Tạp chí xã hội

Những vấn đề xã hội Việt Nam và trên thế giới qua lăng kính RFI

  1. 5 days ago

    « Viện Quý tộc » : Cuộc cải tổ kết thúc chế độ quý tộc cha truyền con nối trong Thượng Viện Anh

    Trong tháng 5/2026, chính phủ Anh thực hiện nốt cuộc cải cách Viện Quý tộc (House of Lords), đưa hết các nhà quý tộc có quyền kế vị ra khỏi cơ quan lập pháp tương đương Thượng nghị viện, chấm dứt bảy thế kỷ truyền thống chính trị - văn hóa Anh. Câu chuyện này có ý nghĩa ra sao và cuộc cải cách do đảng Lao động Anh thực hiện có thực sự dân chủ hóa hệ thống lập pháp ở Vương quốc Anh ? Mời quý vị theo dõi phần giải thích từ thông tín viên Nguyễn Giang tại Luân Đôn. ----- ***** ----- RFI Tiếng Việt : Thân chào anh Nguyễn Gianh. Đầu tiên xin anh cho biết dự án « Cải tổ Viện Quý tộc Vương quốc Anh » gồm những nét chính nào ? TTV. Nguyễn Giang : Vâng, đầu tiên tôi xin nói đây là cuộc cải tổ lần thứ 2 mà bộ máy chính trị Anh thực hiện để xóa dần đi di sản thời phong kiến có từ năm 1066 ở Anh. Cả hai lần đều là sáng kiến của đảng Lao động Anh (Labour). Lần trước sau khi ông Tony Blair lên làm thủ tướng nhờ phe Lao động thắng cử năm 1997, thì tới năm 1999, chính phủ và Hạ viện Anh đã thông qua Luật Cải tổ House of Lords lần một, đuổi ra khỏi Viện Quý tộc 759 vị quý tộc có quyền kế vị nhiều đời và chỉ giữ lại 92 vị. Nói ngắn gọn thì họ thuộc về 600 dòng họ quý tộc thực thụ còn lại ở Anh. Đây là nhóm có quyền kế vị (hereditary nobility), tức là đời cha chết đi thì các tước như công tước, hầu tước, bá tước, nam tước, đi kèm lâu đài, điền sản họ sở hữu từ nhiều thế kỷ được truyền lại cho con trai cả (theo luật ưu tiên trưởng nam-primogeniture), và những người kế vị này sẽ bầu chọn lẫn nhau để nghiễm nhiên thừa hưởng ghế trong The House of Lords, như một đặc quyền. Năm nay, chính phủ của đảng Lao động do Sir Keir Starmer làm thủ tướng, thực hiện cam kết tranh cử là cải tổ Viện Quý tộc. Hạ viện Anh đã thông qua luật hồi tháng Ba, xóa vĩnh viễn quyền kế vị các ghế dành cho quý tộc trong House of Lords. Thế nhưng, để xoa dịu sự phản đối của 92 vị còn lại, thì Văn phòng Phủ Thủ tướng đồng ý để 26 người quay lại giữ ghế trong Viện Quý tộc nhưng phải đổi áo, nhận bổ nhiệm là Lord một đời, do các đảng chính trị bổ nhiệm vào. Họ sẽ ở đó cho tới cuối đời và sau đó thì chỉ có các Thượng nghị sĩ (life peers) còn hoạt động trong Viện Quý tộc. Hiện con số những người không phải quý tộc có quyền kế vị là chừng 800, cũng rất đông. Dư luận Anh lâu nay ủng hộ việc cả tổ House of Lords. Một khảo sát do Đại học University College London (UCL) thực hiện giữa năm 2025 cho thấy 60% người dân muốn loại các vị quý tộc cha truyền con nối ra khỏi cơ quan này và chỉ có 22% không ủng hộ cải cách. Điều đáng nói nữa là 79% ủng hộ việc tước quyền của Thủ tướng Anh bổ nhiệm người thân tín vào House of Lords. Ví dụ như Lord Peter Mandelson, được đảng Lao Động và thủ tướng Keir Starmer đề cử, và có tước quý tộc một đời. Nay ông ta dính vào tai tiếng Epstein ở Mỹ, và bị cảnh sát điều tra, nhưng tước Lordship của ông ta vẫn còn đó.  Những chuyện như vậy khiến dư luận bất bình. Những người chỉ trích nói đây là một dạng đặc quyền, đặc lợi được trao tặng trọn đời nhờ thân quen. Anh có thể giải thích thêm về hai loại quý tộc, nhóm có quyền kế vị (hereditary peers) và nhóm chỉ nhận tước phong một đời (life peers) được không ? Cho tới nay chế độ phong kiến ở Anh để lại chừng 600 gia đình nhà quý tộc thực thụ, sở hữu chừng 800 tước hiệu, công tước, hầu tước, bá tước, nam tước. Số gia tộc ít hơn số tước hiệu vì một số nhà sở hữu cả tước công và tước hầu, tước bá, theo lãnh địa mà họ làm chủ. Ví dụ Công tước xứ Norfolk (Edward Fitzalan-Howard) đồng thời là bá tước xứ Surrey (Earl of Surrey). Hai vùng đất này ở hai chỗ khác nhau. Số quý tộc này không tăng, không giảm trong nhiều thế kỷ qua vì được truyền từ đời này sang đời kia, và theo nguyên tắc ưu tiên trưởng nam, nên con trai cả sẽ thừa hưởng tước vị đó chứ tước vị không được chia ra cho các con. Riêng quý tộc Scotland trong một số trường hợp được truyền lại tước vị cho con gái cả, nếu nhà quý tộc chết đi mà không có con trai. Hàng năm Hoàng gia phong tặng chừng 2000 huân huy chương, tước vị khác nhau, từ huy chương Thành viên Đế quốc Anh (MBE-Member of the British Empire), danh hiệu Sĩ quan Đế quốc Anh (OBE-Officer of the British Empire), cao nhất trong nhóm này là Chỉ huy của Đế quốc Anh (CBE-Commnader of the British Empire), cho tới danh hiệu Hiệp sĩ (Knight) như cầu thủ David Beckham, ca sĩ Elton John được trao. Nam tước là cấp thấp nhất trong 5 tước quý tộc Anh và mỗi năm có khoảng 25-50 người được Hoàng gia phong tặng. Nam tước (baron) hoặc nữ nam tước (baroness) thường được chọn nhờ công trạng hoặc do Thủ tướng chỉ định. Họ được quyền ngồi vào House of Lords. Vì sao Anh quốc phải cải cách Viện Quý tộc vào lúc này ? Nguồn gốc của Viện Quý tộc có từ Thế kỷ 11 khi Hội đồng Phụ chính Đại thần (Curia Regis) được Vua « William – Nhà chinh phạt » thành lập để tư vấn cho vua. Xin nhắc đây là vị vua từ Pháp sang chiếm đảo Anh và ngai vàng Anh nên ông ấy áp dụng các cơ chế phong kiến từ Pháp, xóa đi các hội đồng quý tộc nhỏ lẻ theo vùng miền của người Anglo-Saxon, và cho một nhóm nhỏ gồm các nam tước (barons) và các lãnh đạo giáo hội cấp cao (giám mục) vào hội đồng này. Họ đóng vai trò cố vấn cho nhà vua về việc thu thuế và ban hành luật pháp. Đây chính là "hạt giống" đầu tiên của Thượng viện. Từ thế kỷ 13, khi Bản Hiến chương Tự do (Magna Carta) được ký kế năm 1215, buộc nhà vua phải tham vấn ý kiến của các quý tộc trước khi thu thuế vì Hội đồng này mở rộng cho đại diện các gia tộc hùng mạnh, giàu có nhất của nước Anh, gồm các công tước, bá tước, hầu tước...vào ngồi. Đến năm 1295, Vua Edward I triệu tập ‘Model Parliament’ (Nghị viện Kiểu mẫu). Lần đầu tiên, ngoài các quý tộc và giới tăng lữ còn có đại diện của quý tộc-quân sự thấp hơn (hiệp sĩ- knights) và và thị dân tham dự. Nghị viện Anh như thế có cả hai nhóm, cao thấp khác nhau. Sang thế kỷ 14, vào khoảng năm 1341 thì viện này tách ra làm hai : House of Lords tập trung các đại quý tộc, tăng lữ và House of Commons còn gọi là Viện Thứ dân, gồm các hiệp sĩ (giới võ sĩ có ngựa chiến, gươm kiếm đánh thuê cho đại quý tộc) và là đại diện dân địa phương các quận hạt, đa số là thị dân. Nhu cầu cải tổ Viện Quý tộc để biến nó thành Thượng Nghị Viện (Senate) như ở Pháp, Mỹ và nhiều nước châu Âu khác đã được bàn đến hơn 30 năm qua. Lý do là một nền dân chủ thì không thể nào duy trì cơ chế cho ai đó hưởng đặc quyền làm nhà lập pháp cao cấp (tương đương chức Thượng nghị sĩ) theo kiểu cha truyền con nối, mà phải được bầu cử, hoặc ít ra là bổ nhiệm nhờ công trạng, thành tích cá nhân với quốc gia. Như vậy, so với các nước châu Âu khác thì Anh Quốc là quốc gia duy nhất có Viện Quý tộc vẫn tồn tại ? Đúng vậy, chúng ta phải nhắc rằng đây là một di sản lâu đời, có ít nhất gần 1000 năm tuổi, nhưng là di sản đem từ Pháp sang. Mà nước Pháp sau Cách mạng 1789 đã xóa sổ hoàn toàn tầng lớp quý tộc. Nước Đức từng là đế chế mà cũng xóa danh hiệu quý tộc, từ đầu thế kỷ 20. Nên ngày nay ai có nhận danh xưng nam tước, bá tước, ví dụ ‘Graf von’ gì đó thì phải gắn vào họ, và để xưng hô mang tính cá nhân, còn về mặt pháp lý, không có ai là bá tước, công tước gì ở Đức nữa cả. Ngay cả các nước Bắc Âu có vua nhưng cũng không còn tầng lớp quý tộc được quyền chính trị như ở Anh. Các nước Đông Âu một thời theo ý thức hệ công nông, xã hội chủ nghĩa thì đã xóa hẳn chức danh quý tộc từ lâu rồi. Chỉ riêng Anh quốc vẫn có Hoàng gia và các tước quý tộc kế vị, cùng quý tộc phong tặng. Anh có thể giải thích thêm là Anh quốc muốn cải tổ Viện Quý tộc thì mục đích cuối cùng của họ là gì ? Mục tiêu sẽ là dần dần biến House of Lords thành một thượng viện thực thụ như ở các nước khác. Tức là trong hệ thống dân chủ đại nghị thì thượng viện thường ít quyền hơn hạ viện nhưng

  2. 4 Sept

    Du lịch một mình nhưng vẫn có "hội" : Xu hướng đang bùng nổ tại Pháp

    “Xách ba lô lên, bạn đồng hành đã có chúng tôi lo” (Prends ton sac à dos, on amène les amis), “Du lịch theo nhóm nhỏ cùng bạn đồng trang lứa” (Voyagez en petits groupes, avec des personnes de votre âge)... Những khẩu hiệu ấn tượng trong tàu điện ngầm Paris phản ánh một xu hướng đang bùng nổ tại Pháp : Du lịch một mình nhưng không cô đơn. Rất nhiều công ty lữ hành nắm bắt trào lưu mới, đặc biệt bùng nổ sau đại dịch Covid-19, để tổ chức tour cho “nhóm độc thân xa lạ”. Theo khảo sát được đăng trên Facebook của ngân hàng CIC ngày 09/07/2026, 74% người Pháp từng đi du lịch một mình năm 2026. Du lịch một mình trở thành xu hướng, biểu tượng của tự do, độc lập thay vì bị nhìn theo kiểu “ế nên mới phải đi một mình” như trước đây. Những người đi du lịch một mình là ai ? Léa Bensadoun, phụ trách phát triển khu vực châu Á/châu Âu tại công ty lữ hành Les Covoyageurs hoạt động từ 14 năm nay, trả lời câu hỏi của RFI Tiếng Việt tại Hội chợ Du lịch Thế giới 2026 (Salon Mondial du Tourisme Paris) : “Ngay từ những ngày đầu thành lập công ty, chúng tôi nhận thấy nhu cầu thực sự từ nhóm khách du lịch một mình. Sau đó, nhu cầu du lịch một mình hoặc là giữa những người đi du lịch một mình đặc biệt bùng nổ, nhất là sau đại dịch Covid-19. Khách hàng của chúng tôi không chỉ là những người độc thân mà còn là những người ở thời điểm muốn du lịch nhưng không có bạn bè hoặc người thân sắp xếp được thời gian đồng hành. Họ mong muốn tham gia các chuyến đi theo nhóm mà không nhất thiết phải đi theo cặp hoặc gia đình. Đối tượng khách hàng của chúng tôi thường là từ 35 đến 55 tuổi”. Tự đi vì lên hẹn đi cùng còn khó hơn trúng số Sau nhiều năm bị phong tỏa, hạn chế đi lại, khó khăn kinh tế vì đại dịch Covid-19, nhiều người ưu tiên trải nghiệm cá nhân và không muốn trì hoãn các kế hoạch chỉ vì “rảnh cùng lúc” đôi khi còn “khó hơn trúng số”. Nhiều mô hình du lịch dành riêng cho khách đi một mình đã bùng nổ, theo giải thích của Léa Bensadoun : “Du lịch một mình đang thực sự trở thành một xu hướng ngày càng phổ biến. Đây là năm thứ ba chúng tôi tham gia Hội chợ Du lịch Thế giới và mỗi năm, gian hàng của chúng tôi đều thu hút nhiều khách tham quan hơn. Đặc biệt, lần này, nhiều người chia sẻ rằng ngay khi tới đây, họ chủ động tìm kiếm các công ty chuyên tổ chức các chuyến đi dành cho du khách đi một mình. Tại triển lãm năm ngoái (2025), khái niệm du lịch một mình cũng đã được đưa vào các hoạt động tương tác. Chúng tôi nhận thấy xu hướng này đang phát triển mạnh mẽ. Trong bối cảnh mọi thông tin và dịch vụ đều dễ dàng tiếp cận trực tuyến, ý tưởng được du lịch cùng những người độc thân khác ngày càng trở nên hấp dẫn và độc đáo”. Có thể thấy bốn lý do chính, được trang Tourisme Digital thống kê, giải thích cho xu hướng du lịch một mình : tận hưởng tự do, tập trung vào bản thân, người thân không rảnh vào thời điểm đó, có cơ hội gặp gỡ và kết nối với những người cùng sở thích, cùng ngân sách. Những công ty lữ hành chuyên về mô hình du lịch này trở cầu nối cho những khách hàng đi một mình mà không cô đơn. Vậy làm thế nào để tạo ra sự hòa thuận giữa những thành viên là người hoàn toàn xa lạ với nhau ? “Trên trang web của công ty chúng tôi, những người quan tâm hoặc đã đăng ký một chuyến đi có thể kết nối và trao đổi với nhau ngay từ trước khi khởi hành. Khi tạo tài khoản, khách hàng có thể gửi tin nhắn riêng cho những thành viên khác có cùng sở thích hoặc cùng tham gia một hành trình. Từ đó, các nhóm trao đổi nhanh chóng được hình thành, cho phép mọi người làm quen và chia sẻ thông tin liên lạc. Chúng tôi nhận thấy nhiều du khách trò chuyện với nhau từ rất sớm, giúp xóa bỏ cảm giác e ngại và tạo sự gắn kết trước chuyến đi. Ngoài ra, vì các gói du lịch thường đã bao gồm vé máy bay, chúng tôi khuyến khích khách hàng lựa chọn cùng một chuyến bay để có cơ hội gặp gỡ và làm quen với nhau ngay trước khi tới điểm du lịch”. 90 điểm đến trên website nhưng khách hàng vẫn “phải lòng” Việt Nam Thành công của loại hình du lịch này được thể hiện qua doanh thu ngày càng tăng tại Pháp, ví dụ năm 2024 đạt 48,9 triệu đô la và đến năm 2030 có thể đạt đến 114 triệu đô la, tương đương với mức tăng 15,2% hàng năm. Nhật Bản là điểm đến số 1 cho những du khách Pháp du lịch một mình từ 30 đến 40 tuổi. Đây cũng là điểm đến hàng đầu của công ty Les Covoyageurs : “Về nguyên tắc, chúng tôi chủ động đề xuất các điểm đến. Tuy nhiên, trong những năm gần đây, chúng tôi cũng triển khai các bảng khảo sát để thu thập ý kiến từ khách hàng. Nhờ chương trình khách hàng thân thiết trên website, nhiều du khách thường xuyên quay lại sử dụng dịch vụ của chúng tôi, và chúng tôi đã tham khảo ý kiến của họ về những tính năng mới cũng như các điểm đến mà họ quan tâm nhất. Chính từ những phản hồi này, chúng tôi nhận thấy một số điểm đến đang thu hút sự quan tâm đặc biệt, chẳng hạn Nhật Bản, nơi liên tục nằm trong nhóm được khách hàng yêu thích nhất. Trên các ấn phẩm quảng bá, chúng tôi thường ưu tiên giới thiệu những điểm đến chủ lực, tức là các điểm đến có lượng đặt chỗ cao nhất trong năm. Đây cũng thường là những nơi mà nhiều khách hàng lần đầu trải nghiệm hình thức du lịch theo nhóm dành cho người đi một mình lựa chọn, có thể kể đến Việt Nam, Tanzania hoặc Albania tại châu Âu vào mùa hè”. Việt Nam nằm trong số 90 điểm đến của công ty và luôn là lựa chọn ưu tiên của khách hàng. Léa Bensadoun có câu trả lời cho lựa chọn này : “Đây là một câu chuyện khá thú vị. Ngay từ khi thành lập công ty, chúng tôi đã thiết lập quan hệ hợp tác với đối tác La Palanche Voyage và mối quan hệ đó vẫn được duy trì bền chặt cho đến ngày nay. Tôi nghĩ chính mối quan hệ này giúp chúng tôi quảng quảng hình ảnh Việt Nam, hiện trở thành điểm đến được đặt nhiều nhất trên website của chúng tôi, trên tổng số gần 90 điểm đến của công ty”. Được tự do nhưng không phải tự lo mọi thứ Được tự do đi du lịch một mình, không phải phụ thuộc vào lịch trình, ngân sách hoặc sở thích của người khác nhưng nhiều du khách cũng không muốn cô đơn. Và đây chính là điểm được các công ty tour solo khai thác. Họ giúp khách được tự do nhưng không phải tự lo mọi thứ : từ phương tiện, chỗ ở, lịch trình đến hướng dẫn viên và các hoạt động nhóm, như trường hợp công ty Les Covoyageurs. “Chúng tôi tự thiết kế, xây dựng và đưa các chương trình du lịch lên website, vì vậy mọi khách hàng đặt tour đều được hưởng trọn gói các hoạt động và dịch vụ đã được lên kế hoạch sẵn. Tuy nhiên, cũng có nhiều khách hàng đề nghị được khởi hành từ một sân bay địa phương thay vì từ Paris. Chúng tôi hoàn toàn có thể đáp ứng yêu cầu đó và cung cấp các gói du lịch không bao gồm vé máy bay, với mức giá được điều chỉnh tương ứng. Ngoài ra, đối với những khách muốn kéo dài thời gian lưu trú hoặc đến điểm đến sớm hơn trước khi tour bắt đầu, chúng tôi có thể sắp xếp lại lịch trình bay phù hợp. Tất cả đều được đáp ứng theo nhu cầu của từng người. Hiện nay, chúng tôi cũng ghi nhận xu hướng ngày càng nhiều khách du lịch một mình tự tổ chức một phần hành trình của họ tại một số quốc gia và chỉ tham gia các chương trình của chúng tôi trong một giai đoạn nhất định. Trong những trường hợp như vậy, chúng tôi bỏ phần vé máy bay và chỉ cung cấp các dịch vụ tại chỗ”. Đối với những người lần đầu đi một mình, việc có một đơn vị tổ chức đứng phía sau còn tạo cảm giác an toàn và yên tâm hơn. Các công ty tour solo cũng tập trung vào những phân khúc khách hàng nhất định, ví dụ Road Scholar chuyên về du lịch solo cho người lớn tuổi, WeRoad tập trung vào nhóm khách hàng từ 25-35 tuổi, Les Covoyageurs tập trung vào nhóm khách hàng 35-55 tuổi… “Chúng tôi hoạt động mạnh trên mạng xã hội, như Instagram, TikTok và Facebook. Bên cạnh đó, công ty chúng tôi cũng thường xuyên được giới

  3. 26 Aug

    Từ "địa ngục Joseon" đến "cường quốc tự tử" - lối thoát nào cho Hàn Quốc

    Một nghịch lý đặc biệt trong tiếng Hàn là từ 자살 – “tự tử” – khi đọc ngược lại sẽ thành 살자, nghĩa là “hãy sống” hoặc “chúng ta cùng sống nhé”. Cách chơi chữ này từng được sử dụng như một lời động viên: khi ý nghĩ tuyệt vọng xuất hiện, hãy thử đảo ngược nó để nhắc mình rằng vẫn phải tiếp tục sống. Thế nhưng tại một xã hội thường bị người trẻ mỉa mai gọi là “địa ngục Joseon”, việc lựa chọn sống đôi khi cũng trở thành một cuộc đấu tranh đầy mệt mỏi. Áp lực học tập, cạnh tranh việc làm, giá nhà đắt đỏ, nợ nần, làm việc quá sức, sự cô đơn và nỗi sợ bị bỏ lại phía sau khiến nhiều người cảm thấy dù đã cố gắng đến đâu, cuộc sống vẫn không trở nên dễ dàng hơn.  Quốc gia có tỉ lệ tự tử số 1 trong nhóm OECD Hàn Quốc được biết đến với kỳ tích kinh tế, công nghệ hiện đại và sức ảnh hưởng mạnh mẽ của làn sóng Hallyu. Tuy nhiên, quốc gia này đã duy trì tỷ lệ tự tử cao nhất OECD trong hơn hai thập niên. Năm 2024, tỷ lệ tự tử của Hàn Quốc là 23 - 28 người / 100.000 dân, tùy theo tiêu chuẩn tính toán. Tuy nhiên dù tính toán theo phương pháp nào thì tỉ lệ tự tử của Hàn Quốc vẫn cao hơn gấp đôi mức trung bình của khối, điều này cho thấy mức độ nghiêm trọng của vấn đề. Vì vậy, tự tử tại Hàn Quốc không còn là bi kịch cá nhân mà đã trở thành một vấn đề y tế công cộng và xã hội.  Áp lực thay đổi theo từng giai đoạn của cuộc đời Theo thống kê của Cơ quan Cảnh sát Quốc gia Hàn Quốc năm 2021, các vấn đề tâm lý và tâm thần chiếm tỷ lệ lớn nhất, với khoảng 40%, tiếp theo là khó khăn kinh tế và sinh kế với khoảng 25%, theo sau đó là bệnh tật (18%), gia đình (7%), và áp lực công việc (~4%). Nguyên nhân dẫn đến khủng hoảng cũng thay đổi rõ rệt theo từng độ tuổi.  Ở thanh thiếu niên và người trẻ, nguy cơ thường gắn với áp lực học tập, bắt nạt, khó tìm việc, thu nhập bấp bênh và tương lai thiếu ổn định; trong khi người trung niên chịu sức ép lớn từ sinh kế, nợ nần và trách nhiệm gia đình. Với người cao tuổi, bệnh tật, nghèo đói và cô đơn là những yếu tố nổi bật. Nam giới có tỷ lệ tự tử cao hơn do thường phải gánh kỳ vọng về vai trò trụ cột nhưng lại ít chia sẻ cảm xúc và ngại tìm kiếm sự hỗ trợ, khiến khủng hoảng khó được phát hiện sớm.  Xã hội đầy sự thù ghét Nhà văn đoạt giải Nobel Han Kang cho rằng tình trạng thù ghét ngày càng lan rộng tại Hàn Quốc và trên thế giới là một thách thức mà xã hội phải cùng nhau vượt qua. Phát biểu bên lề Liên hoan Avignon, bà nhấn mạnh rằng đây là thời điểm con người cần nghiêm túc suy nghĩ về cách thoát khỏi sự chia rẽ và tìm một hướng đi khác, thay vì tiếp tục chìm sâu trong “kỷ nguyên thù ghét”. Tại Hàn Quốc, sự thù ghét không chỉ thể hiện qua xung đột giới tính, thế hệ, khu vực hay chính trị mà còn lan rộng trên mạng xã hội dưới hình thức bôi nhọ, bình luận ác ý và tấn công tập thể. Trong một xã hội vốn chịu nhiều áp lực về thành tích, kinh tế và sự cô đơn, những cuộc công kích này có thể làm trầm trọng thêm khủng hoảng tâm lý ở người dễ tổn thương. Năm 2022, một nữ streamer từng bị các “cyber wrecker” đăng tải nội dung cắt ghép, giật gân và kích động đám đông công kích dù cô đã lên tiếng giải thích. Những lời miệt thị tiếp tục lan rộng trước khi cô qua đời do tự tử, cho thấy bạo lực trực tuyến có thể để lại hậu quả nghiêm trọng ngoài đời thực. Không thể quy một bi kịch cho riêng một nguyên nhân, nhưng việc liên tục bị hàng nghìn người chế giễu, phán xét và cô lập có thể đẩy một người đến cảm giác tuyệt vọng sâu sắc.  Bắt nạt từ trường học đến nơi làm việc Bắt nạt, đặc biệt là bắt nạt trên mạng, là một trong những yếu tố xã hội có thể làm gia tăng nguy cơ khủng hoảng tâm lý và ý nghĩ tự tử ở thanh thiếu niên Hàn Quốc. Nghiên cứu của giáo sư Choi Jung-ah thuộc Đại học Kyungil, thực hiện trên 3.775 học sinh trung học cơ sở, cho thấy ngay cả khi đã tính đến các yếu tố như trầm cảm, căng thẳng và lòng tự trọng, nạn nhân của bắt nạt trực tuyến và phân biệt đối xử vẫn có nguy cơ xuất hiện ý nghĩ tự tử cao hơn đáng kể. Bắt nạt không chỉ xuất hiện trong trường học hay trên mạng mà còn tồn tại tại nơi làm việc. Hai trường hợp nhân viên Naver qua đời vào năm 2021 và 2022 đều được gia đình và công đoàn liên hệ với tình trạng chèn ép, khối lượng công việc quá mức và việc phản ánh không được xử lý thỏa đáng. Các vụ việc cho thấy khi tiếng nói của người lao động bị xem nhẹ, môi trường làm việc độc hại có thể làm trầm trọng thêm khủng hoảng tinh thần và dẫn đến hậu quả nghiêm trọng. Theo hãng tin MBC, văn hóa bắt nạt “taeum” trong ngành điều dưỡng Hàn Quốc đã được liên hệ với nhiều trường hợp nhân viên y tế qua đời sau thời gian chịu áp lực và chèn ép tại nơi làm việc. Các vụ việc của nữ điều dưỡng Park Sun-wook năm 2018, Seo Ji-yoon năm 2019 và Kang Soo-bin năm 2026 cho thấy tình trạng mắng nhiếc, cô lập, giao việc quá sức và xử lý khiếu nại thiếu hiệu quả vẫn kéo dài. Giới chuyên gia cho rằng cần giảm khối lượng công việc, bảo vệ người tố cáo và xử lý nghiêm hành vi bắt nạt để ngăn những bi kịch tương tự tái diễn.  Áp lực công việc Khác với bắt nạt mang tính trực tiếp, kiệt sức nghề nghiệp có thể hình thành từ khối lượng công việc kéo dài, thiếu quyền tự chủ và môi trường tổ chức không thân thiện. Một nghiên cứu đăng trên tạp chí Frontiers in Public Health vào tháng 9.2023 do hai bác sĩ tâm thần học Hàn Quốc Jeon Sang-won và Cho Sung-jun thực hiện trên hơn 13.000 lao động thuộc nhiều lĩnh vực như sản xuất, tài chính, dịch vụ, phân phối, xây dựng và hành chính công cho thấy áp lực công việc kéo dài và tình trạng kiệt sức nghề nghiệp có thể làm gia tăng đáng kể nguy cơ xuất hiện ý nghĩ tự tử ở người lao động.  Kết quả cho thấy những người rơi vào trạng thái kiệt quệ về thể chất và cảm xúc có nguy cơ xuất hiện ý nghĩ tự tử cao hơn 36% nếu đã mắc trầm cảm và cao hơn 77% ngay cả khi không mắc trầm cảm. Nguy cơ đặc biệt gia tăng ở những người không thể tự chủ trong công việc hoặc làm việc trong môi trường thiếu thân thiện. Nhóm nghiên cứu nhấn mạnh rằng kiệt sức nghề nghiệp cần được xem là một dấu hiệu cảnh báo quan trọng, không chỉ ở nhân viên y tế mà trong mọi ngành nghề.  Chênh lệch giàu nghèo sâu sắc Tỷ lệ tự tử cao tại Hàn Quốc không chỉ liên quan đến sức khỏe tâm thần mà còn phản ánh khoảng cách giàu nghèo và một xã hội đặt nặng địa vị, thu nhập và tài sản. Những người làm công việc có vị thế thấp hoặc thu nhập bấp bênh thường dễ bị coi thường và chèn ép. Theo Yonhap, văn hóa “gapjil - 갑질” – lạm dụng quyền lực của người ở vị trí cao hơn, giàu hơn – thể hiện rõ qua các vụ nhân viên bảo vệ chung cư bị cư dân lăng mạ, hành hung và đối xử như người hầu. Trong một trường hợp, biểu ngữ tưởng niệm một bảo vệ tự tử sau thời gian bị ngược đãi còn bị tháo xuống vì cư dân lo ảnh hưởng đến giá trị căn hộ. Sự việc cho thấy tài sản đôi khi được đặt cao hơn phẩm giá và sinh mạng của người lao động. Cũng theo Yonhap, áp lực kinh tế cũng có thể đẩy các gia đình yếu thế vào bế tắc, như trường hợp một người cha thất nghiệp đã tự tử cung với bốn đứa con của mình dù đã nhận một phần hỗ trợ phúc lợi. Thủ tục phức tạp, nguồn trợ giúp hạn chế và tâm lý xấu hổ khiến nhiều người không tiếp tục tìm kiếm hỗ trợ và tự tử là một giải pháp mà họ nghĩ tới khi bất lực. Một xã hội thành công nhưng ngày càng cô đơn Sự phát triển nhanh chóng của Hàn Quốc đã làm thay đổi sâu sắc cấu trúc gia đình và cộng đồng. Gia đình nhiều thế hệ dần được thay thế bằng gia đình hạt nhân và hộ độc thân; người trẻ rời quê lên thành phố, người cao tuổi sống một mình ngày càng nhiều, trong khi áp lực công việc khiến các mối quan hệ gia đình và xã hội dần trở nên lỏng lẻo. Sự c

  4. 19 Aug

    1936-2026 : 90 năm chế độ nghỉ phép có lương và những biến chuyển trong đời sống xã hội Pháp

    Năm 2026 là đúng 90 năm chế độ nghỉ phép có lương được áp dụng rộng rãi với người lao động Pháp. Đây là di sản nổi bật của Front Populaire - Mặt trận Bình dân, một liên minh chính trị của các lực lượng cánh tả ở Pháp. Với xuất phát điểm là 2 tuần nghỉ được trả lương vào năm 1936, chế độ này đã kéo theo nhiều thay đổi trong đời sống xã hội tại Pháp, với các hoạt động giải trí, văn hóa … Du lịch đại chúng cũng dần dần phát triển. Để hiểu thêm chế độ nghỉ có lương tại Pháp, một cuộc cải cách mang tính cách mạng cho giới công nhân và người làm công ăn lương vào năm 1936, RFI Tiếng Việt phỏng vấn sử gia Jean Vigreux, chuyên gia về Mặt trận Bình dân, giáo sư trường Đại học Bourgogne Europe của Pháp.  RFI : Đâu là bối cảnh xã hội và điều kiện lao động của công nhân tại Pháp đã dẫn đến việc chính quyền thiết lập chế độ nghỉ phép có lương ? Đâu là vai trò của Mặt trận Bình dân vào năm 1936 trong việc thiết lập chế độ này ? Jean Vigreux : Đúng là việc tạo ra chế độ nghỉ phép được hưởng lương là rất quan trọng. Nó không hẳn là đã được lên kế hoạch hay từng đưa vào chương trình hành động của Mặt trận Bình dân. Chương trình tranh cử suy cho cùng là nhằm chống lại cuộc khủng hoảng kinh tế và xã hội, cải thiện điều kiện sống cho giai cấp công nhân, và có thể nói là cho người dân Pháp nói chung. Nhưng chế độ nghỉ phép có lương không có trong chương trình dự kiến từ trước. Và chính sự huy động được đông đảo lực lượng tham gia phong trào đấu tranh, các cuộc đình công với việc chiếm đóng nhà máy, đã khiến thỏa thuận Matignon đạt được nhanh chóng vào đêm 07, ngày 08/06 (năm 1936), một hôm sau khi Léon Blum lên nắm quyền. Chính lúc đó, giới chủ Pháp - Tổng Liên đoàn Sản xuất Pháp (Confédération générale de la production française - CGPF) và Tổng Liên đoàn Lao động - CGT) công đoàn lao động lớn nhất, cùng với chính phủ, đã chấp nhận ý tưởng thực hiện chế độ nghỉ phép có lương. Các điều kiện lao động khi đó như thế nào ? Trong những năm 1920 và 1930, chúng ta đã chứng kiến ​​một mô hình sản xuất kiểu « fordisation », nghĩa là công việc ngày càng được tổ chức theo kiểu sản xuất theo dây chuyền và với sự kiểm soát thời gian chặt chẽ. Khi đó người ta đã nhắc đến những hệ quả, những cái được, cái mất, những thách thức trong việc quản lý thời gian chặt chẽ như vậy. Một số người trong một số lĩnh vực, ngành nghề khi đó đã được hưởng kỳ nghỉ được trả lương, nhưng phần lớn người lao động và công nhân thì không. Cũng đã có những đề xuất, dự thảo luật trong những năm 1920 và 1930, nhưng chúng chưa bao giờ được thực hiện. Vì vậy, đây thực sự là một điều mới mẻ, một điều quan trọng. Vào thời điểm đó, cũng có thể nói rằng Pháp đang tụt hậu so với các nước khác bởi vì từ giữa thế kỷ 19 trở đi thì mới có một số công chức Nhà nước có quyền được nghỉ phép mà vẫn được hưởng lương. Và sau đó là một số người lao động nhất định, ví dụ như công nhân đường sắt. Xin nhắc lại là vào thời bấy giờ, các công ty đường sắt là của tư nhân, và mãi cho đến năm 1937 thì SNCF (Công ty Đường sắt Quốc gia Pháp) mới được thành lập. Nhưng mà trước đó, các công ty đường sắt tư nhân đã có chế độ nghỉ phép có lương cho công nhân, các công ty điện lực cũng tương tự. RFI : Pháp có đi tiên phong về áp dụng rộng rãi chế độ nghỉ phép có lương cho người lao động không ? Jean Vigreux : Không, Pháp không đi tiên phong. Tại nước Đức chẳng hạn, đã có nhiều người lao động được nghỉ phép mà vẫn hưởng lương hơn là ở Pháp. Vào những năm 1920 đến đầu những năm 1930, đã có hơn 12 triệu người Đức có thể được hưởng chế độ nghỉ phép có lương. Như vậy Pháp khi đó còn khá tụt hậu, tôi biết là có một cuộc khảo sát của Cơ quan Lao động Quốc tế cho thấy rằng ở châu Âu vào cuối những năm 1920 và đầu những năm 1930, đã có khoảng 40% người lao động, cả nam và nữ, xin nói rõ là như vậy, được hưởng chế độ nghỉ phép có lương. Nói tóm lại, Pháp khi đó là nước tụt hậu về vấn đề này, chứ hoàn toàn không phải là quốc gia đi tiên phong. Quả thực là Pháp phải tìm cách lấy lại thời gian đã mất, phải chạy theo để bắt kịp với các nước khác, và đến năm 1936, nhờ thỏa thuận Matignon thì mới có chế độ nghỉ có lương. RFI : Quy định này đã được xã hội Pháp đón nhận ra sao ? Jean Vigreux : Có thể nói là chế độ nghỉ phép có lương đã được công chúng và người lao động đã lập gia đình hưởng ứng, đón chào. Quy định mới mang đến cho họ một niềm vui lớn. Thậm chí một số người đã từng nghĩ rằng sẽ không thể nào lại có chuyện « chúng ta sẽ được trả lương cho dù nghỉ phép ». Trước đấy, điều này là không khả thi. Chế độ nghỉ phép có lương mở ra một loạt khả năng hoàn toàn mới mẻ cho phần lớn người lao động ở Pháp, tức là họ sẽ có thể dành thời gian đó cho các hoạt động giải trí và nghỉ ngơi, nhưng đó không hẳn là như những hình ảnh quen thuộc mà chúng ta thường thấy về các kỳ nghỉ, tức là cứ nghỉ là mọi người đổ xô ra biển, lên núi bằng xe đạp đôi, hay cắm lều trại … đâu. Đối với một số người, nghỉ phép chỉ đơn giản là để nghỉ ngơi, họ nghỉ ngơi ngay ở vùng Paris, dọc theo bờ sông Marne (…) hoặc đơn giản là họ về vùng nông thôn thăm nom gia đình, bởi vì có nhiều công nhân xuất thân từ các vùng nông thôn và tỉnh lẻ của Pháp. Quả đúng là chế độ nghỉ phép có lương được hưởng ứng, đây là điều quan trọng, và đặc biệt là vì chính phủ Pháp đã nhanh chóng ban hành vé tàu giá rẻ để tạo điều kiện cho mọi người đi lại bằng tàu hỏa. Ngay từ cuối tháng 06/1936, đã có 600.000 vé nghỉ phép phổ thông được phát hành. Và đến năm 1938, khi Mặt trận Bình dân khép lại, con số này đã lên đến hơn 900.000, hay gần 1 triệu vé tàu giá rẻ cho người nghỉ phép, đã được phát hành. Xét từ góc độ này, thì nhìn chung chế độ nghỉ phép có lương đã được người dân đón nhận tích cực.  Nhưng cũng đúng là có một số sự phản kháng từ phía giới chủ, đúng là có một số người từ chối, theo một cách nào đó, nhưng trên thực tế, các thỏa ước tập thể đã được ký kết, chúng phải được triển khai và áp dụng. Nhưng đúng là có cả một luồng dư luận chống lại các cuộc đình công, chống lại phong trào công nhân, và đặc biệt là trên báo chí cực hữu, với những bức tranh biếm họa về những người đội mũ đi trên bãi biển. Nhưng đó cũng chỉ là sự phản đối của một thiểu số người Pháp thôi, chứ thực ra chế độ nghỉ phép có lương ra dời đã làm thay đổi hoàn toàn cuộc sống người lao động. Đó là một cuộc cải cách thực sự mang tính cách mạng bởi vì nó dẫn đến các kỳ nghỉ, nhiều hoạt động giải trí và khởi xướng cái gọi là du lịch đại chúng, cho phép trẻ em tham gia vào các trại hè. Thực sự đó là khởi đầu của điều đã để lại dấu ấn lâu dài trong xã hội chúng ta, gần như cho đến tận ngày nay. RFI : Chế độ nghỉ phép được hưởng lương đã tiến triển thế nào từ năm 1936 để đạt được đến 5 tuần phép/năm như hiện nay ? Jean Vigreux : Vào năm 1936 thì có 2 tuần nghỉ phép có lương. Tuần thứ 3 được thêm vào năm 1956, tuần phép thứ 4 được bổ sung vào năm 1968-1969 sau các sự kiện tháng 05-06 năm 1968, và cuối cùng tuần phép thứ năm được thêm vào đầu những năm 1980, sau khi François Mitterrand (cánh tả) lên nắm quyền tổng thống và Pierre Mauroy trở thành thủ tướng. Như vậy, chế độ 5 tuần nghỉ phép có lương là kể từ năm 1982. Nói tóm lại là để đạt đến chế độ 5 tuần nghỉ phép có lương thì chúng ta đã phải trải qua một thời gian khá dài. Có thể nói rằng thế kỷ 20 thực sự đã phát minh ra chế độ nghỉ phép có lương, nhưng nó được hình thành dần dần chứ không phải là có ngay lập tức. Chế độ nghỉ phép có lương là rất quan trọng bởi vì suy cho cùng thì người Pháp rất gắn bó với chế độ nghỉ phép và vẫn được hư

  5. 12 Aug

    Bỉ : Kỳ nghỉ phép có lương, 90 năm thành tựu

    Tháng Bảy, tháng Tám, tắm biển, đi lên núi, ra nước ngoài, hay ở nhà… là những câu hỏi nơi cửa miệng ở công sở trước mỗi mùa hè. Ngày nay, việc đi nghỉ dài ngày đã trở nên bình thường đối với bất cứ người làm công ăn lương nào tại nhiều nước trên thế giới. Nhưng để trở thành bình thường, điều đó đã phải trải qua một tiến trình dài. Phúc lợi xã hội này chỉ mới được áp dụng ở Bỉ từ năm 1936 sau nhiều cuộc đấu tranh xã hội gay gắt. Khái niệm về kỳ nghỉ đã phát triển, phản ánh các xã hội khác nhau và mối quan hệ của chúng với thời gian và công việc. Từ nguyên của “vacances” trong tiếng Pháp bắt nguồn từ thời cổ đại, từ trong tiếng La tinh “vacare” có nghĩa là “trống rỗng, không người ở, nhàn rỗi”. Ngay cả ở thời kỳ này, người Hy Lạp và La Mã đã phân biệt giữa hai khoảng thời gian : lao động và nghỉ ngơi. Vì vậy, họ dùng từ negotium chỉ thời gian dành cho công việc chân tay và buôn bán và từ otium có thể tạm dịch là “thời gian rảnh rỗi”. Đây là thời gian không làm những việc chân tay và dành cho việc nghỉ ngơi, suy tư, đọc sách và các hoạt động giải trí. Nghỉ ngơi : Đặc quyền của giới quý tộc Tuy nhiên, những khoảng thời gian rảnh rỗi này là đặc quyền của một bộ phận nhỏ dân số, giới thượng lưu quý tộc. Từ thời cổ đại đến thời Trung cổ, giới thượng lưu, quý tộc và tầng lớp thượng lưu không làm việc chân tay, vì lao động bị coi thường, chỉ giành cho tầng lớp hạ lưu. Thế giới nhàn rỗi được dành riêng cho họ. Vào thời đó, mặc dù nghỉ ngơi tồn tại như một khái niệm, nhưng nó chưa thiết lập như một quyền và không phải ai cũng có thể đòi hỏi. Ví dụ như nô lệ và người lao động, rồi sau này là tầng lớp công nhân, không được hưởng những khoảng thời gian rảnh rỗi này. Sự phân biệt đó có cấu trúc bền vững trong các xã hội phương Tây : thời gian rảnh rỗi từ lâu vẫn là đặc quyền dành cho giới thượng lưu. Một bước ngoặc xảy ra vào thời Trung Cổ, đặc biệt là ở các thành thị ở Bắc Âu và những vùng mà ngày nay là Hà Lan (Pays-Bas). Các tháp chuông không đơn thuần là biểu tượng kiến trúc. Được quản lý bởi các thị trấn (communes), chúng thể hiện quyền tự chủ của các thị trấn trước các thế lực phong kiến và tôn giáo. Nhờ có tiếng chuông, giờ giấc làm việc được thông báo công khai. Thời gian bắt đầu và kết thúc ngày làm việc, cũng như giờ nghỉ giải lao, đều giống nhau cho mọi người. Sự phát triển này có vẻ không đáng kể. Tuy nhiên, nó lại mang đến tính quyết định : công việc đang dần được trả công dựa vào thời gian làm việc, chứ không phải dựa trên nhiệm vụ hoàn thành. Lần đầu tiên, thời gian làm việc trở nên có thể đo lường, so sánh và do đó có thể thương lượng. Sự chuyển đổi này tạo nên một trong những nền tảng của nền kinh tế hiện đại. Nghỉ hè để làm nông và nghỉ ngơi liên quan đến tôn giáo Năm 1231, Giáo hoàng Gregorio IX đã ban hành một kỳ nghỉ giữa mùa hè, từ tháng Tám đến tháng Chín, trùng với mùa thu hoạch và hái nho. Khi đó, nhiều học sinh và người học việc sẽ rời bỏ sách vở để về làm việc với cha mẹ trên các cánh đồng. Giáo hoàng đã ban hành kỳ nghỉ này để đáp trả sự tức giận của các giáo sư trong các lớp học vắng vẻ, đặc biệt là tại Đại học Paris danh tiếng. Đây thực sự không phải là kỳ nghỉ hè theo nghĩa như ngày nay và không phải thời gian cho sinh viên nghỉ ngơi, mà để họ có thời gian dành cho công việc đồng áng của gia đình. Cho đến thời Trung Cổ, thời gian nghỉ ngơi chủ yếu được sắp xếp theo lịch tôn giáo. Những ki-tô hữu đi lễ Chủ Nhật. Người Do Thái giữ ngày Sa-bát, trong khi cộng đồng đạo Hồi coi thứ Sáu là ngày nghỉ hàng tuần của họ. Vào thời đó, các lễ hội và các ngày lễ thiêng liêng diễn ra trong năm, mang lại những ngày nghỉ không làm việc trên đồng ruộng hay xưởng thủ công. Những ngày nghỉ này được giành cho việc thực hành tôn giáo, chứ không phải cho sự nghỉ ngơi nhàn hạ, hay không hoạt động. Chúng không phải là những ngày lễ theo nghĩa hiện đại của thuật ngữ này, mà là những thời điểm khi công việc được tạm dừng tập thể. Sự thay đổi thực sự bắt đầu với cuộc Cách mạng Công nghiệp vào cuối thế kỷ XVIII : công việc trở nên dài hơn, sự lặp đi lặp lại nhiều hơn và đòi hỏi cao hơn. Sự mệt mỏi về thể chất cũng như tinh thần trở thành một vấn đề xã hội mà các chính phủ không thể phớt lờ. Đến thế kỷ XX, kỳ nghỉ mới có hình thức như hiện nay, đặc biệt là với sự ra đời của chế độ nghỉ phép có lương. Tại Pháp, luật năm 1936 do Mặt Trận Bình Dân của Léon Blum ủng hộ, đánh dấu một thời điểm then chốt : Lần đầu tiên, người lao động nghỉ phép mà vẫn được trả lương. Cùng năm đó tại Bỉ, Hạ Viện đã nhất trí thông qua luật thiết lập chế độ nghỉ phép có lương. Kỳ nghỉ khi đó không còn là một thứ xa xỉ hay ngoại lệ : chúng trở thành một quyền, một nhu cầu thiết yếu, một dấu hiệu của sự tiến bộ giúp định hình các xã hội hiện đại. Nghỉ ngơi : Quyền lợi của người lao động Sau Chiến Tranh Thế Giới I, việc thành lập Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) năm 1919 đánh dấu một bước ngoặt. Nguyên tắc thành lập của tổ chức này rất rõ ràng: “Sức lao động của con người không thể được coi là hàng hóa”. Một số quốc gia châu Âu sau đó đã đi tiên phong. Đức đã ban hành chế độ nghỉ phép có lương thông qua các thỏa ước tập thể ngay từ năm 1905. Anh Quốc dẫn đầu với một số bước tiến trước Chiến Tranh Thế Giới Thứ Nhất. Áo đã thông qua luật vào năm 1919, tiếp theo đó là Ba Lan và Latvia vào năm 1922. Tại Bỉ, một số công ty lớn như Minerva Motors, Bell Telephone hay Solvay đã cho phép nhân viên nghỉ vài ngày, nhưng chỉ trong khuôn khổ các thỏa thuận của công ty. Bước ngoặt thực sự đã đến cách đây 90 năm. Vào tháng 6 năm 1936, sau sự nổi dậy của Mặt Trận Bình Dân Pháp, một làn sóng đình công chưa từng có đã càn quét nước Bỉ. Hơn 500.000 công nhân yêu cầu mức lương tối thiểu, tuần làm việc 40 giờ và kỳ nghỉ có lương. Đối diện với tình trạng tê liệt của đất nước và nguy cơ cực đoan hóa xã hội, chính phủ của thủ tướng Paul Van Zeeland đã triệu tập Hội nghị lao động quốc gia. Sự thỏa hiệp đã dẫn đến một bước đột phá lịch sử: Luật ngày 8/06/1936 quy định sáu ngày nghỉ phép có lương sau một năm làm việc. Đạo luật của thủ tướng Van Zeeland được đánh giá là khá ôn hòa. Đối với các nhà tuyển dụng, biện pháp này có vẻ dễ chấp nhận hơn so với việc giảm giờ làm nói chung. Nó chỉ làm giảm một phần nhỏ phúc lợi hàng năm trong khi vẫn cho phép tổ chức bảo trì máy móc, hoặc quản lý hàng tồn kho trong thời gian ngừng hoạt động. Đạo luật này chỉ thực sự được triển khai sau Thế Chiến II và được phát triển để đạt được 2-3-4 tuần nghỉ phép, với mức lương nghỉ phép gấp đôi như ngay nay. Khi kỳ nghỉ trở thành dự án xã hội Việc áp dụng chế độ nghỉ phép có lương không chỉ thay đổi luật lao động, mà còn làm thay đổi thái độ. Trước năm 1936, thời gian nghỉ ngơi chính của người lao động thường trùng với “ngày nghỉ Thứ Hai”, hậu quả của sự mệt mỏi hoặc làm việc quá sức vào ngày Chủ Nhật. Chế độ nghỉ phép có lương đã biến thời gian nghỉ ngơi từ một tình trạng bị áp đặt thành một quyền được công nhận. Tuy nhiên, sự phát triển mới này lại khiến một số thành viên thuộc tầng lớp thượng lưu lo ngại. Người lao động sẽ làm gì với thời gian rảnh rỗi này ? Nhà nước, các công đoàn và nhiều tổ chức khác sau đó đã phát triển điều mà các nhà sử học gọi là “du lịch xã hội”. Các trung tâm nghỉ dưỡng được xây dựng ở ven biển hoặc trên núi để cung cấp những hoạt động giải trí có tổ chức, đồng thời thúc đẩy sức khỏe, văn hóa và sự gắn kết xã hội. Vào thời điểm đó, thái độ giáo điều vẫn còn phổ biến. Người ta lo ngại về sự thiếu chính chắn của giai cấp công nhân trong việc sử dụng thời gian rảnh rỗi. Phong t

  6. 5 Aug

    Con nuôi người Hàn ở Mỹ : Những đứa trẻ sống kiếp không quê hương

    Từ sau Chiến tranh Triều Tiên, hàng trăm nghìn trẻ em Hàn Quốc đã được đưa ra nước ngoài làm con nuôi và Mỹ là điểm đến lớn nhất. Với nhiều gia đình phương Tây, đây từng được xem là hành động nhân đạo: cứu giúp những đứa trẻ mồ côi, nghèo đói, không có tương lai trong một đất nước vừa  ra khỏi chiến tranh. Nhưng sau hơn 70 năm, những câu chuyện được kể lại từ chính người con nuôi Hàn Quốc cho thấy một mặt khác của lịch sử: hồ sơ bị làm sai lệch, trẻ em bị tách khỏi gia đình ruột, quốc tịch không được bảo đảm, khủng hoảng bản sắc kéo dài và nỗi đau tìm lại cội nguồn không dễ chữa lành. Không chỉ là câu chuyện của những đứa trẻ được đưa tới một gia đình mới, đó còn là câu chuyện của chiến tranh, nghèo đói, kỳ thị xã hội, chủ nghĩa dân tộc huyết thống, nhu cầu gia đình của phương Tây, tôn giáo, thị trường nhận con nuôi và trách nhiệm chưa hoàn tất của cả quốc gia gửi con lẫn quốc gia nhận con. Lịch sử nhận con nuôi Hàn - Mỹ  Theo Namu-Wiki, chuyên trang bách khoa toàn thư phiên bản Hàn Quốc, lịch sử nhận con nuôi Hàn – Mỹ bắt đầu trong bối cảnh Hàn Quốc kiệt quệ sau Chiến tranh Triều Tiên. Đất nước bị tàn phá, nhiều gia đình ly tán, trẻ em mồ côi và trẻ bị bỏ rơi xuất hiện khắp nơi, trong khi hệ thống phúc lợi trẻ em gần như không đủ sức bảo vệ những nhóm yếu thế nhất. Đặc biệt, trẻ lai giữa binh sĩ Mỹ và phụ nữ Hàn Quốc trở thành một trong những nhóm đầu tiên bị đẩy ra khỏi xã hội Hàn Quốc thời hậu chiến. Những đứa trẻ này thường bị kỳ thị kép: vừa là con của phụ nữ nghèo hoặc bị xã hội phán xét, vừa bị xem là đe dọa đối với quan niệm “dân tộc thuần chủng”. Trong xã hội Hàn Quốc lúc bấy giờ, huyết thống và gia đình phụ hệ giữ vai trò rất lớn, trẻ lai gần như không có vị trí rõ ràng. Đưa các em sang Mỹ vì thế được trình bày như một giải pháp nhân đạo, nhưng cũng đồng thời là cách Hàn Quốc loại bỏ một nhóm trẻ mà xã hội không muốn nhìn nhận. Ở phía Mỹ, phong trào nhận nuôi trẻ em Hàn Quốc được thúc đẩy bởi truyền thông chiến tranh, các tổ chức Cơ Đốc giáo và bối cảnh Chiến tranh Lạnh. Hình ảnh trẻ em Hàn Quốc nghèo đói, mồ côi và cần được cứu giúp xuất hiện trong các chiến dịch bảo trợ, tờ rơi, ảnh chụp và phim tài liệu, tạo nên một làn sóng cảm thương trong công chúng Mỹ. Các tổ chức như World Vision và Everett Swanson Evangelistic Association, tiền thân của Compassion International, góp phần biến trẻ em Hàn Quốc thành đối tượng của các chương trình bảo trợ từ xa, rồi từ đó mở đường cho nhận con nuôi thực sự. Theo báo Christian Today, năm 1955, vợ chồng Harry và Bertha Holt, một cặp vợ chồng Tin Lành ở bang Oregon, nhận nuôi 8 trẻ em Hàn Quốc. Đây trở thành dấu mốc quan trọng trong lịch sử nhận con nuôi Hàn – Mỹ. Từ sự kiện này, chương trình Holt Adoption Program ra đời và về sau phát triển thành một trong những tổ chức nhận con nuôi quốc tế nổi bật nhất. Theo tài liệu về lịch sử Cơ Đốc giáo trong nhận con nuôi Hàn – Mỹ, trong giai đoạn 1953–2018, khoảng 170.000 trẻ em Hàn Quốc được nhận nuôi tại hơn 29 quốc gia, trong đó Mỹ nhận hơn hai phần ba, tương đương 114.117 trẻ. Ban đầu, câu chuyện được kể bằng ngôn ngữ của lòng nhân đạo: trẻ em nghèo được cứu giúp, trẻ mồ côi có gia đình, những đứa trẻ không tương lai được đưa đến một đất nước giàu có hơn. Nhưng theo thời gian, khi số lượng trẻ được đưa ra nước ngoài ngày càng lớn, hệ thống ấy bắt đầu bộc lộ một bản chất phức tạp hơn nhiều. Con nuôi người Hàn dần bị coi như món hàng công nghiệp  Khi việc nhận con nuôi được đưa vào một hệ thống có nhu cầu, có tổ chức, có phí, có hồ sơ và có quy trình vận chuyển, trẻ em dần bị nhìn theo một cách khác. Các em không còn là những đứa trẻ cần được bảo vệ, mà trở thành đối tượng trong một chuỗi cung ứng xuyên quốc gia: được chọn, kiểm tra sức khỏe, lập hồ sơ, chuyển giao và đưa sang nước ngoài. Nghiên cứu của giáo sư Kim thuộc đại học Suwon về nhận con nuôi xuyên quốc gia cho rằng không thể chỉ nhìn hiện tượng này như một hành động nhân đạo. Ở tầng sâu hơn, đây là dòng chảy một chiều: trẻ em từ các quốc gia nghèo, hậu chiến, thiếu hệ thống phúc lợi được đưa sang các quốc gia giàu hơn, phần lớn là vào các gia đình da trắng trung lưu. Dòng chảy ấy phản ánh sự chênh lệch quyền lực giữa nước gửi con và nước nhận con, giữa gia đình nghèo không có khả năng giữ con và gia đình giàu có nhu cầu nhận con nuôi. Ở phía Hàn Quốc, nhận con nuôi quốc tế dần trở thành một cách xử lý những vấn đề xã hội mà nhà nước chưa đủ năng lực hoặc chưa muốn giải quyết: trẻ mồ côi, trẻ lai, trẻ bị bỏ rơi, con của phụ nữ chưa kết hôn và trẻ em từ các gia đình nghèo. Thay vì xây dựng một mạng lưới phúc lợi đủ mạnh để hỗ trợ mẹ đơn thân, phụ nữ nghèo hoặc gia đình yếu thế tiếp tục nuôi con, hệ thống lại lựa chọn con đường đưa trẻ ra nước ngoài. Ở phía Mỹ và các nước phương Tây, nhu cầu nhận con nuôi cũng rất lớn. Một số gia đình không thể sinh con hoặc khó nhận trẻ trong nước, trong khi trẻ em Hàn Quốc được xem là “dễ thích nghi”. Hình ảnh người châu Á chăm chỉ, ngoan ngoãn, ít gây xung đột và có thể hòa nhập tốt vào xã hội phương Tây đã được chiếu lên chính những đứa trẻ Hàn Quốc. Trong mắt một số cơ quan và gia đình nhận nuôi, trẻ Hàn Quốc trở thành nhóm “an toàn”: có hồ sơ tương đối rõ, sức khỏe được kiểm tra, quy trình xuất cảnh ổn định và ít nguy cơ tranh chấp từ cha mẹ ruột. Chính từ đây, ranh giới giữa “cứu giúp trẻ em” và “đáp ứng nhu cầu của người lớn” trở nên mờ nhạt. Khi trẻ em bị đánh giá qua độ tuổi, giới tính, ngoại hình, tình trạng sức khỏe, hồ sơ và khả năng thích nghi, nhận con nuôi không còn thuần túy là hoạt động bảo vệ trẻ em. Nó bắt đầu mang dáng dấp của một thị trường. Điều đau đớn là trong thị trường đó, một số đứa trẻ bị tước đi những thứ căn bản nhất: tên thật, ngày sinh thật, thông tin cha mẹ ruột, ngôn ngữ mẹ đẻ và quyền được biết vì sao mình bị đưa đi. Sự hỗn loạn trong hệ thống nhận con nuôi  Khi trẻ em bị đặt vào logic của quy trình và thị trường, sai lệch hồ sơ không còn là lỗi hành chính nhỏ. Nó có thể trở thành vết nứt đi theo một con người suốt đời. Một trong những ví dụ tiêu biểu là câu chuyện của đạo diễn tài liệu người Mỹ gốc Hàn Deann Borshay Liem, theo Yonhap. Bà sinh ra với tên Kang Ok-jin, nhưng được đưa sang Mỹ năm 1966 dưới cái tên Cha Jung Hee. Khi đó, một gia đình Mỹ đã hoàn tất thủ tục để nhận nuôi một bé gái tên Cha Jung Hee tại một cô nhi viện ở Jeonju. Nhưng chỉ vài ngày trước khi cha mẹ nuôi đến Hàn Quốc, cha ruột của Cha Jung Hee xuất hiện và đưa con gái về nhà. Trước tình huống khó xử, cô nhi viện đã chọn một bé gái khác có độ tuổi và ngoại hình tương tự, tên thật là Kang Ok-jin, rồi đưa em sang Mỹ dưới danh tính Cha Jung Hee. Trên hộ chiếu và giấy tờ xuất cảnh, đứa trẻ ấy trở thành Cha Jung Hee. Khi sang Mỹ, bà có tên mới là Deann Borshay Liem, nhưng trong nhiều giấy tờ pháp lý, dấu vết của cái tên Cha Jung Hee vẫn tiếp tục tồn tại. Với Liem, vấn đề không chỉ là bị đổi tên. Đó là cảm giác sống trong thân phận của một người khác. Bà từng nói mình như đang đi trong đôi giày của Cha Jung Hee, sống một cuộc đời đáng lẽ thuộc về người khác. Hành trình đi tìm “Cha Jung Hee thật” sau này trở thành nội dung bộ phim tài liệu In the Matter of Cha Jung Hee, được PBS phát sóng tại Mỹ. Bộ phim không chỉ kể về một cuộc tìm kiếm cá nhân, mà còn đặt câu hỏi lớn hơn: bao nhiêu đứa trẻ Hàn Quốc đã bị đổi tên, đổi tuổi, đổi hồ sơ để phù hợp với quá trình nhận con nuôi? Năm 2025, Ủy ban Sự thật và Hòa giải Hàn Quốc kết luận rằng trong nhiều vụ nhận con nuôi quốc tế từ năm 1964 đến 1999, đã có các vi phạm nhân quyền như ghi trẻ còn cha mẹ thành trẻ mồ côi, làm giả tài liệu và thậm chí thay trẻ khác trong trường h

  7. 29 Jul

    Bỉ chuẩn bị và diễn tập đối phó với những cuộc khủng hoảng

    Khác với triết lý “chiến tranh nhân dân”, nơi mỗi người dân là một người lính và mọi người đều được tuyên truyền sẵn sàng chiến đấu bảo vệ Tổ quốc, nước Bỉ nói riêng và Âu châu nói chung hình như đã quên đi mối đe dọa của chiến tranh, nhất là sau khi chiến tranh lạnh chấm dứt với sự sụp đổ của bức tường Berlin và do vậy quên cả việc thao dượt những kỹ năng căn bản cho người dân của mình để đối phó với những cuộc khủng hoảng . Khi cuộc chiến giữa Ukraina và Nga ngày càng có nguy cơ mở rộng và kéo dài, cộng thêm việc Hoa Kỳ rút lại hỗ trợ quốc phòng cho châu Âu từ đầu năm nay, các nước Tây Âu mới nhận ra những thiếu sót cho sự chuẩn bị và những bất cập khi phải nhanh chóng lấp vào lỗ hổng của Mỹ. Vậy Bỉ đã có những chuẩn bị như thế nào để đối phó với những tình huống khẩn cấp ?  Từ cấp vĩ mô Vương quốc Bỉ là một nước nhỏ nằm giữa Đức và Pháp, giáp với Hà Lan. Là thành viên của NATO, Bỉ đã phải tăng ngân sách quốc phòng theo yêu cầu, cũng như có chính sách gia tăng và cải tổ lực lượng quân đội. Bỉ không có chế độ nghĩa vụ quân sự bắt buộc, nên quân đội phải có những đợt quảng bá tuyển quân phục vụ tự nguyện nhằm đáp ứng cho những đòi hỏi ngày càng cao của quân đội. Về mặt vật chất, ngân sách quân sự của Bỉ trong năm nay được ưu tiên giành để mua các chiến đấu cơ F35 từ Hoa Kỳ. Việc mua các máy bay này không chỉ tiêu tốn nhiều tiền mà còn đòi hỏi phải có cả đội ngũ từ phi công cho đến các nhân viên bảo trì và chuyên viên về vũ khí. Cho đến phần của mỗi công dân Do nguy cơ chiến tranh có thể lan rộng bất cứ lúc nào và bất cứ nơi nào trên nước Bỉ, người dân được khuyến khích tự đối phó trong tình trạng khủng hoảng mà không trông chờ vào các cơ quan khẩn cấp của chính phủ. Dĩ nhiên là không có những khóa tập dượt trong các khu phố hay những khẩu hiệu, loa phóng thanh tuyên truyền ra rả để người dân nghi nhớ, mà thay vào đó là những clip video ngắn, vui nhộn được tung ra trên các phương tiện truyền thông và mạng xã hội. Chương trình này được chính cựu ngoại trưởng Bỉ Hadja Lahbib điều hành ở cấp độ châu Âu. Không biết chương trình này có giáo dục người dân ý thức được việc mình phải làm và chuẩn bị trong tình huống cụ thể ? “Bộ dụng cụ căn bản” hay “Bộ dụng cụ sinh tồn” ? Từ mùa xuân năm nay, hệ thống siêu thị Colruyt cho ra mắt bộ dụng cụ căn bản giá 29,99 euro, với lời hứa đơn giản là bạn có thể tự túc trong vòng 24 giờ. Bộ dụng cụ căn bản này gồm một món ăn sáng, món hầm kiểu kebab, mỳ Ý hương vị BBQ, ba thanh năng lượng, một gói bột pha nước uống, ba gói cà phê hòa tan, sáu miếng kẹo cao su, khăn giấy, một cái thìa và một dụng cụ nấu ăn không cần lửa. Theo siêu thị, đây là phản hồi trước yêu cầu từ chính quyền về khả năng “tự cung tự cấp trong vài ngày” trong trường hợp xảy ra khủng hoảng lớn, như mất điện, mất khí đốt, thậm chí là lũ lụt. Điều này đã xảy ra hồi mùa đông năm nay, khi cả thành phố Mons mất điện gần 2 tuần và trận lụt lịch sử gây ra nhiều thiệt hại cho vùng Wallonie mùa hè năm 2021. Tuy chưa được phổ biến rộng rãi, « bộ dụng cụ căn bản » này đã có hai luồng ý kiến. Theo thăm dò, nhiều người, rút kinh nghiệm sau dịch Covid-19, đã thường xuyên tích trữ nước uống, mỳ Ý và giấy vệ sinh trong nhà. Những người ủng hộ thì cho rằng túi đồ khẩn cấp này tiện lợi để xoay sở trong 24 giờ trong khi chờ tiếp cứu. Những người chống thì cho rằng túi đồ này chỉ toàn đồ ăn trong khi nhu cầu trong vòng 24 giờ thì đa dạng hơn ! Từ năm 2025, Trung tâm Khủng hoảng Quốc gia của Bỉ đã đề xuất một danh sách những thứ cần thiết theo tiêu chuẩn của Liên Hiệp Châu Âu, để mỗi người có thể tự chuẩn bị cho riêng mình và có thể tự xử lý trong vòng 72 giờ khi có khủng hoảng xảy ra.  Bộ sơ cứu bao gồm băng gạc, kéo, thuốc sát trùng, thuốc giảm đau, v.v. ; Một chiếc radio chạy bằng pin (kèm pin dự phòng) để được thông báo về các chỉ thị từ chính quyền và diễn biến tình hình mà không cần điện ; Đèn pin hoặc đèn chiếu sáng có pin dự phòng hoặc, nếu có thể, loại có tay quay, nến, bật lửa, diêm ; Một chiếc dao đa năng kiểu Thụy Sĩ để có một vài công cụ cơ bản. Điện thoại di động kèm bộ sạc và/hoặc pin dự phòng ; Kính mắt thường dùng và một cặp kính dự phòng ; Tiền mặt để tự chi trả trong trường hợp máy ATM ngừng hoạt động ; Nước đóng chai (khoảng 6 lít/người), thực phẩm không dễ hỏng, không cần nấu chín (thanh ngũ cốc, đồ hộp, thực phẩm sấy khô, v.v.) ; Bản sao các giấy tờ quan trọng (thẻ căn cước, hợp đồng bảo hiểm, đơn thuốc, v.v.). Quần áo ấm và chăn mền (ví dụ: chăn mền sinh tồn) ; Trò chơi giúp bạn giải trí và quên đi những lo lắng ; Danh sách kiểm tra đồ dùng cá nhân trong trường hợp sơ tán. Sau khi đã chuẩn bị xong bộ dụng cụ sinh tồn, bạn nên đặt nó ở nơi dễ tiếp cận. Điều quan trọng nữa là kiểm tra nội dung bộ dụng cụ ít nhất một lần mỗi năm, chủ yếu để kiểm tra hạn sử dụng của thuốc và thực phẩm, và thay pin. Như vậy nhìn vào danh sách khuyến cáo của Trung tâm giải quyết khủng hoảng ta có thể đặt câu hỏi: Đây là những dụng cụ giúp ta “sống sót” hay là những vật dụng căn bản cần phải có trong trường hợp khẩn cấp ? Vì có những thứ ta cần mà người khác lại không. Chẳng hạn, trò chơi giải trí cần cho trẻ nhỏ ngồi yên nhưng không cần cho người lớn. Hoặc máy thu thanh radio có lẽ trong tương lai gần cũng không còn hiện diện vì các đài phát thanh theo truyền thống đang lần lượt bị đóng cửa. Mà thay vào đó, chiếc điện thoại thông minh tích hợp tất cả mọi chức năng liên lạc. Và với một nước sản xuất bia, thì có lẽ đem theo một ít bia cũng là điều hợp lý vì như Bộ trưởng quốc phòng Bỉ đã kêu gọi người dân uống bia giải khát trong những ngày nắng nóng của mùa hè.  Luyện tập tại các trung tâm y tế Ngày nay, việc luyện tập phòng cháy tại các cao ốc, những nơi tập trung đông người đã trở nên thường xuyên. Có lẽ ai cũng quen với việc vào ngày giờ ấn định trong tháng, khi nghe tiếng còi báo cháy, mọi người tự động rời chỗ làm đi thang bộ xuống tập trung tại một địa điểm nào đó. Điều này tạo thói quen phản xạ khi xảy ra hỏa hoạn mà không dẫn đến hỗn loạn mất trật tự khi sơ tán.  Khi xảy ra các khủng hoảng như khủng bố, hỏa hoạn, chiến tranh, v.v… các trung tâm y tế là những nơi đầu tiên đón nhận hệ quả. Số lượng người nhập viện tăng cao đột biến đòi hỏi sự đáp ứng kịp thời. Do đó, việc luyện tập thường xuyên của các đội ngũ nhân viên y tế nhằm đạt hiệu quả trong việc phối hợp nhịp nhàng giữa các cá nhân và các khoa chuyên môn và ngay cả giữa các cơ sở điều trị. Chẳng hạn, tại tỉnh Liège, có ba trung tâm y tế chính là CHU (Bệnh viện Đại học), Citadelle (Bệnh viện của Vùng) và CHC (Bệnh viện công giáo) có đủ các khoa chuyên môn. Bên cạnh đó là các bệnh viện vệ tinh của các trung tâm này nơi tiếp nhận các bệnh nhân và chuyển tiếp lên các trung tâm hay tiếp nhận trở lại những bệnh nhân sau khi được can thiệp tại các trung tâm và được chăm sóc phục hồi. Nhưng trong trường hợp khủng hoảng xảy ra, khi một lượng lớn bệnh nhân được nhập viện, chắc chắn phải có sự phối hợp hài hòa giữa các khoa để không có sự chồng chéo hay dẫm chân lên nhau. Chẳng hạn như ban tuyên úy của Bệnh viện CHC Mont Légia nơi chúng tôi làm việc. Ban tuyên úy là những người lo chăm sóc các bệnh nhân về mặt tinh thần và tôn giáo. Như vậy, chúng tôi sẽ phải phối hợp với các bác sỹ tâm lý để chăm sóc cho những bệnh nhân và người nhà bệnh nhân. Chúng tôi đã có những buổi huấn luyện, trong đó khi xảy ra chiến tranh hay bệnh viện phải đón nhận một lượng lớn bệnh nhân một cách bất thường. Vào ngày huấn luyện, nếu có mặt ở bệnh viện, chúng tôi sẽ đi thang bộ lên lầu 5 nơi có căng-tin của bệnh viện và không gian lớn đồng thời cũng tách biệt để

  8. 22 Jul

    Smartphone: Hàn Quốc thay đổi cách bảo vệ trẻ em trong thời đại công nghệ số

    Trong bối cảnh nhiều quốc gia đang siết chặt việc trẻ vị thành niên sử dụng mạng xã hội và thiết bị số, tại Hàn Quốc, vấn đề quản lý điện thoại thông minh của trẻ em cũng đang trở thành một chủ đề xã hội được quan tâm mạnh mẽ. Một khảo sát gần đây cho thấy phần lớn phụ huynh Hàn Quốc không còn xem smartphone đơn thuần là công cụ tiện lợi, mà là thiết bị cần được kiểm soát chặt chẽ trong quá trình nuôi dạy trẻ. Theo kết quả khảo sát do nghị sĩ Kim Young-ho, chủ tịch Ủy ban Giáo dục Quốc Hội Hàn Quốc, thực hiện với hơn 52.000 phụ huynh có con đang học tiểu học, trung học cơ sở và trung học phổ thông tại Seoul, Incheon và tỉnh Gyeongnam, có tới 98,1% người tham gia cho rằng “cần có mức hạn chế nhất định đối với việc sử dụng điện thoại thông minh của trẻ vị thành niên”. Những lo ngại của phụ huynh tập trung vào nhiều khía cạnh. Có 97,5% cho rằng smartphone làm tăng nguy cơ trẻ tiếp xúc với nội dung độc hại hoặc thông tin không phù hợp; 96% nhận định thiết bị này có thể cản trở sự tập trung trong học tập; 93,9% cho rằng trẻ khó tự kiểm soát thời gian sử dụng; và 90,4% cho biết việc dùng điện thoại cũng có thể trở thành nguyên nhân gây mâu thuẫn trong gia đình. Nghịch lý smartphone của các gia đình Điều đáng chú ý là dù nhận thức rõ các nguy cơ, nhiều phụ huynh vẫn cho con tiếp xúc với điện thoại từ rất sớm. Theo khảo sát năm 2023 của Quỹ Báo chí Hàn Quốc, 29,9% trẻ em Hàn Quốc đã sử dụng smartphone lần đầu trước 24 tháng tuổi, còn tỷ lệ tiếp xúc trước 5 tuổi lên tới 71,5%. Về thời điểm sở hữu điện thoại cá nhân, 15,9% trẻ có điện thoại trước khi vào tiểu học và 44,3% có điện thoại khi học lớp 1 hoặc lớp 2. Thực tế này phản ánh một nghịch lý trong các gia đình hiện đại: cha mẹ lo ngại tác hại của smartphone nhưng vẫn khó từ chối thiết bị này vì nhu cầu liên lạc, an toàn, học tập và sinh hoạt hằng ngày của con. Nghị sĩ Kim Young-ho cho rằng kết quả khảo sát cho thấy rõ tình thế khó xử của phụ huynh. Họ hiểu điện thoại thông minh có thể gây rủi ro, nhưng vẫn buộc phải trao cho con vì lý do an toàn và đời sống học đường. Từ thực tế đó, ông Kim đề xuất phổ biến một thiết bị thay thế gọi là “Edu Ansim Phone” – điện thoại an toàn dành cho học sinh. Thiết bị này sẽ duy trì các chức năng cần thiết như nghe gọi, định vị, ứng dụng an toàn, đồng thời hạn chế các tính năng có nguy cơ gây nghiện hoặc tiềm ẩn rủi ro cao như video ngắn, mạng xã hội, trò chơi trực tuyến và trò chuyện ẩn danh. Theo ông Kim, việc phát triển thiết bị thay thế không chỉ nhằm đáp ứng nhu cầu liên lạc giữa cha mẹ và con cái, mà còn tạo ra một lựa chọn trung gian giữa “cấm hoàn toàn” và “cho trẻ dùng smartphone đầy đủ chức năng”. Đây có thể là hướng đi giúp phụ huynh bảo vệ con khỏi nội dung độc hại, giảm nguy cơ lệ thuộc vào thiết bị số, nhưng vẫn bảo đảm yếu tố an toàn trong sinh hoạt hằng ngày. Trẻ nhỏ cần được bảo vệ đặc biệt trước màn hình  Các chuyên gia cho rằng việc quản lý smartphone không thể chỉ dừng ở việc thay đổi thiết bị, mà cần bắt đầu từ nhận thức đúng về quá trình phát triển của trẻ. Theo Ủy ban Phát triển thuộc Hội Nhi khoa và Thanh thiếu niên Hàn Quốc, việc cho trẻ tiếp xúc với điện thoại thông minh, máy tính bảng hoặc TV từ quá sớm là xu hướng đáng lo ngại. Giai đoạn đầu đời là thời kỳ trẻ cần tương tác trực tiếp với con người, đồ vật thật và môi trường xung quanh, thay vì tiếp nhận các kích thích một chiều từ màn hình. Trẻ nhỏ dễ bị smartphone thu hút bởi hình ảnh chuyển động nhanh, màu sắc rực rỡ, âm thanh liên tục và các nhân vật bắt mắt. Những kích thích mạnh này khiến trẻ nhanh chóng bị cuốn vào màn hình, đồng thời dần cảm thấy các hoạt động thông thường như đọc sách, chơi đồ chơi, vận động, quan sát thiên nhiên hoặc trò chuyện với cha mẹ trở nên kém hấp dẫn hơn. Khi não bộ quen với nhịp kích thích nhanh và mạnh, trẻ cũng có thể khó thích nghi với các hoạt động cần sự kiên nhẫn, tập trung và suy nghĩ chậm. Vấn đề lớn nhất là màn hình thường chỉ tạo ra trải nghiệm một chiều. Trong khi não bộ của trẻ cần được phát triển thông qua các tương tác đa giác quan như nhìn, nghe, chạm, vận động, phản hồi cảm xúc và giao tiếp qua lại, smartphone lại giới hạn trải nghiệm trong hình ảnh và âm thanh trên mặt phẳng hai chiều. Điều này có thể ảnh hưởng đến khả năng tự kiểm soát cảm xúc, hành vi, sự tập trung, trí tưởng tượng, ngôn ngữ và kỹ năng xã hội của trẻ. Đặc biệt, trẻ nhỏ vốn chưa hoàn thiện năng lực chờ đợi, kiềm chế ham muốn hay chuyển từ hoạt động này sang hoạt động khác. Nếu thường xuyên tiếp xúc với thiết bị số, trẻ có thể dễ cáu gắt, phản ứng mạnh khi bị yêu cầu dừng xem, khó tập trung vào các hoạt động chậm hơn và phụ thuộc vào màn hình để giải tỏa cảm xúc. Thiết bị di động cũng có thể làm giảm chất lượng gắn bó giữa cha mẹ và con cái. Trẻ nhỏ, nhất là trẻ dưới 3 tuổi, cần được cha mẹ nhìn, nghe, ôm ấp, đáp lại cảm xúc và cùng tham gia các hoạt động thường ngày. Nếu thời gian này bị thay thế bằng màn hình, hoặc nếu cha mẹ thường xuyên dùng điện thoại khi ở bên con, sự tương tác trực tiếp trong gia đình sẽ bị suy giảm. Trong khi đó, mối gắn bó an toàn với cha mẹ là nền tảng quan trọng giúp trẻ ổn định cảm xúc, tự tin khám phá thế giới và phát triển quan hệ xã hội sau này. Tác động tới ngôn ngữ cũng là điểm cần lưu ý. Trẻ học nói hiệu quả nhất thông qua giao tiếp hai chiều: cha mẹ nói chuyện, trẻ phản ứng, người lớn đáp lại và tiếp tục mở rộng cuộc trò chuyện. Smartphone hoặc TV không thể thay thế quá trình này. Vì vậy, hạn chế smartphone ở trẻ nhỏ không chỉ là giảm thời gian giải trí, mà còn là biện pháp bảo vệ sự phát triển não bộ, cảm xúc, ngôn ngữ, khả năng tập trung và kỹ năng xã hội. Trong những năm đầu đời, điều trẻ cần nhất không phải là làm quen sớm với màn hình, mà là được chơi, được chạm, được vận động, được trò chuyện và được kết nối trực tiếp với cha mẹ cũng như thế giới thật xung quanh. Vì sao cần can thiệp sớm? Các chuyên gia Hàn Quốc đặc biệt nhấn mạnh lợi ích của can thiệp sớm. Nếu cha mẹ chỉ bắt đầu hạn chế khi trẻ đã hình thành thói quen phụ thuộc vào điện thoại, quá trình điều chỉnh sẽ khó khăn hơn và dễ dẫn đến xung đột trong gia đình. Ngược lại, nếu quy tắc được đặt ra từ khi trẻ còn nhỏ, trẻ sẽ dễ tiếp nhận hơn, ít phản kháng hơn và có cơ hội hình thành thói quen sinh hoạt lành mạnh trước khi bước vào độ tuổi đi học. Can thiệp sớm không chỉ nhằm giảm thời gian nhìn màn hình, mà còn bảo vệ những giai đoạn phát triển quan trọng của não bộ, cảm xúc và quan hệ xã hội. Khi trẻ có thêm thời gian đọc truyện tranh, vận động ngoài trời, chơi trò chơi cảm giác, khám phá thiên nhiên, học nhạc, vẽ tranh hoặc chơi thể thao, trẻ sẽ có nhiều nguồn kích thích lành mạnh hơn, thay vì chỉ tìm kiếm sự thỏa mãn từ thiết bị số. Nói cách khác, quản lý smartphone ở trẻ nhỏ không nên được hiểu đơn giản là cấm đoán, mà là một hình thức can thiệp sớm nhằm giúp trẻ phát triển khả năng tập trung, tự điều chỉnh cảm xúc, giao tiếp xã hội và xây dựng thói quen sống cân bằng. Không chỉ cấm, mà phải giúp trẻ học cách tự kiểm soát Ở góc độ sức khỏe tâm thần trẻ em, Giáo sư Lee Young-sik, Khoa Tâm thần học, Bệnh viện Đại học Chung-Ang, cho rằng không thể đánh giá tình trạng “nghiện smartphone” chỉ bằng số giờ sử dụng mỗi ngày. Điều quan trọng hơn là trẻ có còn khả năng tự kiểm soát ham muốn sử dụng thiết bị hay không. Vì vậy, giải pháp không nên chỉ là cấm tuyệt đối, mà cần giúp trẻ hình thành năng lực tự điều chỉnh và tự kiềm chế. Theo Giáo sư Lee, bước đầu tiên trong quản lý smartphone là khôi phục và củng cố quan hệ gia đình. Khi cha mẹ và con cái có đủ thời gian giao tiếp tích cực, trẻ cảm nhận được sự quan tâm thay vì chỉ bị ki

Ratings & Reviews

4
out of 5
3 Ratings

About

Những vấn đề xã hội Việt Nam và trên thế giới qua lăng kính RFI

More From RFI Tiếng Việt

You Might Also Like