựa đề « RavioLivre, le tour du monde d'un fou du ravioli » (Chuyến du lịch vòng quanh thế giới của một người ghiền Ravioli) do nhà xuất bản Keribus phát hành. Cuốn sách này không phải là một quyển bách khoa toàn thư về Ravioli, mà lại giống như một sổ tay hành trình kết hợp với khám phá ẩm thực, vì tác giả kể lại những cuộc gặp gỡ với các gia đình người dân bản xứ, nghe họ kể lại những truyền thuyết, phong tục cũng như ghi chép lại bí quyết nấu ăn gia truyền.  Hành trình viết sách đã đưa tác giả Pháp đi đến hơn 20 nước trên thế giới : từ món Plottes của vùng Québec Canada, bánh Pierogi của Ba Lan, Klepe của vùng Balkans dùng với xốt bơ trắng trộn tỏi chứ không dùng xốt cà chua, loại Kasnudeln và Knodel của Áo, Manti ở Thổ Nhĩ Kỳ, Pelmeni của Nga, Mandu của Hàn Quốc, Gyoza Nhật Bản, Boudz của Mông Cổ, Jiaozi và Wonton của Trung Quốc … Ngoài ra, chương cuối quyển sách dành cho những lộ trình khám phá bên lề, có thể là đề tài trong một quyển sách kế tiếp. Trả lời phỏng vấn đài RFI ban tiếng Pháp, Emmanuel Guillemain d'Echon trước hết cho biết ông thích nhất món raviolis của những nước nào : Trên thế giới, có hàng ngàn kiểu bánh hấp có nhân đa dạng, nhưng tôi vẫn thích nhất loại bánh hấp Modak của Ấn Độ, Tiểu Long bao của Trung Quốc và Khinkali của Gruzia. Đây là một cảm nhận rất chủ quan và hẳn chắc là mỗi độc giả sẽ có một cái nhìn khác. Nhìn chung, tôi thích nét tinh tế trong cách làm cũng như trong hương vị của các loại bánh này. Bánh Modak của Ấn Độ được chế biến như một món ngọt để cúng thần đầu voi Ganesh. Trong khi bánh bao hấp Khinkali của Gruzia lại giống như Tiểu Long Bao (Xiao Long Bao) ở Thượng Hải, đó là loại bánh hấp khá công phu, vì ngoài nhân thịt còn có thêm một chút nước dùng ở bên trong lớp vỏ bột thật mỏng. Nước dùng tạo thêm nhiều hương vị và giữ cho nhân bánh được nóng lâu.  Đây là một sự kết hợp khá độc đáo mà người Ý ở vùng Bologna chưa hề nghĩ tới. Lần đầu tiên ăn bánh Khinkali, bạn sẽ khá ngạc nhiên : loại ravioli này nên được ăn nguyên chứ đừng nên cắn từng miếng, vì nếu không khéo, nước dùng sẽ đổ lên áo của bạn. Đây là món ăn quốc hồn quốc túy của Gruzia (dù chưa được công nhận chính thức). Người dân miền núi Khevsur hay Pshav đã nâng cách làm Khinkali lên hàng nghệ thuật. Bánh có vị nhẹ nhàng, cay cay, nhân thịt được trộn với rau thơm và một số thảo mộc đặc biệt của vùng núi Tushetia. Chẳng hạn như hạt thì là của miền núi có hương thơm khác lạ hơn so với loại thì là Ai Cập. Làm thế nào để ghi chép được hết hàng ngàn loại ravioli trên khắp thế giới. Khi bắt tay viết một quyển sách « RavioLivre » với chủ đề phổ quát như vậy, tác giả Emmanuel Guillemain d'Echon cho biết ông đã tự đặt ra một số tiêu chuẩn nhằm hạn chế phạm vi tìm kiếm của mình : Vâng, tôi phải tự giới hạn mình, loại trừ những món bánh chiên hoặc bánh nướng. Bằng không, quyển sách sẽ có đến hàng ngàn trang và cần có thêm nhiều tập. Tại nhiều nước châu Á, các loại bánh bao nhỏ có thể được chiên hay hấp. Thổ Nhĩ Kỳ có loại bánh Manti, người Nhật Bản thường làm bánh Gyoza, bánh được luộc rồi chiên áp chảo. Ở Bắc Phi, cũng có loại bánh brik, bánh pastel ở Senegal, sambosa ở Madagascar, nhưng các loại này gần giống với bánh chiên samossa của Trung Á và Ấn Độ. Vì thế cho nên tôi đưa ra một số tiêu chí rõ ràng : thứ nhất, khổ bánh vừa vặn có thể ăn nguyên miếng, thứ nhì bột bánh và nhân bánh cần được hấp hay luộc chín cùng một lúc. Bánh không được chiên dầu, nướng trong lò hay trên than củi, cũng như bánh không được gói bằng lá hay bằng giấy. Vì vậy, bất cứ món ăn nào gì được gói trong lá đều không được chấp nhận như zongzi của Trung Quốc, bánh lá của Việt Nam, hay bánh gói lá ngô tamales của Mexico, binaki của Philippines...  Tuy nhiên, để tránh làm phật lòng nhiều bạn đọc gắn bó với di sản ẩm thực của nước họ, tôi có dành một chương cuối để nhắc đến các loại bánh quan trọng, nên để dành cho những kỳ tới. Chỉ cần nhắc đến chữ « ravioli », người ta lập tức nghĩ ngay đến nước Ý. Nhưng món ravioli kiểu Ý chỉ xuất hiện vào thời Trung Cổ, trong khi các loại bánh hấp có nhân thịt xuất phát từ châu Á từ thế kỷ thứ II sau Công nguyên, không ai biết rõ nguồn gốc cũng như người đã phát minh ra món này, theo các chuyên gia, đó là sự hình thành của hàng chục nghìn năm tiến hóa ẩm thực. Từ đâu lại xuất phát ý tưởng viết về muôn kiểu ravioli trên thế giới ? Tác giả người Pháp Guillemain d'Echon cho biết hành trình tìm kiếm các công thức chế biến món này xuất phát từ những kỷ niệm thời thơ ấu của ông : Vâng, chiếc ravioli đầu tiên mà tôi từng được ăn hồi còn nhỏ là của bà ngoại tôi. Ông cố tôi là người gốc Pháp từng đến lập nghiệp tại Trung Quốc vào đầu thế kỷ XX và bà ngoại tôi được sinh ra ở Thiên Tân. Do từ thời còn nhỏ, bà ngoại tôi được nuôi nấng bởi một bà vú nuôi người Hoa, cho nên khi lớn lên bà biết nói tiếng Hoa cũng như biết nấu một số món ăn Trung Quốc. Khi trở về Pháp, bà thường nấu cho gia đình các món canh thịt, bắp cải xào và thỉnh thoảng có cả món « jiaozi » (giáo tử) một loại bánh bột hấp nhân thịt, giống như sủi cảo miền bắc Trung Quốc (tiếng Hán là thủy giáo) hay bánh gyoza của Nhật Bản, còn thường được gọi là « bánh tai ». Tôi đã được dịp thưởng thức những chiếc bánh jiaozi này khi đến Trung Quốc lần đầu tiên vào năm 2011, để tìm lại dấu vết của bà ngoại tôi ở Thiên Tân, nơi bà từng sống thời thơ ấu, cũng như tìm lại được hương vị thơm ngon của những chiếc bánh (cả hấp lẫn chiên) trong các quán ăn gia đình nho nhỏ. Còn về công thức món ăn, tôi đã trở lại Trung Quốc sống vài ngày trong một gia đình người Hoa nhân dịp Tết Nguyên đán, vì đó chính là thời điểm các gia đình thường làm bánh « jiaozi ». Các chuyến đi làm cho tôi cảm thấy xúc động bồi hồi mỗi lần nhớ lại những kỷ niệm hay những món ăn của bà ngoại. Trong các cuộc hành trình nhằm thu thập công thức và khám phá hàng trăm biến thể của ravioli trên các châu lục, loại bánh hấp nào đã khiến tác giả cảm thấy thích thú ngạc nhiên nhất sau những chuyến đi xa. Ông Emmanuel Guillemain d'Echon cho biết : Đối với tôi, một trong những loại ravioli đẹp mắt tuyệt vời là loại « bánh hấp thạch tím » được làm từ khoai mỡ ở Trung Quốc. Lúc đầu tôi nghĩ có lẽ sẽ tìm thấy loại bánh hấp màu tím ở Châu Phi, Nam Mỹ, hoặc Philippines, nơi chuyên trồng các loại khoai môn hay khoai mỡ, có màu tím rực rỡ. Trong những chuyến đi xa nhằm mục đích viết sách, tôi ít bao giờ tìm thấy những điều mình đã nghĩ từ lâu ở trong đầu, nhưng lại bắt gặp rất nhiều thứ khác tuyệt vời không kém. Khi đến Trung Quốc, trong lúc tôi đang tìm kiếm một loại há cảo kiểu Quảng Đông, có lớp vỏ thật mỏng trong suốt như pha lê, tôi lại tìm thấy nhiều loại bánh hấp khác với nhiều màu, nhưng màu sắc đập mắt nhất chính là loại bánh hấp được làm từ bột khoai mỡ. Tuy đi xa với mục đích sưu tầm công thức nấu ăn để viết sách, tác giả không gặp đầu bếp hay chủ quán ăn mà lại tìm đến những gia đình dân thường, vì ông tin rằng các món ngon được phổ biến trong dân gian thường là những món ăn gia đình từ đời này sang đời nọ. Chính các bà nội trợ nắm trong tay bí quyết gia truyền. Họ nấu ravioli trong nhà hoặc cùng với các nhóm nhỏ, theo truy

  4. 5 Sept

    Góc vườn âm nhạc tưởng niệm giọng ca huyền thoại Dolly Parton

    Một mái tóc bồng bềnh vàng óng ánh như lúa mì trong nắng, làn son môi lúc nào cũng đỏ chói cho nụ cười thêm tươi rói. Vóc dáng của Dolly Parton càng trở nên quen thuộc với công chúng nhờ những bộ trang phục tươi sáng, lấp lánh. Gương mặt khả ái ấy giờ đây không còn nữa. Danh ca Dolly Parton đã qua đời vì bệnh ung thư hôm 25/08/2026 vừa qua tại Nashville, hưởng thọ 80 tuổi.  Được mệnh danh là nữ hoàng dòng nhạc đồng quê, Dolly Parton (1946-2026) sinh trưởng trong một gia đình đông con tại bang Tennessee, Hoa Kỳ. Từ năm lên 10, bà đã di biểu diễn trong các chương trình truyền hình và thường xuyên hát trên đài phát thanh địa phương ở Knoxville, Tennessee. Nhân một buổi biểu diễn, bà đã có cơ hội gặp ca sĩ kiêm tác giả nổi tiếng Johnny Cash. Chính ông là người đã khuyến khích Dolly, lúc bấy giờ mới 13 tuổi, nên đeo đuổi con đường âm nhạc. Năm 21 tuổi, DollyParton thu hút sự chú ý khi phát hành album đầu tay "Hello, I'm Dolly" (1967) do chính bà sáng tác và ghi âm. Đến đầu thập niên 1970, sự nghiệp ca hát của Dolly thực sự cất cánh với nhiều bài hát ăn khách như "Jolene, Here you come again, 9 to 5, Coat of Many Colors" và nhất là  "I will always love you", được viết hầu như cùng lúc với bài "Jolene". Ca khúc nhạc đồng quê kinh điển này được Dolly Parton thu âm lần đầu tiên vào năm 1974. Gần hai thập niên sau đó (1992), Whitney Houston thể hiện lại theo phong cách nhạc pop trữ tình cho bộ phim "The Bodyguard". Nhờ vậy, Dolly Parton trở thành tác giả của một trong những bài hát bán chạy nhất mọi thời đại. Trong vòng 60 năm sự nghiệp, Dolly Parton đã phát hành hơn 60 album phòng thu và sáng tác hơn 3.000 bài hát, trong đó có khoảng một phần ba đã được ghi âm, vì ngoài những bản nhạc ăn khách của mình, Dolly Parton còn sáng tác nhạc cho nhiều nghệ sĩ nổi tiếng khác (Merle Haggard, Kenny Rogers, Hank Williams Jr, Emmylou Harris hay Skeeter Davis .....) Với thời gian, Dolly Parton trở thành một trong những nghệ sĩ thành công nhất trong lịch sử dòng nhạc country với hơn 100 triệu đĩa hát được bán trên thị trường, 26 đĩa đơn đứng đầu bảng xếp hạng Billboard của Mỹ và 11 giải Grammy, nhưng bà vẫn là một gương mặt hiếm hoi, từ lúc còn sống, đã được đưa vào Đại sảnh Danh vọng Âm nhạc Đồng quê (1999) cũng như Đại sảnh Danh vọng Rock and Roll (2022) cho dù lúc đầu, Dolly Parton đã từ chối đề cử này vì bà nghĩ rằng mình không xứng đáng với một giải thưởng nhạc rock.  Album cuối cùng của Dolly Parton phát hành cuối năm 2023 mang tựa đề "Rockstar" (Ngôi sao nhạc rock) đánh dấu sự hợp tác của bà với những tên tuổi lẫy lừng nhất làng nhạc rock như Paul McCartney, Ringo Starr, Sting, Elton John, Stevie Nicks, Sheryl Crow hay Miley Cyrus .... Tầm ảnh hưởng của Dolly Parton không chỉ dừng lại ở âm nhạc, vì ngoài ca hát bà còn từng đóng phim, sản xuất show truyền hình. Nhờ tài kinh doanh, bà làm ăn thành đạt trong nhiều lãnh vực khác, nhưng quan trọng hơn nữa, bà là một nghệ sĩ có tam lòng nhân hậu. Dolly Parton thường hay tặng tiền cũng như vận động quyên góp nhằm giúp đỡ các gia đình nghèo ở Mỹ, giúp họ vượt qua khó khăn, hoạn nạn hay bị trắng tay sau những đợt thiên tai, đồng thời bà luôn hỗ trợ giáo dục thông qua chương trình "Imagination Library" tặng sách cho trẻ em trên thế giới. Có lẽ cũng vì thế trong mắt công chúng Mỹ, nữ hoàng dòng nhạc country không chỉ đơn thuần là một biểu tượng của làng giải trí. Dolly Parton còn là môt tâm hồn độc đáo, vĩ đại hơn cả đời thường, nhưng không bao giờ làm cho những người xung quanh mình cảm thấy nhỏ bé, đáng thương. Một con người vui tính, tốt bụng, đa tài mà vẫn khiêm tốn. Dù nay đã ra đi, nhưng Dolly vẫn để lại cho nước Mỹ một nguồn ánh sáng tưởng chừng bé tí, nào ngờ đâu vĩ đại, diệu kỳ.

  5. 28 Aug

    Các nhà văn nữ nổi tiếng nhờ viết truyện trinh thám

    Mỗi lần nhắc tới truyện trinh thám, hầu như mọi người đều nghĩ tới Agatha Christie. Với hơn 2 tỷ quyển sách được bán trong một thế kỷ qua, Agatha Christie là nhà văn được đọc nhiều nhất trên thế giới, chỉ sau văn hào Shakespeare. Tuy vậy, tác giả người Anh này không phải là phụ nữ đầu tiên thành danh nhờ sáng tác tiểu thuyết về các vụ án mạng bí ẩn, ly kỳ.   Trong làng văn học, ngòi bút đầu tiên được cho là đã khai sinh thể loại trinh thám chính là Edgar Allan Poe. Vào đầu những năm 1840, nhà văn người Mỹ đã đặt nền móng cho phương pháp điều tra hiện đại và lối suy luận logic thông qua ba tập truyện ngắn với nhân vật hiệp sĩ Auguste Dupin. Khoảng hai thập niên sau (1860), nhà văn người Pháp Émile Gaboriau gợi hứng từ cách viết của Poe để sáng tác truyện dài với vào năm 1866 viên thanh tra Lecoq trong tác phẩm « L'Affaire Lerouge » (Vụ án goá phụ Lerouge), ông trở thành cha đẻ của tiểu thuyết trinh thám tiếng Pháp. Chính viên thanh tra Lecoq đã gợi hứng cho bác sĩ Arthur Conan Doyle sáng chế ra thám tử Sherlock Holmes và  nhân vật này đã giúp cho truyện trinh thám trở nên nổi tiếng trên khắp thế giới, từ cuối những năm 1880. Về phía các nhà văn nữ, Agatha Christie đã cho ra mắt độc giả quyển tiểu thuyết đầu tiên (Vụ án bí ẩn ở Styles) vào năm 1920. Có thể nói là cả hai nhân vật hư cấu Hercule Poirot và Miss Marple đều đã ra đời nhiều thập niên sau hai thám tử Lecoq cũng như Sherlock Holmes. Thật ra, hầu như vào cùng một thời với Conan Doyle, đã có một số nhà văn nữ nổi tiếng nhờ viết truyện trinh thám, chỉ có điều là tên tuổi của họ không được lưu truyền cho đến tận ngày nay. Hơn nữa, Agatha Christie tựa như một cây đại thụ trong làng văn học, cái bóng quá lớn của bà che khuất hẳn tác phẩm của những ngòi bút nữ đi trước. Có lẽ để bù đắp phần nào thiếu sót này, tác giả người Pháp François Rivière gần đây đã cho phát hành quyển tiểu luận « De l'Assassinat considéré comme une affaire de Femmes », tạm dịch « Khi phụ nữ quan tâm đến các vụ án mạng », nhà xuất bản Calmann-Lévy. Cách đây vài năm, ông François Rivière đã viết một quyển tiểu sử khá đầy đủ về nữ hoàng trinh thám Agatha Christie. Lần này, quyển tiểu luận dành cho các nhà văn nữ (chủ yếu là các tác giả Anh-Mỹ) từng đóng góp khá nhiều cho thời kỳ hoàng kim của tiểu thuyết trinh thám kể từ giữa thế kỷ XIX. Những ngòi bút tiên phong này đã mở đường sau đó cho nhiều văn nữ khác thành công trong thể loại hồi hộp trinh thám cũng như điều tra hình sự. Trong số này, phải kể đến các tác giả người Mỹ như Patricia Highsmith tác giả của các tập truyện xung quanh nhân vật Mr. Ripley (1950) hay Patricia Cornwell (1990). Về phía Anh, có các ngòi bút như P.D James (1960) hay Ruth Rendell (1970). Còn tại Pháp, có các nhà văn nữ như Danielle Thiéry, Karine Giebel, Céline Denjean và nhất là Fred Vargas, nổi tiếng từ những năm 1990 trở đi.  Được xem như cánh chim đầu đàn dòng truyện trinh thám của Pháp, nhà văn Fred Vargas nổi bật nhờ lối viết đậm chất văn chương, cuộc điều tra vận dụng nhiều suy nghĩ và thường không có cảnh máu me, chết chóc. Xây dựng xung quanh viên thanh tra Adamsberg, tiểu thuyết của Fred Vargas đã nhiều lần được chuyển thể thành phim truyền hình. Nội dung tác phẩm ít tập trung vào các màn săn lùng hồi hộp, rượt đuổi nghẹt thở mà lại tạo ra một bầu không khí bí ẩn bao trùm, kết nối những chi tiết tầm thường, tưởng chừng nhỏ nhặt rời rạc để rồi dẫn đến cái kết thú vị bất ngờ. Về phần các nữ tác giả tiên phong trong việc viết truyện trinh thám vào giữa thế kỷ XIX, tác giả quyển tiểu luận François Rivière, nhân dịp trả lời phỏng vấn RFI ban tiếng Pháp, cho biết đã có khá nhiều ngòi bút nữ từ giai đoạn khai sinh tiểu thuyết, nhưng sau đó họ lại bị lãng quên dần dần, tác phẩm ít còn được tái bản : « Một trong những gương mặt đã khai sinh dòng tiểu thuyết trinh thám ở Mỹ chính là nhà văn Anna Katharine Green. Sinh trưởng trong một gia đình khá giả, thân phụ là một luật sư chuyên về các vụ án hình sự ở New York, cho nên từ thời thơ ấu, nhà văn này đã chịu nhiều ảnh hưởng từ phía gia đình, hay ít ra cô được nghe ở trong nhà mỗi lần bố cô bàn về công việc. Cô Anna Katharine Green đã có ý tưởng khởi nghiệp văn học bằng cách viết những cuốn tiểu thuyết kết hợp điều tra vụ án và phiên toà xét xử. Nhân vật chính không phải là thám tử tư, mà lại là một cảnh sát thực thụ ở thành phố New York, dựa vào điều tra để lần tìm manh mối nhằm giải quyết các vụ án hình sự. Được mệnh danh là người đã khai sinh tiểu thuyết trinh thám Mỹ, nhà văn này đã viết hơn 40 cuốn tiểu thuyết từ năm 1878 đến năm 1916. Khoảng một thập niên trước Anna Katharine, đã có một nhà văn nữ người Mỹ khác là Metta Victor (tên thật là Victoria Fuller), từng cho đăng nhiều kỳ trên báo các tác phẩm trinh thám trong đó có "The Dead Letter" (Lá thư gây chết chóc). Đây là một trong những tác phẩm trinh thám sớm nhất trong lịch sử văn học hiện đại. Cho nên cả hai gương mặt này đều được công nhận là những phụ nữ đầu tiên viết tiểu thuyết thuộc thể loại này. Cách dựng truyện của họ đều đã ảnh hưởng đến các ngòi bút nữ thế hệ sau, kể cả Agatha Christie. Mãi đến hơn bốn thập niên sau, Agatha Christie mới được đăng quang thành Nữ hoàng tiểu thuyết trinh thám nhờ xuất bản những cuốn sách ăn khách trên toàn cầu ». So với dòng tiểu thuyết tại Pháp, truyện trinh thám đã phát triển khá sớm và khá nhanh tại vương quốc Anh. Từ văn phong cho đến nội dung cốt truyện, mỗi nữ tác giả đều có một nét riêng. Vậy thì đâu là điểm chung giữa các ngòi bút nữ nổi tiếng như Agatha Christie, Ruth Rendell hay P.D James ? Ông François Rivière nhận xét : «Trước hết, những phụ nữ này không có một cuộc sống dễ dàng trước khi họ trở thành những tác giả ăn khách, thành công trên văn đàn. Agatha Christie từng gặp khá nhiều vấn đề trong gia đình, cuộc sống vợ chồng thiếu hạnh phúc, nhưng có lẽ cũng vì thế mà tìm lối thoát qua chuyện sáng tác viết văn. Về phần mình, Ruth Rendell xuất thân từ một gia đình nghèo khó, không phải lúc nào cũng dư dã đủ ănd và nhà văn này đã phải chịu khó làm đủ mọi việc trong một thời gian dài để kiếm sống, trước khi thành công nhờ xuất bản những cuốn tiểu thuyết đầu tiên. Còn P.D James cũng đă trải qua nhiều năm tháng để chăm sóc người chồng, do ông bị mắc bệnh tâm thần. Có thể nói là đối với các ngòi bút này, sáng tác là một cách để « thoát ly » trong tâm trí, để quên đi phần nào gia cảnh khó khăn. Ít ra đó phần nào là động lực thúc đẩy các ngòi bút này sáng tác đều đặn và dồi dào như vậy. Một điểm chung khác là các ngòi bút này thường xuyên quan tâm đến những vụ án có thật và những phiên tòa gây chấn động dư luận. Họ luôn nhìn vụ việc từ góc độ của một người phụ nữ, và thường tự đặt mình vào tư thế của kẻ bị tình nghi hay bị cho là đã phạm tội. Tiểu thuyết của các ngòi bút này thường phản ánh bối cảnh xã hội và đồng thời phân tích khá sâu sắc về tâm lý con người ». Trong quyển tiểu luận của mình, ngoài việc đề cập đến các ngòi bút nữ có sự nghiệp sáng tác nhiều năm trước Agatha Christie, tác giả François Rivière còn dành một chương quan trọng cho ngòi bút Ruth Rendell, mà ông cho là một trong những gương mặt đáng chú ý nhất dòng tiểu thuyết trinh thám thế kỷ XX : « Đúng vậy, Ruth Rendell là một ngòi bút sáng tác khá sung túc đều đặn, với hơn 60 quyển truyện, kể cả tác phẩm đăng với tên thật hay đăng với bút danh. Phải nói rằng bà bắt đầu sự nghiệp sáng tác (vào năm 1964) một cách khá ngẫu nhiên, qua việc tạo ra nhân vật Wexford, một viên cảnh sát vùng tỉnh lẻ chuyên điều tra về các vụ án. Nhân vật này có đôi nét khác biệt so với các viên thanh tra nổi tiếng, các thám tử kinh điển. Một thập niên sau ngày xuất bản cuốn tiểu thuyết trinh thám đầu tay, bà lại cho ra mắt độc giả cuốn tiểu thuyết với tựa đề « Vera va mourir » (Vera sẽ chết), tựa đề tiếng Anh là « A

  6. 22 Aug

    Nhạc Nhật lời Việt : Masahiko Kondō, khúc ca chiều tà tan vỡ tình ta

    Thập niên 1980 được xem là thời kỳ hoàng kim của các thần tượng nhạc pop Nhật Bản. Trong số này, có ca sĩ kiêm diễn viên, Masahiko Kondō đồng thời ông là một tay đua xe chuyên nghiệp nổi tiếng. Bài hát gắn liền với tên tuổi của ông chính là « Yūyake no Uta » (Khúc ca chiều tà), còn được gọi là « Thiên thiên khuyết ca ». Trong chương trình tuần này, có liên khúc Tịch dương chi ca với nhạc phẩm Hạnh phúc nơi nào. Thập niên 1980 được xem là thời kỳ hoàng kim của các thần tượng nhạc pop Nhật Bản. Trong số này, có ca sĩ kiêm diễn viên, Masahiko Kondō đồng thời ông là một tay đua xe chuyên nghiệp nổi tiếng. Bài hát gắn liền với tên tuổi của ông chính là « Yūyake no Uta » (Khúc ca chiều tà), còn được gọi là « Thiên thiên khuyết ca ». Trong chương trình tuần này, có liên khúc Tịch dương chi ca với nhạc phẩm Hạnh phúc nơi nào. Sinh trưởng (1964) tại Yokohama, tỉnh Kanagawa, Masahiko Kondō khởi đầu sự nghiệp ca hát và diễn xuất vào cuối thập niên 1970, thời ông gia nhập công ty Johnny & Associates, một trong những tập đoàn giải trí quan trọng của Nhật Bản.  Thời niên thiếu, ông là thành viên của bộ ba Tanokin Trio (cùng với hai ngôi sao khác là Toshihiko Tahara và Yoshio Nomura). Nhóm này đã gặt hái được khá nhiều thành công nhờ phim truyền hình và show ca nhạc. Vào năm 17 tuổi, Masahiko Kondō rời khỏi nhóm và chính thức ra mắt đĩa đơn solo đầu tiên (Sneaker Blues). Ca khúc này ngay lập tức đứng đầu bảng xếp hạng Oricon, ông trở thành nghệ sĩ trẻ tuổi nhất giành lấy vị trí quán quân ngay từ khi ra mắt đĩa hát đầu tay. Trong suốt thập niên 1980, Masahiko Kondō  ghi âm hàng loạt bản hit đình đám như « Gingiragin ni Kuchiganai » và « Foolish ». Nhưng khi nhắc đến những giai điệu ăn khách của giọng ca này từng được chuyển sang lời Việt, tác phẩm nổi tiếng và có sức ảnh hưởng sâu rộng nhất chính là ca khúc « Yūyake no Uta » (Khúc ca chiều tà) do Koji Makaino và Akira Otsu sáng tác vào năm 1989. Ngoài xứ hoa anh đào, giai điệu « Yūyake no Uta » còn thành công trên thị trường châu Á nhờ được phóng tác nhiều lần sang tiếng Hoa, lập kỷ lục số bán qua hai phiên bản nhạc pop tiếng Quảng Đông tại Hồng Kông (Cantopop). Đầu tiên là nhạc phẩm « Thiên thiên khuyết ca » của Trần Tuệ Nhàn và kế đến nữa là « Tịch dương chi ca » của Mai Diễm Phương.  Năm 1988, vào lúc Trần Tuệ Nhàn chuẩn bị giã từ làng nhạc, hãngđĩa PolyGram đã cho phát hành một số ca khúc « chia tay » người hâm mộ, trong đó có nhạc phẩm « Thiên thiên khuyết ca » (Muôn ngàn bài hát) do tác giả Lâm Chấn Cường đặt lời tiếng Quảng Đông và hoàn chỉnh vào đầu năm 1989. Cảm xúc trầm lắng u buồn, cùng giai điệu từ biệt vấn vương đã giúp bài hát này thành công nhanh chóng trên thị trường.  Còn trong trường hợp của Mai Diễm Phương, vào thời ấy, cô đang quay tập ba của bộ phim « Bản sắc anh hùng » (A better tomorrow III) và do Mai Diễm Phương lúc bấy giờ có quan hệ tình cảm với nam danh ca Nhật Bản Masahiko Kondō (người ghi âm bản nhạc gốc), cho nên cô mới đề nghị lấy bài hát này làm ca khúc chủ đề cho bộ phim. Tác giả Trần Thiếu Kỳ đã viết lại thành nhạc phẩm « Tịch dương chi ca » (Bài ca hoàng hôn) và chỉnh sửa lời bài hát sao cho phù hợp với cốt truyện.  Dù có cùng một giai điệu gốc và được phát hành hầu như vào cùng một thời điểm, nhưng cả hai bản cover « Thiên thiên khuyết ca » của Trần Tuệ Nhàn (Priscilla Chan) và « Tịch dương chi ca » của Mai Diễm Phương (Anita Mui) đều trở thành những nhạc phẩm kinh điển của dòng nhạc pop tiếng Quảng Đông. Một chi tiết thú vị khác là nam ca sĩ Trương Quốc Vinh (Leslie Cheung) cũng từng hát lại bài này, cho dù anh không xuất hiện trong tập phim thứ 3 của  « Bản sắc anh hùng », bên cạnh Mai Diễm Phương, Châu Nhuận Phát và Lương Gia Huy. Khi du nhập vào Việt Nam vào đầu thập niên 1990, ca khúc đã được đặt thêm nhiều lời Việt khác nhau. Bài đầu tiên có tựa đề « Tan vỡ » là của tác giả Minh Tâm do Cẩm Ly & Tài Linh thể hiện. Lời thứ nhì « Chuyện tình ta tan vỡ » là của tác giả Nhật Ngân. Đây là phiên bản lời Việt quen thuộc nhất với người hâm mộ, từng được nhiều giọng ca nổi tiếng như Mỹ Tâm, Quang Hà, Mai Tiến Dũng và gần đây hơn nữa là Hà Nhi và Quốc Thiên đều có hát lại. Phiên bản thứ ba « Chỉ có em trong tim » là của tác giả Khúc Lan, qua phần trình bày của Ý Nhi và Kenny Thái, dựa theo phiên bản tiếng Anh « There's only you in my heart ». Trong bản gốc, Masahiko Kondō nhìn lại những mối tình sâu đậm đã qua cũng như những thăng trầm trong cuộc đời. Cảnh vật trong ánh tịch dương năm nào vẫn chưa thay đổi, chỉ có tâm hồn khi vắng một người, mới càng cảm thấy đơn côi.  Hoàng hôn vắng, tình đã xa Bốn mùa thu đông xuân hạ Khi xưa mát dịu chiều tà Nay sao rát bỏng làn da Tưởng chừng nắng còn trên má Ngờ đâu ướt đẫm lệ nhòa

  7. 21 Aug

    Từ Bangkok đến Paris : Hành trình của trang phục hoàng cung Thái Lan

    Dưới dấu ấn của hoàng hậu Sirikit và sự hợp tác với nhà thiết kế Pháp Pierre Balmain, trang phục Thái Lan được nâng tầm thành thời trang cao cấp và trở thành biểu tượng văn hóa trong các hoạt động ngoại giao quốc tế. Gần 200 bộ trang phục và hiện vật hoàng gia Thái Lan được giới thiệu trong triển lãm “Thời trang hoàng cung” tại Bảo tàng Nghệ Thuật Trang trí Paris từ ngày 13/05 đến 01/11/2026. Phần lớn hiện vật đến từ Bảo tàng Dệt may Hoàng hậu Sirikit (QSMT) tại Bangkok, trong đó có khoảng 100 bộ do Pierre Balmain thiết kế và khoảng 40 bộ từng được hoàng hậu Sirikit sử dụng. Ngoài ra, nhiều hiện vật, bản vẽ, tư liệu lưu trữ từ Nhà Balmain, Lesage và các đối tác cũng góp phần làm nổi bật sự kết hợp giữa nghệ thuật thời trang Pháp, kỹ thuật thủ công tinh xảo và di sản văn hóa hoàng gia Thái Lan. Thời trang hoàng gia Thái Lan đã phát triển như thế nào từ thập niên 1960 ? RFI Tiếng Việt phỏng vấn bà Béatrice Quette, giám tuyển triển lãm, phụ trách bộ sưu tập châu Á và Hồi giáo tại Bảo tàng Nghệ thuật Trang trí (Musée des Arts décoratifs). RFI : Gần 200 trăm bộ trang phục và phụ kiện đặc sắc từ cung đình Thái Lan được trưng bày tại Bảo tàng Nghệ thuật Trang trí trong triển lãm “Thời trang hoàng cung”. Tựa đề giàu ý nghĩa này muốn nhấn mạnh điều gì ? Giữa “thời trang” và “hoàng cung” có mối quan hệ như thế nào ? Béatrice Quette : “Thời trang hoàng cung” là tựa đề chính của triển lãm, những cũng có tựa đề phụ là “Thời trang cao cấp và truyền thống tại hoàng cung Thái Lan” giúp khám phá mối quan hệ giữa thời trang và hoàng gia thông qua vai trò của hoàng hậu Sirikit trong việc khôi phục trang phục truyền thống Thái Lan. Bà muốn xây dựng hình ảnh một hoàng hậu trẻ trung, hiện đại nhưng vẫn mang đậm dấu ấn dân tộc trong chuyến công du cùng quốc vương Rama IX tới 14 quốc gia châu Âu và Hoa Kỳ vào năm 1960. Để đáp ứng yêu cầu vừa phù hợp với nghi thức ngoại giao quốc tế, vừa thể hiện bản sắc Thái Lan, từ những năm 1950, hoàng hậu Sirikit đã bắt đầu nghiên cứu và phục hồi trang phục cung đình truyền thống, vốn bị mai một từ đầu thế kỷ XX. Bà tìm hiểu tư liệu lưu trữ, hình ảnh về các hoàng hậu, công chúa từ cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX, đặc biệt dưới triều vua Rama V (ông nội của vua Rama IX), sau đó kết hợp những yếu tố truyền thống với kỹ thuật may đo hiện đại để tạo ra trang phục mang phong cách vừa thanh lịch, vừa thể hiện rõ bản sắc Thái Lan. Mục tiêu của bà là xây dựng một biểu tượng trang phục quốc gia tương tự như kimono của Nhật Bản hay sari của Ấn Độ. Nội dung triển lãm được xây dựng theo hai hướng chính. Thứ nhất, thời trang được nhìn nhận như một phương tiện ngoại giao văn hóa, hay “quyền lực mềm”, giúp quảng bá hình ảnh và bản sắc Thái Lan. Thứ hai, triển lãm giới thiệu quá trình hình thành tám kiểu trang phục chính thức của hoàng hậu Sirikit, đồng thời làm nổi bật sự kết hợp giữa thời trang cao cấp phương Tây và nghệ thuật truyền thống Thái Lan thông qua mối quan hệ hợp tác lâu dài giữa bà và nhà thiết kế người Pháp Pierre Balmain. RFI : Có thể nhận thấy sự thanh lịch và tinh tế của thời trang Pháp trong các trang phục hoàng gia Thái Lan. Đồng thời, trang phục truyền thống Thái Lan cùng các kỹ thuật dệt và nhuộm thủ công cũng đã vượt ra ngoài biên giới quốc gia, được biết đến trong giới thời trang cao cấp của Pháp. Như bà vừa đề cập một phần, người có vai trò quyết định trong quá trình đó chính là hoàng hậu Sirikit. Bà đã góp phần như thế nào vào sự phát triển và quảng bá thời trang Thái Lan trên trường quốc tế ? Béatrice Quette : Hoàng hậu Sirikit đóng vai trò vô cùng quan trọng. Bà rất yêu thích thời trang, nhưng không đơn thuần chỉ là mặc những trang phục đẹp mà còn xem thời trang là công cụ để giữ gìn văn hóa. Bên cạnh những chuyến công du ngoại giao tới phương Tây, bà thường xuyên đi khắp đất nước để tìm hiểu đời sống của người dân. Qua những chuyến đi này, bà nhận thấy tại nhiều ngôi làng, đôi khi là những vùng nông thôn còn khó khăn, các nghề thủ công như dệt vải, đan lát và nhiều nghề truyền thống khác đã tạo thêm nguồn thu nhập cho người dân, đặc biệt là phụ nữ, bên cạnh công việc nông nghiệp. Ban đầu, hoàng hậu Sirikit đặc biệt quan tâm đến nghề dệt, nhất là kỹ thuật Ikat, hay còn gọi là Mat mii trong tiếng Thái. Bà nhận thấy mỗi vùng của Thái Lan, từ miền Nam, miền Đông đến Đông Bắc, đều có những kỹ thuật dệt đặc trưng với giá trị nghệ thuật và trình độ thủ công cao. Sau đó, bà tiếp tục chú ý đến nghề dệt gấm, loại hình dệt kết hợp các sợi vàng hoặc bạc và chịu ảnh hưởng từ truyền thống dệt của Ấn Độ. Để hỗ trợ các nghệ nhân, ban đầu bà mua các sản phẩm thủ công, sau đó thành lập Quỹ SUPPORT vào năm 1976 nhằm đào tạo, tư vấn và hỗ trợ phát triển nghề truyền thống. Quỹ không chỉ giúp các làng nghề hiện có mà còn khuyến khích những địa phương chưa có truyền thống thủ công phát triển nghề mới để tạo thêm sinh kế và bảo tồn di sản. Theo bà, nếu trang phục cung đình truyền thống biến mất thì các kỹ thuật dệt quý giá cũng sẽ dần mai một. Nhờ những nỗ lực đó, hoàng hậu Sirikit góp phần phục hồi và hiện đại hóa trang phục cung đình, đồng thời tạo sinh kế cho người dân. Bà cũng hỗ trợ nhiều nghề thủ công khác như chế tác kim hoàn, khảm kim loại, nhuộm đen bạc, vẽ quạt và đan lát bằng tre hoặc cỏ Yan Lipao. Đặc biệt, bà kết hợp các kỹ thuật truyền thống này với thiết kế phụ kiện thời trang, qua đó nâng cao giá trị và quảng bá sự tinh xảo của nghề thủ công Thái Lan đến công chúng. RFI : Có thể thấy là truyền thống này vẫn đang được hoàng gia Thái Lan tiếp nối ? Béatrice Quette : Di sản của hoàng hậu Sirikit vẫn được tiếp nối thông qua công chúa Sirivannavari, người tích cực bảo tồn và phát triển thời trang truyền thống Thái Lan. Được đào tạo về thiết kế thời trang tại Anh và Trường Chambre Syndicale ở Paris, công chúa không chỉ thiết kế mà còn trực tiếp làm việc với các nghệ nhân để cải tiến kỹ thuật dệt, điều chỉnh khung cửi, cập nhật màu sắc và mẫu mã, giúp sản phẩm truyền thống đáp ứng nhu cầu hiện đại nhưng vẫn giữ bản sắc văn hóa. Công chúa Sirivannavari cũng tiếp tục quảng bá tám kiểu trang phục truyền thống Thái Lan do hoàng hậu Sirikit khởi xướng, tạo nên hệ thống trang phục phù hợp với nhiều cấp độ nghi lễ, từ những dịp thông thường đến những sự kiện long trọng, mang đậm bản sắc dân tộc. Đồng thời, công chúa là người thúc đẩy hồ sơ đề cử bộ trang phục truyền thống Chud Thai lên UNESCO để được công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại. Hiện hồ sơ vẫn đang chờ UNESCO xem xét. RFI : Giữa thời trang cao cấp Pháp, đặc biệt là giữa nhà tạo mẫu Pierre Balmain, và triều đình Thái Lan có mối liên hệ đặc biệt qua nhiều thập kỷ. Sự hợp tác này đã được giới thiệu như thế nào trong triển lãm ? Béatrice Quette : Hoàng hậu Sirikit giữ vai trò đặc biệt trong lịch sử giao lưu văn hóa giữa Pháp và Thái Lan, dù câu chuyện này chưa được nhiều người biết đến ngoài giới nghiên cứu về hoàng gia Thái Lan và nhà mốt Balmain. Tôi biết được thêm rất nhiều về mối quan hệ này khi làm việc với các đồng nghiệp Thái Lan. Mối quan hệ đặc biệt đó được hình thành từ cuộc gặp đầu tiên giữa bà và nhà thiết kế Pierre Balmain vào năm 1960, khi ông quá cảnh tại Bangkok trên đường từ Úc trở về. Thời điểm đó, hoàng hậu đang tìm kiếm một nhà thiết kế Pháp để chuẩn bị tủ trang phục phục vụ các chuyến công du ngoại giao. Cuộc gặp nhanh chóng mở đầu cho sự hợp tác lâu dài và một tình bạn bền chặt giữa hai người, kéo dài đến khi Pierre Balmain qua đời. Sau đó, Eric Mortensen, trợ lý và người kế nhiệm Balmain, tiếp tục đảm nhận việc thiết kế trang phục cho hoàng hậu, giúp duy trì mối liên kết giữa bà với nhà mốt Balmain. Đây là trường hợp hiếm có trong lịch sử thời trang hoàng gia, bởi vì cho dù nhiều thành viên h

  8. 15 Aug

    Nhạc Pháp lời Việt : Lại gần hôn anh, phiên bản tiếng Pháp đầu tiên là của ai ?

    Cùng với "Un canto a Galicia", nhạc phẩm "Abrázame" là giai điệu đã giúp cho nam danh ca Julio Iglesias chinh phục thị trường quốc tế. Được trích từ album phòng thu thứ 9 (El Amor / Tình yêu) phát hành vào năm 1975, bài hát này từng được dịch sang 12 ngôn ngữ khác nhau, kể cả tiếng Anh, Hy Lạp hay tiếng Nhật. Còn trong tiếng Việt, giai điệu này nghe rất quen thuộc với tựa đề "Lại gần hôn anh".  Khi chấp bút đặt ca từ lời Việt lãng man trữ tình, nồng nàn tha thiết, nhạc sĩ Phạm Duy chủ yếu dựa vào phiên bản tiếng Pháp "Viens m'embrasser" do Michel Jourdan sáng tác vào năm 1981. Trong nguyên tác, bài hát tiếng Tây Ban Nha do Rafael Ferro soạn nhạc, Julio viết lời. Thế nhưng, bản phóng tác tiếng Pháp đầu tiên không phải do Julio Iglelias trình bày mà lại do một gương mặt trứ danh khác ghi âm : đó là nam danh ca Richard Anthony.  Sinh trưởng tại Ai Cập trong một gia đình giàu có người gốc Syria, Richard Anthony thành danh vài năm trước thế hệ thần tượng Françoise Hardy, Christophe và Johnny Hallyday. Theo lời kể của Sylvie Vartan, nhạc phẩm Nouvelle Vague (Làn sóng mới) dịch từ ca khúc "Three Cool Cats" của cặp bài trùng Jerry Leiber và Mike Stoller, đã  khởi xướng trào lưu phóng tác các bản nhạc rock và twist ăn khách tiếng Anh, tạo ra phong trào nhạc trẻ tại Pháp đầu thập niên 1960.  Đến những năm 1970, Richard Anthony không còn hát nhạc trẻ mà lại chuyển sang hát nhạc tình. Khi không bận lưu diễn, ông thường về miền nam Tây Ban Nha nghỉ ngơi, nơi gia đình ông có một biệt thự sang trọng tại trạm nghỉ mát Marbella. Cho đến một ngày kia, ông tình cờ được nghe trên đài phát thanh bài hát "Abrazame" của Julio. Do rất thích giai điệu này, cho nên ông mới gọi điện về Paris yêu cầu nhóm tác giả nổi tiếng nhất thời bấy giờ chuyển bài hát của Julio Iglesias sang tiếng Pháp. Người đầu tiên nhận lời chính là Pierre Delanoë, ông từng thành công nhờ viết lời bài hát "La Maritza" (Dòng sông tuổi nhỏ) cho Sylvie Vartan và "Et si tu n'existais pas" (Nếu đời này vắng anh / Một mai không có anh) cho Joe Dassin. Khi chấp bút viết lời tiếng Pháp, Pierre Delanoë chuyển bài "Abrázame" thành nhạc phẩm "Embrasse Moi" (Hãy hôn anh). Cách đặt lời của Pierre Delanoë tôn trọng ngữ pháp của bản nhạc gốc, trong cách dùng thức mệnh lệnh một cách trực tiếp. Richard Anthony thu âm bài này vào năm 1977, tức 4 năm trước phiên bản tiếng Pháp của Julio Iglesias.  Về phần nam danh ca Tây Ban Nha, nhiều năm  sau khi thành công với album phòng thu thứ 9, Julio mới bắt tay thực hiện tuyển tập chọn lọc "Fidèle" (Chung tình) dành cho thị trường Pháp ngữ. Lần này, Julio không dùng bản phóng tác có sẵn của Delanoë mà lại nhờ nhóm sáng tác Claude Lemesle và Michel Jourdan chuyển sang tiếng Pháp các bài hát ăn khách của mình. Album tiếng Pháp của Julio được phát hành vào năm 1981, bao gồm nhiều bản nhạc nổi tiếng như Khúc tình dối gian (Les dérobades) hay Tình yêu còn mãi (Un jour tu ris, un jour tu pleures). Riêng nhạc phẩm "Abrázame" được Michel Jourdan chuyển thành bài hát "Viens m'embrasser", tạo ra một khoảng cách nhất định giữa hai nhân vật chính, nếu muốn hôn nhau thì phải xích lại gần bên người tình. Có thể nói, phiên bản phóng tác tiếng Pháp đầu tiên là của Pierre  Delanoë do Richard Anthony trình bày, còn phiên bản thứ nhì là của Michel Jourdan do chính Julio ghi âm. Cả hai bài hát đều vô cùng trữ tình ướt át, nhưng bản ghi âm tiếng Pháp của Julio Iglesias vẫn quen thuộc hơn với giới yêu nhạc. Trong cả hai phiên bản tiếng Pháp, "Lại gần hôn anh" tựa như lời khẩn cầu tha thiết của một người tình khi phải đối mặt với cảnh chia ly, chỉ mong được ôm trong vòng tay như thuở ban đầu, một cách để tự dối mình khi mai này đành phải mất nhau, nhưng miễn sao làm vơi nhẹ nỗi đau, cho hồn quên nhức nhối, cho tim bớt nghẹn ngào.

Ratings & Reviews

5
out of 5
4 Ratings

About

Sinh hoạt văn hóa, nghệ thuật, đặc biệt là tại Pháp và Việt Nam

More From RFI Tiếng Việt

You Might Also Like